Văn mẫu lớp 9: Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà

Truyện ngắn Chiếc lược ngà mang tới cho người đọc câu chuyện cảm động về tình cha con sâu nặng, thiêng liêng. Với 8 bài Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng sẽ giúp các em hiểu sâu sắc hơn.

Tình cha con

Sau khi đọc xong Chiếc lược ngà, người đọc không chỉ cảm nhận được tình cảm cha con sâu nặng, mà còn thấm thía những mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra, khiến gia đình li tán. Chi tiết mời các em cùng theo dõi bài viết để ngày càng học tốt môn Văn 9.

Đề bài: Phân tích tình cảm cha con trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.

Dàn ý phân tích tình cảm cha con trong truyện Chiếc lược ngà

Dàn ý 1

I. Mở bài

– Giới thiệu tác giả: Nguyễn Quang Sáng: Nguyễn Quang Sáng là nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam.

– Giới thiệu tác phẩm: Chiếc lược ngà

  • Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” ra đời năm 1966, những năm tháng gian khổ, đau thương nhất của đồng bào Nam Bộ trong 30 năm chiến tranh.
  • Truyện thể hiện cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.

– Giới thiệu khái quát về tình cảm cha con của ông Sáu

II. Thân bài

1. Tóm tắt truyện

  • Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” xoay quanh tình huống gặp mặt của bé Thu và ông Sáu.
  • Khi ông Sáu đi kháng chiến, bé Thu chưa đầy một tuổi. Tám năm trời cha con em chỉ biết nhau thông qua 2 tấm ảnh. Lần nghỉ phép ba ngày của ông Sáu là cơ hội hiếm hoi để ba con Thu gặp gỡ, bày tỏ tình phụ tử. Nhưng bé Thu lại không chịu nhận cha vì vết thẹo trên má làm ông Sáu không giống như trong tấm ảnh. Đến lúc Thu nhận ra thì cũng là giây phút ba em lên đường tiếp tục đi chiến đấu. Và lần gặp mặt ấy là lần đầu tiên, duy nhất, cuối cùng của cha con Thu.

2. Phân tích

* Tình cảm của ông Sáu đối với con gái nhỏ được biểu hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà.

a. Trên đường về thăm nhà

  • Trong lòng ông bồi hồi xúc động: cái tình người cha cứ nôn nao trong lòng ông. Người cha được về thăm nhà sau bao nhiêu năm ở chiến khu.
  • Khao khát đốt lòng ông là được gặp con, là được nghe con gọi tiếng ba, để được sống trong tình cảm cha con, mà lâu nay ông chưa từng được sống, bấy lâu ông mong đợi.
  • Khi trông thấy đứa trẻ chơi trước sân nhà, ông đã cất tiếng gọi con thân thương trìu mến bằng tất cả tấm lòng mình: Thu con! Ba đây con! Ba đây con”.

=> Tiếng gọi thổn thức của người cha cất lên từ sâu thẳm trái tim của người lính sau bao năm xa cách làm xao động tâm hồn người đọc. Nhưng trái với niềm mong đợi của ông, những tưởng bé Thu sẽ ào tới, ôm lấy thoả những tháng ngày xa cách. Nhưng không , ông hẫng hụt bất ngờ khi thấy: “Bé tròn mắt ngơ ngác nhìn rồi sợ hãi bỏ chạy” khiến ông Sáu sững sờ, thất vọng, rơi vào tâm trạng hụt hẫng.

b. Những ngày ở bên con

– Trong ba ngày phép ngắn ngủi, ông luôn ở bên con không đi đâu xa, suốt ngày chỉ tìm cách an ủi vỗ về nó.

  • Ông tìm mọi cách để mong được nghe một tiếng ba” nhưng đều thất bại. Khi má bảo Thu kêu ba vô ăn cơm, dọa đánh để cô bé gọi ba một tiếng. Thu nói trống không: “Con kêu rồi người ta không nghe”. Hai từ “người ta” mà Thu kêu làm ông đau lòng, khổ tâm.
  • Trong bữa cơm, bằng lòng thương của người cha ông Sáu gắp cho con cái trứng cá to và vàng ươm, ông tưởng con sẽ đón nhận vậy mà nó bất thần hắt cái trứng cá ra khỏi chén. Nỗi đau khổ trong ba ngày nén chịu trào lên, ông giận quá đánh con đã làm mất tia hy vọng cuối cùng về tình phụ tử.

c. Trong những ngày ở khu căn cứ

  • Anh ân hận vì đã trót đánh con. Nhớ lời con dặn “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt.
  • Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước đầu tiên mà cũng là duy nhất.

=> Cho nên, nó cứ thôi thúc trong lòng. Kiếm cho con cây lược, trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng.

  • Trước lúc hy sinh, “dường như chi có tình cha con là không thể chết”, không còn đủ sức trăng trôi điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc đưa tay vào túi, móc cái lược đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cử nhìn bạn hồi lâu.

=> Nhưng đó là điều trăng trối không lời, nó rõ ràng và thiêng liêng hơn cả một lời di chúc. Bởi đó là sự ủy thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân: ước nguyện của tình phụ tử! Từ lúc ấy, cây lược bằng ngà đã trở thành kỷ vật, thành biểu tượng thiêng liêng của tình phụ tử. Những dòng cuối cùng của truyện khép lại trong nỗi buồn mênh mông mà chứa chan ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

III. Kết bài

  • Khẳng định giá trị của tác phẩm.
  • Tình cảm của em dành cho tác phẩm cũng như bài văn: Sau khi học xong truyện Chiếc lược ngà, em thấy tình cảm cha con nói riêng, tình cảm gia đình nói chung là tình cảm cao quý. Lớp trẻ chúng ta hôm nay được sống trong hòa bình không thể không nhớ đến sự hi sinh của những người như ông Sáu. Mọi người phải sống và làm việc sao cho xứng đáng với các tình cảm cao quý đó. Đây cũng là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn” cần kế thừa và gìn giữ, phát huy.

