Vợ có quyền nuôi con sau ly hôn khi chồng ngoại tình?

Quyền nuôi con sau khi ly hôn

Vợ có quyền nuôi con sau ly hôn khi chồng ngoại tình?

Câu hỏi pháp luật: Cho em hỏi em và chồng em ly hôn thuận tình, anh chồng làm đơn em kêu anh đưa em ký nhưng anh ta tự nộp đơn phương ly hôn. Hai vợ chồng em có 2 con, bé gái 33 tháng và bé trai 13 tháng. Toà thụ lý ngày 19/6/2011. Chồng em quan hệ với xã hội đen, cặp bồ với người con gái khác. Anh là Công an nhưng lấy tiền Nhà nước đi ăn chơi và hiện tại bị đình chỉ công tác. Trong đơn anh giành quyền nuôi 2 con và em cũng vậy.

Cho em hỏi 3 tháng nữa bé gái em tròn 3 tuổi rồi, Em có còn khả năng nuôi được 2 con không? Em làm Thư ký văn phòng 8 triệu/tháng, có nhà mẹ ruột. Vợ chồng em không có tài sản chung. Cho em hỏi phần thắng của em cao không? Chuyện chồng em có mối quan hệ bên ngoài ai cũng biết nhưng em không có bằng chứng. Vậy em phải chứng minh những điều kiện gì trước tòa để yêu cầu quyền lợi của mình?

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty chúng tôi, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

– Thứ nhất, về quyền nuôi con sau ly hôn:

Tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Xem thêm:  Học ngay 3 cách làm đẹp để ‘trẻ mãi không già’ sau tuổi 25

Theo quy định trên, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, trường hợp không thỏa thuận được thì khi có yêu cầu Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định trên để giải quyết.

– Thứ hai, về các chứng cứ, chứng minh việc chồng bạn chung sống như vợ chồng với người khác:

Tại Điểm d Khoản 2 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP có quy định như sau:

d. Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
  • Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
  • Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
  • Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Theo quy định trên, khi nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và thuộc 1 trong các trường hợp trên.

Việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn. Cụ thể:

“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;…”

Thẩm quyền xử phạt trong trường hợp này sẽ do Công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã lập biên bản vi phạm hành chính (Điểm b Khoản 2 Điều 65 Nghị định 110/2013/NĐ-CP).

Quyền lợi của phụ nữ khi ly hôn bạn nên biết

Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, cùng lúc kéo theo những biến đổi trong văn hóa, đạo đức xã hội, làm giá trị đạo đức truyền thống trong mỗi gia đình cũng đang dần bị phá vỡ, tình trạng ly thân, ly hôn gần đây có xu hướng năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt trong các gia đình trẻ.

Xem thêm:  Giải bài 1, 2, 3, 4, 5 trang 73 sách giáo khoa toán 6 tập 2 - Bài trang

Nhận thức được những thiệt thòi của phụ nữ khi ly hôn nên luật hôn nhân và gia đình 2014 đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ khi ly hôn. Ly hôn là vấn đề không ai muốn nó xảy ra với gia đình mình, nhưng khi tình trạng hôn nhân không thể tiếp tục thì chị em hãy nhớ những quy định này để tránh thiệt thòi cho mình.

Thứ nhất: Quyền ly hôn khi đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo khoản 3 điều 51 luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”

Theo như quy định trên thì người chồng không được quyền yêu cầu ly hôn vợ mình khi vợ mình đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nhưng ngược lại thì người vợ trong quá trình mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi vẫn có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi có căn cứ theo quy định tại điều 56 luật hôn nhân và gia đình.

Thứ 2: Quyền nuôi con

Theo quy định tại khoản 3 điều 81 luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

“Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Thứ 3: Chia tài sản.

Theo điều 59 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nguyên tắc giải quyết tài sản khi ly hôn như sau:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

Xem thêm:  Cách đắp mặt nạ thạch

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.”

Thứ 4: quyền lưu cư.

“Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác..”

(quy định tại điều 63 luật hôn nhân và gia định 2014)

Thứ 5: Nghĩa vụ cấp dưỡng

Theo quy định tại điều 115 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình”.

Bạn có thể tải về tập tin thích hợp cho bạn tại các liên kết dưới đây.

Back to top button