Dàn ý 2

I. Mở bài

  • Giới thiệu tác giả: Nguyễn Quang Sáng là nhà văn gắn liền với miền đất Nam Bộ, văn ông có giọng điệu tự nhiên, thân mật, dân dã, ngôn ngữ gần với khẩu ngữ, lời ăn tiếng nói của nhân dân Nam Bộ.
  • Truyện ngắn Chiếc lược ngà được sáng tác năm 1966 đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.

II. Thân bài

* Tình cảm cha con trong truyện ngắn này được thể hiện từ hai phía: tình cảm của con dành cho cha và tình cảm của cha dành cho con.

1. Tình cảm của bé Thu dành cho ông Sáu

– Khi chưa nhận ra ông Sáu với vết thẹo dài trên mặt, bé Thu đã có thái độ xa lánh, hành động cự tuyệt và những lời nói cử chỉ khiến ông Sáu phải đau lòng: (hét toáng lên khi nhìn thấy ba, toàn nói lời trống không, nhất định không chịu nhờ ông Sáu chắt nước cơm cho, hất cái trứng cá…).

=> Tất cả những hành động ấy đã thể hiện được cá tính mạnh mẽ và tình cảm yêu thương rạch ròi của cô bé.

– Khi nhận ra ông Sáu là cha mình, trong buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu phải lên đường, thái độ, hành động của bé Thu đột ngột thay đổi:

  • Nó bỗng kêu thét lên “ba” – tiếng kêu như xé tan sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người.
  • Cô bé chạy xô tới, dang hai tay ôm lấy cổ ba, hôn ba cùng khắp (hôn tóc, hôn cổ, hôn vai, hôn vết thẹo), dang cả hai chân để câu chặt lấy ba, đôi vai nhỏ bé run run. Tình yêu thương ba được bộc lộ một cách mãnh liệt, dâng trào, không thể kìm nén nổi. Em yêu ba, nhớ ba, mong ba. Nay tình cảm ấy mới có dịp vỡ òa ra nên vô cùng mạnh mẽ, hối hả, cuống quýt.

2. Tình cảm của ông Sáu dành cho con

  • Khi bị con từ chối, ông cảm thấy vô cùng hụt hẫng, đau khổ, cáu giận, không thể kìm chế nổi. Ông đã đánh con vì nó không chịu nhận mình. Đây là biểu hiện đau khổ tột cùng của người cha khi bị con khước từ.
  • Về đơn vị, ông day dứt, ân hận vì trong lúc nóng giận đã đánh con. Chi tiết này thể hiện tình yêu con tha thiết.
  • Khi kiếm được khúc ngà voi, ông vô cùng vui mừng sung sướng, dành hết tâm trí, công sức vào việc làm cây lược. Chiếc lược đã trở thành vật báu thiêng liêng đối với ông Sáu. Nó làm dịu đi những ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến của ông với đứa con xa cách nơi quê nhà.
  • Trước lúc hi sinh, lời trăng trối sau cùng, ông muốn nhờ bạn trao tận tay chiếc lược ngà cho con.

III. Kết bài

  • Truyện ngắn Chiếc lược ngà đã khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc. Tình cảm ấy càng trở nên cao đẹp, thiêng liêng hơn trong những cảnh ngộ éo le của cuộc chiến tranh tàn khốc.

Phân tích tình cha con trong Chiếc lược ngà

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn gốc An Giang, những tác phẩm của ông gắn liền với vùng đất và con người miền Tây Nam Bộ. “Chiếc lược ngà” là một tác phẩm hay và tiêu biểu của ông. Bằng việc sáng tạo tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lý cùng nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật, truyện đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp của cha con ông Sáu trong cảnh ngộ éo le của cuộc chiến tranh.

Trong chiến tranh, sự mất mát, thiệt thòi, hy sinh về tình cảm gia đình là điều tất nhiên. Ông Sáu xa nhà đi theo tiếng gọi của kháng chiến khi con gái đầu lòng mới tròn một tuổi. Ông trở về thăm nhà sau tám năm xa cách gia đình, nhưng trớ trêu thay, bé Thu không nhận ra ông là ba. Khi vừa gặp gỡ, Thu ngờ vực, lảng tránh, thậm chí còn bỏ chạy vì sợ hãi bởi “vết thẹo bên má phải cứ mỗi khi anh xúc động lại đỏ ửng lên, giật giật trông rất dễ sợ”.

Trong những ngày ông ở nhà, Thu kiên quyết không nhận ông là ba mặc dù ông đã tìm mọi cách để gắn kết tình cha con với cô bé. Sự cương ngạnh của cô bé không đáng trách vì em còn quá nhỏ để có thể hiểu được những khó khăn, mất mát và xa cách mà chiến tranh mang lại và em cũng chưa thể sẵn sàng để đón nhận người ba sau một khoảng thời gian dài như thế.

Em không nhận ông Sáu là cha vì sau nhiều năm, chiến tranh đã khiến ông có vết thẹo dài trên má không giống bức hình chụp chung với má mà em biết. Điều đó chứng tỏ Thu có tình cảm dành cho ba nhưng chỉ là do em chưa sẵn sàng. Em chưa biết chắc đó là ba nên không thể biểu lộ tình cảm một cách tự nhiên được.

Buổi sáng sớm cuối cùng trước khi ông Sáu lên đường trở lại chiến khu, thái độ của Thu đột nhiên thay đổi. Trong đêm bỏ về nhà ngoại Thu đã được bà giải thích về vết sẹo trên má của ba. Bé hiểu ra, cảm thấy ân hận và hối tiếc vô cùng: “nghe bà kể, nó nằm im lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Lúc chia tay “vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của bé thật dễ thương”.

Khi ông Sáu ngậm ngùi nhìn con để chào từ biệt, “đôi mắt mênh mông của con bé xôn xao” tình cha con đã dồn nén bấy lâu nay chợt vùng lên mạnh mẽ, vô cùng hối hả, cuống quýt. Thu thét lên gọi ba “tiếng kêu của nó như tiếng xé”, “xé tan sự im lặng và xé cả ruột gan của mọi người, nghe thật xót xa”. Hành động của cô bé cũng thay đổi “nó nhảy thót lên, dang cả hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó hôn ba nó cùng khắp, hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”…

Tất cả những biểu hiện đó của bé Thu đều bắt nguồn từ tình cảm thương yêu và nhớ mong dành cho người ba mà nó hằng tôn kính, tôn thờ và không ai có thể thay thế được. Ở Thu sự ương bướng và mạnh mẽ nhưng vẫn có nét ngây thơ, hồn nhiên của con trẻ. Bằng tâm hồn tinh tế, một trái tim nhân hậu và chứa chan tình yêu thương đối với tình cảm gia đình, Nguyễn Quang Sáng dường như đã cảm nhận đến sâu sắc nhất những biểu hiện tình cảm của nhân vật để miêu tả một cách sinh động và tinh tế.

Tình cảm của ông Sáu đối với bé Thu được biểu hiện qua chuyến về thăm nhà sau tám năm xa cách. Khi xuồng còn chưa kịp cập bến, nhìn thấy con gái ông đã vội vàng “nhảy thót lên, khom người, hai tay đưa về phía trước, miệng lắp bắp: “ba đây con! ba đây con””. Ông cứ tưởng sẽ ào tới, ôm lấy cổ ba cho thỏa những ngày tháng xa rời. Nhưng không, ông hụt hẫng khi “bé tròn mắt ngơ ngác nhìn rồi sợ hãi bỏ chạy”.

Thời gian ở nhà không nhiều nên ông Sáu chỉ ở nhà tìm cách gần gũi, gắn kết với con, chỉ mong nghe một tiếng “ba” từ con gái mà không được. Có lúc giận quá ông đã không kiềm chế mà đánh con. Lúc chia tay, tình yêu mãnh liệt của bé Thu khiến ông “một tay ôm con, tay kia lấy khăn chấm nước mắt”.

Càng cảm động và đau đớn hơn khi biết rằng lần đầu tiên này cũng chính là lần cuối cùng anh được nghe tiếng gọi ba thân thương từ bé Thu, bởi vì sau đó, anh đã không thể trở về một lần nào nữa!. Trong những ngày ở chiến khu, anh ân hận vì những lần đã trót đánh con. Khi nhặt được một khúc ngà voi anh vui mừng như trẻ nhỏ “mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”.

Những ngày sau đó tất cả tình cảm yêu quý, nhớ thương con anh đều dồn vô việc làm cây lược. Anh “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng và tỉ mỉ”, anh còn khắc lên “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”… Những lúc nhớ con anh mang cây lược ra chải lên tóc mình cho cây lược thêm óng mượt.

Những lúc ấy anh tha thiết mong có một lần về phép thăm nhà để anh tự tay mình cầm cây lược chải lên mái tóc cho con… Nhưng chiến tranh tàn khốc đã cướp mất giấc mơ đó, khiến anh chẳng bao giờ có thể trở về bên con gái mình được nữa. Anh đã hy sinh trong một trận càn quét lớn của địch. Những lời trăn trối cuối cùng “dường như chỉ có tình cha con là không thể chết”, anh cầm cây lược trao cho anh Ba với niềm mong mỏi không còn có thể cất được thành lời.

Từ lúc ấy, cây lược bằng ngà đã trở thành một kỷ vật tình cha con, thành biểu tượng thiêng liêng của tình phụ tử. Những dòng cuối cùng của truyện khép lại trong nỗi buồn như cắt vào tim mà chứa chan ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Câu chuyện cảm động của cha con ông Sáu đã phản ánh giá trị hiện thực trong chiến tranh. Chiến tranh ác liệt và phi nghĩa đã cướp mất đi hạnh phúc gia đình của bao nhiêu cuộc đời. Tác giả đã xây dựng một tình huống truyện độc đáo và miêu tả tâm lý nhân vật rất thực và hợp lý, chỉ có trong chiến tranh và nhờ tình huống này mà tình phụ tử được khắc sâu tô đậm như một lẽ sống. Qua đó, Nguyễn Quang Sáng cũng bộc lộ thái độ căm ghét với chiến tranh. Và vì vậy, giá trị nhân đạo của tác phẩm càng nâng cao.

Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 1

Trong khói lửa chiến tranh, người ta cứ ngỡ tưởng rằng, trong các tác phẩm văn học thời kì đó, chỉ có bom mìn, lửa đạn, chỉ có đau thương và mất mát, chỉ có máu và nước mắt chan hòa cùng với nhau… nhưng có một tác phẩm viết về tình cha con thật nhẹ nhàng, sâu lặng, thấm thía và cảm động vẫn cứ lặng lẽ xuất hiện ngay giữa trận địa chiến đấu chống quân thù, đó là truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” là một trong các truyện ngắn thành công nhất trong sự nghiệp cầm bút của ông. Tác phẩm được sáng tác năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc đang diễn ra rất quyết liệt. Qua tác phẩm, người đọc thấy được tình cảm cha con thật đẹp, thiêng liêng, cao cả trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.

Sau tám năm ròng đi lính xa cách gia đình, anh Sáu được phép về thăm nhà, thăm con, trong lòng anh nôn nao, mong ngóng muốn được gặp con và ôm con vào lòng ngay tức khắc. Vì thế, không đợi thuyền cập bến, anh Sáu đã “nhón chân nhảy thót lên bờ, xô chiếc xuồng tạt ra” rồi “bước vội vàng với những bước dài”, “miệng kêu to tên con, vừa bước vừa khom người đưa tay đón chờ con”. “Anh không kìm nổi nỗi xúc động” khi gặp lại con, vết sẹo dài bên má lại đỏ ửng, giần giật trông dễ sợ. Giọng lắp bắp, run run: “Ba đây con!, Ba đây con!”. Nhưng trái lại với cảm xúc đó của anh, bé Thu sợ hãi, bỏ chạy, không nhận ra cha mình. “Anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”. Tâm trạng anh Sáu đau khổ tột cùng, anh mong ngóng được con chạy lại ôm mình nhưng đứa con bé bỏng, ngây thơ lại xa lánh, hoảng sợ khiến anh hụt hẫng, đau đớn và thất vọng.

Trong ba ngày nghỉ phép ở nhà, anh tìm mọi cách để được bé Thu gọi một tiếng “ba”. Nhưng dường như mọi sự cố gắng của anh đều thất bại, từ việc anh “giả vờ không nghe” lúc bé mời ăn cơm, cho đến việc “dồn nó vào thế bí” khi chắt nước cơm đều không có kết quả. Trong bữa ăn, anh gắp cái trứng cá vào chén của bé, bé đã hất cái trứng cá ra ngoài làm cơm văng tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh con, con bé bỏ sang nhà ngoại. Anh khao khát tình cảm của con bao nhiêu thì con bé lại hoàn toàn lạnh lùng trước mọi tình cảm vồ vập của cha bấy nhiêu. Anh càng muốn xích gần nó, nó lại càng lùi xa; anh càng chiều thương nó, nó lại càng lẩn tránh; anh càng mong được nghe tiếng ba thì nó lại càng không gọi. Anh kiên nhẫn, đợi chờ tình cảm của con “suốt mấy ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con”, “anh quay lại nhìn con vừa khẽ lắc đầu, vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được nên anh phải cười vậy thôi”.

Sáng hôm sau, khi chuẩn bị phải xa gia đình, tiếp tục tham gia chiến đấu, anh Sáu rất muốn được ôm con và hôn con nhưng lại sợ nó giãy lên lại bỏ chạy, nên “anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi ấy, bé Thu đứng vào một góc nhà, tựa cửa và nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Nhưng thái độ và hành động của bé khác hoàn toàn mọi khi: “nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu”, “đôi mắt mông mông của con bé bỗng xôn xao”, “tình cảm cha con như bỗng trỗi dậy trong người nó”, “nó kêu thét lên: “Ba…a…a…ba!”. Sự khao khát tình cảm cha bị kìm nén suốt mấy năm, nay bỗng bật lên xé tan cả sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, “nghe thật xót xa”. Thế rồi, nó vừa kêu, vừa chạy tới, nhanh như một con sóc, “nó chạy thót lên và dang hai tay ôm lấy cổ ba nó”. Sự xúc động ngẹn ngào đã khiến “làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên”. Nó hôn khắp người anh Sáu, “hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”. Anh Sáu “không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con”. Đó là giọt nước mắt của hạnh phúc, của tình thương yêu mà người cha dành cho con sau tám năm ròng xa cách.

Sợ cha đi mất, “chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân câu lấy ba nó và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Sau khi nghe ông Sáu nói: “Ba đi rồi ba về với con”, bé Thu thét lên: “không!”. Vừa khóc vừa không cho cha đi. Giọt nước mắt ấy là biểu hiện của tình cha con ấm áp, của sự hạnh phúc vỡ òa khi nhận ra cha sau tám năm xa cách, lại vừa xen lẫn cả sự ăn năn, hối hận vì không kịp nhận ra cha sớm hơn chút nữa…Chứng kiến cảnh ngộ ấy, có người đã không cầm được nước mắt, còn bác Ba thì cảm thấy như có bàn tay nắm lấy trái tim mình mà bóp thắt lại…

Qua thái độ và hành động của bé Thu trước và sau khi nhận ra ông Sáu là cha mình, người đọc thấy được đằng sau sự hồn nhiên, ngây thơ và cứng đầu, bướng bỉnh của bé là tình cảm cha con sâu nặng, bền chặt, thiêng liêng. Trước đó, bé không chịu nhận cha, bởi đơn giản là vì bé thấy người cha của hiện tại trước mắt khác với tấm hình chụp chung với má của bé quá. Vả lại Thu còn quá bé bỏng để có thể thấu hiểu được sự khắc nghiệt của cuộc sống, của chiến tranh và người lớn cũng chưa kịp giải thích cho bé hiểu nên bé không tin là người có vết sẹo trên mặt kia là ba của mình. Đồng thời, điều đó cũng chứng tỏ tình cảm sâu sắc của bé dành cho ba. Bé chỉ yêu, chỉ nhận ba khi biết chính xác đó là ba của bé mà thôi. Cho nên, những phản ứng sau này trước khi anh Sáu lên đường của bé Thu đã dâng đầy lên rồi vỡ òa ra thành tiếng khóc, tiếng nấc đến nghẹn ngào, chứng tỏ được tình cảm mà bé dành cho cha cũng mãnh liệt, cũng khát khao giống như anh Sáu dành cho bé Thu vậy.

Không dừng lại ở đó, tình cha con anh Sáu sâu nặng, bền chặt và thiêng liêng còn được thể hiện khi anh trở về đơn vị mặt trận. Anh day dứt, ân hận vì đã nóng giận đánh con. Và anh đã dồn tất cả tình thương, nỗi nhớ con bằng việc làm một cây lược ngà – lời hứa với con trước lúc chia tay. Vì thế, khi kiếm được khúc ngà voi, lòng anh “hớn hở như một đứa trẻ được quà”, rồi dành hết tâm trí, tình cảm vào làm một cây lược. “Anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Trên sống lưng của chiếc lược có khắc dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” mà ông gò lưng, khắc từng nét một. Chiếc lược ngà phần nào gỡ rối được tâm trạng của người cha. Chiếc lược trở thành vật quý giá mà ông dồn tất cả tình cảm yêu thương con của người cha sau tám năm ròng xa cách. Vì thế, mỗi khi nhớ con, ông lại mang chiếc lược ra ngắm và chải lên tóc mình cho thêm bóng, thêm mượt.

Nhưng rồi anh Sáu đã hi sinh trong một trận càn của giặc, khi còn chưa kịp trao cây lược cho con gái. Trước lúc tắt thở, không còn sức trăng trối lại điều gì, “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”, anh đã lấy cây lược mà anh thường mang theo bên mình rồi trao cho bác Ba – người bạn đồng đội của mình và nhìn người bạn một hồi lâu, cái nhìn như gửi gắm sự ủy thác thiêng liêng. Chỉ khi nhận được lời hứa của bác Ba, “mang về tận tay trao cho cháu” thì người cha mới nhắm mắt, xuôi tay. Điều đó cho ta thấy tình cha con mãnh liệt và tha thiết của anh Sáu dành cho con gái yêu bé bỏng của mình.

Để rồi sau này, bé Thu lớn lên, trở thành cô giao liên xinh đẹp, dũng cảm, bước tiếp con đường cách mạng mà cha cô đã từng đi. Sau ba năm ngày mất của anh Sáu, cô nhận được chiếc lược ngà mà bác Ba gửi, nhìn dòng chữ khắc ghi “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”, cô cảm thấy như được gặp lại chính bóng hình người cha thân yêu. Cô đã không kìm được lòng mình, “hai giọt lệ sắp rơi xuống bỗng vỡ ra tràn đầy qua đôi mắt”. Và giọt nước mắt của Thu chính là giọt nước mắt của tình phụ tử sâu lặng, vĩnh hằng, bất biến!.

Tóm lại, qua câu chuyện, người đọc không chỉ cảm nhận được tình cảm cha con sâu nặng của anh Sáu mà còn thấm thía về những đau thương, mất mát, éo le mà chiến tranh đã gây ra, khiến cho gia đình phải li tán, vợ xa chồng, con xa cha. Đồng thời qua truyện, người đọc cũng thấy được những hi sinh thầm lặng mà cao cả của những người lính trong chiến tranh đối với quê hương, đất nước, vì hòa bình dân tộc. Từ đó, ta càng cảm thấy trân trọng hơn nền hòa bình dân tộc và càng quí trọng hơn tình cảm gia đình mà mở rộng ra là tình yêu quê hương đất nước.

Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 2

Trong mỗi chúng ta, ai mà chẳng được sống trong những giây phút xúc động của tình cảm gia đình. Đến với văn học ta càng cảm nhận rõ nét hơn sự rung cảm đến tột cùng đó. Nếu đến với ” Bếp lửa” của Bằng Việt ta được sống lại cuộc sống êm đềm bên người bà… Đến với ” Tắt đèn” của Ngô Tất Tố ta được chìm ngập trong tình mẹ con sâu nặng…Thì đến với tác phẩm ” Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện thật cảm động tình cảm cha con của ông Sáu và bé Thu.

Dưới cây bút tài ba của nhà văn ta được đến với những tình huống vô cùng độc đáo và bất ngờ, qua đó càng nhấn mạnh tình cảm cha con sâu sắc cao đẹp trong cảnh ngộ éo le. Cái cảnh ngộ đã làm bé Thu và ông Sáu trở nên xa cách và lạnh lùng.

Sau tám năm xa cách gia đình, vợ con để đi chiến đấu lúc nào ông Sáu cũng nuôi trong mình hy vọng là được về thăm nhà. Thế rồi cái ước mơ đó đã trở thành hiện thực, ông được về thăm nhà, thăm vợ con. Lúc về đến nhà ông vô cùng hồi hộp được nhìn thấy đứa con sau bao năm xa cách, nhưng ông càng hy vọng bao nhiêu thì càng thất vọng bấy nhiêu. Bé Thu – con gái ông đã không nhận ra cha bởi vì cái vết thẹo dài trên má. Đã làm cho ông Sáu đau lòng nhưng ông vẫn yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Chỉ vì cái vết thẹo mà chiến tranh tàn khốc đã gây nên đã tạo ra những bi kịch đáng buồn, là bức rào ngăn cản cha con.

Đọc tác phẩm, ta thấy trong mình sục sôi sự căm ghét chiến tranh, không những gây nên sự hy sinh đau khổ mà còn gây lên những trớ trêu mà ngay cả những đứa trẻ thơ ngây, hồn nhiên cũng phải gánh chịu. Hành động chạy vụt đi của bé Thu khi ấy cũng chỉ là xuất phát từ tình yêu mà bé dành cho cha, vì người cha trước mặt không giống với người cha trong ảnh mà mẹ đã chỉ. Bé cũng chỉ là nạn nhân của chiến tranh, không được sống gần gũi, yêu thương của cha mà phải xa cha từ nhỏ. Nhưng vết thẹo dài trên mặt ấy chỉ là bức cản tạm thời, nó đã không che lấp được tình cha con. Tình cha con sâu nặng đã vượt lên trên tất cả sự đau thương mất mát để được bên nhau. Tuy chỉ là nhưng giây phút ngắn ngủi nhưng chứa đựng là những kỷ niệm khó quên trong tâm hồn bé Thu và ông Sáu.

Mà có lẽ, ta không thể không xúc động trước tình cảm yêu thương tha thiết của ông Sáu dành cho đứa con gái.Ôi ! ta phải thốt lên trước những hành động suy nghĩ của ông Sáu khi ở căn cứ. Vì nỗi nhớ thương con da diết đã khiến ông dồn hết tâm trí và sức lực những lúc dỗi dãi ông chau chuốt làm cho con một chiếc lược thật đẹp bằng ngà voi. Cái hình ảnh ấy cứ thấp thoáng đâu đây: ” Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Chiếc lược đã trở thành vật thiêng liêng quý giá chứa đựng bao nỗi nhớ thương yêu con của ông Sáu. Ông đã từng tưởng tượng cái giây phút hạnh phúc khi được tận tay trao chiếc lược cho con nhưng tất cả đã trở thành kỷ niệm, ông Sáu đã hy sinh. Một lần nữa người đọc lại thấm thía về sự mất mát hy sinh của chiến tranh.

Tóm lại, khi đọc tác phẩm ” Chiếc lược ngà” với cốt truyện chặt chẽ, bất ngờ đã đưa người đọc đến với tình cảm cha con sâu nặng nhưng vô cùng éo le trong cảnh ngộ chiến tranh. Qua đó Nguyễn Quang Sáng muốn gửi đến bạn đọc rằng : tình cảm cha con là một tình cảm vô cùng thiêng liêng và cao quý đối với mỗi chúng ta. Vậy nên chúng ta hãy biết trân trọng tình cảm và quý mến tình cảm ấy.

Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 3

Nguyễn Quang Sáng là một cây bút truyện ngắn nổi tiếng trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Tác phẩm của ông thường viết về cuộc sống và con người Nam Bộ cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Truyện ngắn “Chiếc lược Ngà” được viết năm 1966, lúc tác giả hoạt động cách mạng ở chiến trường Nam Bộ. Tác phẩm ngợi ca tình cha con thiêng liêng, sâu nặng của ông Sáu và bé Thu như một giá trị nhân bản sâu sắc. Tình cảm ấy càng cao đẹp trong hoàn cảnh chiến tranh.

Câu chuyện cảm động về tình cha con của ông Sáu và bé Thu. Vì chiến tranh, đã bảy tám tuổi mà Thu chỉ biết được mặt cha qua tấm ảnh. Vì chiến tranh, gương mặt ông sáu có một vết sẹo, không còn giống như gương mặt mình trong tấm ảnh, nên khi ông về nhà, Thu không nhận ra cha. Vì chiến tranh, ông lại tiếp tục đi chiến đấu; lúc chia tay, Thu nhận ra ông Sáu chính là cha mình. Vì chiến tranh, dù làm xong cho con chiếc lược bằng ngà voi, ông Sáu không kịp chải lên mái tóc con, chỉ kịp gửi lại cho người bạn mang về cho con. Vì chiến tranh, khi Thu đã là cô giao liên hai mươi tuổi, gan dạ, thông minh, trong một chuyến công tác bác Ba mới nhận ra con của người đồng đội đã hi sinh và trao lại chiếc lược ngà cho Thu.

Đọc “Chiếc lược ngà”, người dửng dưng nhất cũng không thể dửng dưng trước cảnh cha con sống chung một nhà, cha chờ con gọi tiếng “ba” mà con thì nhất quyết không trò chuyện với “ người ta”. Nếu đó là một người dưng thực sự thì sự thờ ơ của Thu là không đáng trách. Nhưng điều trớ trêu là chúng ta cũng không thể trách Thu khi người ấy là cha ruột của em. Chiến tranh đã làm gương mặt cha có một vết sẹo khiến Thu không nhận ra. Vết sẹo ấy như một con dao cắt lìa tình cha con. Bằng chi tiết này, Nguyễn Quang Sáng muốn nhắc nhở chúng ta rằng chiến tranh không chỉ gây ra những hi sinh, thương tật cho con người mà còn gây ra những nỗi đau chia cắt không gì bù đắp được.

Thu không nhận ra ba, hất bỏ cái trứng cá mà ông Sáu gắp cho là một sự bướng bỉnh nhưng đáng yêu. Có yêu người cha trong tấm ảnh một cách sâu sắc, Thu mới khó chịu trước sự ân cần của một người mà từ trong lòng em nghĩ đó không phải là cha mình. Đâu phải ai cho ta cái gì, dù đó là cái quý giá, cũng có thể nhận là tình cảm thiêng liêng được khi mà lòng ta chưa cảm được sự gần gũi và thiêng liêng thực sự.

Được bà ngoại giải thích, hiểu được nguyên cớ của vết sẹo, lúc chia tay, Thu bất ngờ ôm chầm lấy ông Sáu, gọi tiếng “Ba” và nũng nịu “Ba mua cho con cây lược nghen ba”. Tiếng gọi thiêng liêng ấy cất lên từ sâu thẳm trong lòng đứa con bé bỏng. Tiếng gọi ấy làm xao động trái tim người đọc để một lần nữa chúng ta cảm thấy uất hận kẻ đã gây ra “vết sẹo tình thương” cho bao gia đình miền Nam thời chiến tranh chia cắt. Chiến tranh làm cho vợ xa chồng, con phải xa cha. Chiến tranh làm cho những tình cảm tự nhiên của con người phải nghẹn ngào, uất ức. Và khi nghe tiếng nói dịu ngọt mà nghẹn ngào của con, ông sáu đã khóc. Đó là giọt nước mắt hạnh phúc của người cha khi nhận được tình ruột thịt từ con. Đó là giọt nước mắt mang thông điệp hãy nâng niu và giữ gìn tình phụ tử.

Những ngày ở chiến khu, cưa từng răng lược cho con, ông Sáu tự xoa dịu nỗi nhớ con, ân hận vì đã đánh. Có thể hình dung từng chiếc răng lược được thành hình là khối yêu thương trong lòng ông Sáu lớn dần, niềm mong mỏi được gặp lại con cũng thiết tha hơn. Tuy chưa chải được mái tóc con bằng chiếc lược do chính tay mình làm nhưng ông Sáu cũng phần nào gỡ được những mối rối trong tình cha con của mình.

Quả thực, ông là một người cha chịu nhiều thiệt thòi nhưng vô cùng độ lượng và tận tụy vì tình yêu thương con. Nếu có phép màu, xin được một lần, Thu ơi, bạn hãy lặng yên ngả vào lòng cha, để cha sẽ chải mái tóc thanh xuân của bạn bằng chiếc lược ngà thấm đẫm yêu thương. Và mỗi độc giả nhạy cảm sẽ nhận ra rằng trong lòng đất Mẹ, có bao nhiêu chiếc lược ngà như thế, những chiếc lược yêu thương chưa từng một lần được chải lên mái tóc người yêu thương…

Nhưng trong câu chuyện này, trái tim người cha đã đưa lối chỉ đường để người đồng đội mang lược về cho con. Bên sông, một người dưng nói với một người dưng: “ba đi nghe con”, vậy mà nghe sao thiết tha và ấm áp. Vì rằng, con đã đi tiếp con đường cha đi dang dở, con đã được gặp người đồng đội của cha; tình cha con, tình đồng đội, tình đồng chí đã hòa vào tình yêu đất nước. Câu chuyện nhằm ca ngợi tình cha con thiêng liêng, thắm thiết và sâu nặng dù trong hoàn cảnh éo le. Đồng thời, câu chuyện cũng nhằm khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Câu chuyện còn nhằm lên án kẻ thù đã gây ra bao đau thương, mất mát cho bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình Việt Nam.

Qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, người đọc không chỉ cảm nhận tình yêu con tha thiết sâu nặng của người cha chiến sĩ mà còn thấm thía bao đau thương mất mát đối với những em bé, những gia đình. Tình cảm cha con sâu đậm, thắm thiết của cha con anh Sáu khẳng định rằng bom đạn của kẻ thù chỉ có thể hủy diệt được sự sống của con người, còn tình cảm của con người – tình phụ tử thiêng liêng thì không bom đạn nào có thể giết chết được.

Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 4

Chúng ta đang sống trong một đất nước hoà bình, được sự dìu dắt, yêu thương của cha mẹ, được đùa vui dưới mái trường đầy ắp tiếng ca. Chúng ta có thể quên được chăng những trang sử hào hùng ấy, ngày các lớp cha anh đi trước đã hi sinh cả tính mạng. Máu của các anh đã nhuộm màu phì nhiêu cho đất nước, sự hi sinh tươi đẹp cho thế hệ chúng ta ngày hôm nay. Các anh đã hi sinh cả thể xác lẫn tinh thần, hi sinh cả những hạnh phúc mà lẽ ra các anh phải được hưởng.

Chiến tranh, vùng trời của tang thương và chết chóc. Trong mưa bom lửa đạn, trong chất cay xè của mùi thuốc súng, tình cảm cao đẹp nhất của tình đồng chí đồng đội trào dâng. Những bùi ngùi dấu tận đáy lòng của những người cha lên đường chiến đấu gửi lại quê hương đứa con thân yêu nhất của mình để rồi trong giờ phút hiếm hoi giữa cuộc hành quân nỗi nhớ con không còn dấu được. Tình cảm thiêng liêng ấy càng mãnh liệt hơn trong tác phẩm “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau năm 1945, tập kết ra Bắc Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mĩ, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng thuộc nhiều thể loại: Truyện ngắn có “Con chim vàng”, “Người quê hương”, “Chiếc lược ngà”, “Người đàn bà đức hạnh”, “Vẽ lại bức tranh xưa”…

Các tiểu thuyết “Đất lửa”, “Mùa gió chướng”, “Dòng sông thơ ấu” được nhiều độc giả biết đến và đặc biệt là kịch bản phim nổi tiếng “Một thời để nhớ một thời để yêu”. Có lẽ vì sinh ra, lớn lên và hoạt động chủ yếu ở chiến trường miền Nam nên các tác phẩm của ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình.”Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn viết về tình phụ tử sâu nặng của cha con ông Sáu sau chiến tranh. Đây là một truyện ngắn giản dị nhưng chứa đầy sức bất ngờ như ta thường thấy ở văn của Nguyễn Quang Sáng. Đoạn trích SGK đã cho thấy một khoảnh khắc nhỏ mà trong đó có sự cao cả thiêng liêng về tình phụ tử.

“Chiếc lược ngà ” được viết vào năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên. Nội dung văn bản trong SGK là cuộc gặp gỡ của anh Sáu – một người xa nhà đi kháng chiến. Mãi khi con gái lên tám tuổi, anh mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu – con gái anh không nhận cha , trái lại đã đối xử lạnh nhạt, có lúc vô lễ với cha. Điều đó làm anh Sáu đau lòng, nhưng anh vẫn yêu thương con bằng tình cha con ruột thịt. Sau vài ngày ngắn ngủi sum họp gia đình, anh Sáu phải ra đi. Đến lúc ấy Bé Thu bỗng thay đổi thái độ. Em ôm chặt lấy cha không muốn cha con phải xa nhau .Mọi người ngỡ ngàng sửng sốt. Thì ra mấy ngày trước do nhìn thấy trên mặt anh Sáu có vết sẹo lớn, bé Thu thấy anh không giống cha chụp chung ảnh với mẹ. Nhờ bà ngoại giảng giải, Thu đã hiểu ra mọi chuyện, em cất tiếng gọi “Ba…ba!..” và hẹn “Ba mua cho con một cây lược nghe!”. Ở khu căn cứ, anh Sáu dồn hết tình cảm yêu quí nhớ con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để mang về tặng cô con gái bé bỏng. Nhưng trong một cuộc chiến đấu anh đã ngã xuống. Trước lúc nhắm mắt anh còn kịp trao cây lược cho người bạn, gửi về tận tay cho con. Truyện được viết theo lời kể qua cái nhìn của ông Ba – nhân vật xưng tôi. Tuy đây là một đề tài khá phổ biến trong văn chương nhưng chính vì thế mà giá trị nhân văn của truyện càng trở nên sâu sắc.

Truyện xoay quanh một kỉ vật đơn sơ mà vô giá ấy là chiếc lược ngà. Nhưng suốt cả câu chuyện, suốt những quãng đời, suốt cả cuộc đời ấy chỉ có một tiếng kêu, một tiếng kêu bình dị và thiêng liêng bậc nhất cõi đời này: tiếng cha!. Câu chuyện “Chiếc lược ngà” đã kể lại thật cảm động về cuộc gặp gỡ và những tình cảm của cha con anh Sáu. Hình ảnh anh Sáu đã để lại trong lòng người đọc nỗi cảm thông, yêu mến và những ấn tượng sâu sắc.

Cũng như bao người khác anh Sáu đi theo tiếng gọi của quê hương đã lên đường chiến đấu, để lại người vợ và đứa con thân yêu. Sự xa cách càng làm dâng lên trong anh nỗi nhớ nhung tha thiết đứa con gái mà khi anh đi nó chưa đầy một tuổi. Nỗi nhớ ấy đã trở thành niềm khao khát, mơ ước cháy bỏng trong lòng anh. Chính vì vậy mỗi lần vợ lên thăm là một lần anh hỏi “Sao không cho con bé lên cùng ?”. Không gặp được con anh đành ngắm con qua ảnh vậy … Mặc dầu tấm ảnh đó đã rách nát, cũ kĩ lắm rồi, nhưng anh luôn giữ gìn nó vô cùng cẩn thận, coi nó như một báu vật. Còn đối với con gái Thu của anh thì sao? Từ nhỏ đến hồi tám tuổi nó chỉ được biết ba nó qua ảnh và qua lời kể của bà ngoại và má. Dù được sống trong tình yêu thương của mọi người nhưng có lẽ Thu cũng cảm thấy thiếu hụt một tình thương, sự che chở của người cha. Chắc bé Thu từng giờ từng phút trông chờ ba nó lắm nhỉ? Và tám năm trời là những năm tháng dài đằng đẵng ấy cũng làm tăng lên trong lòng hai cha con anh sáu nỗi nhớ nhung, mong chờ, anh Sáu ao ước gặp con, còn bé Thu ao ước gặp bố.

Thế rồi niềm ao ước ấy đã trở thành hiện thực. Anh Sáu được nghỉ phép. Ngày về thăm con, trên xuồng mà anh Sáu cứ nôn nao cả người. Anh đang nghĩ tới đứa con, nghĩ tới giây phút hai cha con gặp nhau như thế nào. Những điều ấy choáng hết tâm trí khiến anh không còn biết mình đang ngồi trên xuồng với người bạn. Khi xuồng vừa cập bến, anh Sáu đã nhón chân nhảy thót lên bờ. Người bạn đi cùng cũng rất hiểu anh nên không hề trách. Tôi không thể quên được giây phút vô cùng thiêng liêng và trọng đại của anh Sáu, là giây phút người cha mong chờ đứa con sẽ chạy tới ôm siết lấy mình, là bước trở về sau bao xa cách…

Hẳn vì quá xúc động nên lúc ấy anh Sáu đã có những cử chỉ mà ngay cả người bạn của anh cũng không ngờ tới “giọng anh tập bập run run”, anh dang hai tay chờ đón con và sải những bước dài đến gần con. Tưởng rằng con bé sẽ chạy tới nhào vào lòng anh nhưng không ngờ bỗng nó hét lên “má…má” và bỏ chạy. Tại sao Thu lại có những hành động như vậy ? Nó yêu ba nó lắm cơ mà ? Nó mong ba về từng ngày từng giờ. Vậy mà tất cả đều lật ngược với nó. Ba nó thật đây, sao nó không nhận ? Hành động của con bé khiến anh sững sờ. Bao yêu thương, mong chờ mà anh dồn nén bấy lâu dường như tan biến hết chỉ còn lại trong anh là nỗi đau khổ vô bờ.

Nỗi đau ấy còn dày vò anh trong suốt ba ngày ở nhà. Ba ngày ở nhà anh Sáu không đi đâu xa mà chỉ quanh quẩn ở nhà chơi với con. Anh muốn dùng lời nói, hành động của mình để bù đắp những mất mát về tình cảm cho con bé. Dường như anh muốn bằng những cử chỉ và lời nói yêu thương tràn đầy âu yếm, anh sẽ xoa dịu đi những nghi ngờ, xoá tan những lạnh lùng của con bé đối với anh. Anh muốn ôm con mà nói rằng: “Ba yêu con nhiều lắm Thu à!” và có lẽ chắc anh cũng mong đứa con gái của mình có thể chạy sà vào lòng mà rằng “Con cũng yêu bố nhiều lắm ạ!” thế nhưng không… những gì anh từng mơ ước, từng suy nghĩ, giờ chỉ như giấc mơ không thật bởi chính thái độ của Thu đối với ba nó. Khi mẹ bảo nó gọi bố vào ăn cơm thì con bé đã nói trổng: “Vô ăn cơm!”. Câu nói của con bé như đánh vào tâm can anh, nhưng anh vẫn ngồi im giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm.” Thế nhưng Thu vẫn bướng bỉnh không chịu gọi ba, đã vậy còn bực dọc nói mấy câu “Cơm chín rồi!” và “Con kêu rồi mà người ta không nghe”. Đến lúc này anh chỉ biết “nhìn con bé vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi.” Tôi thoáng nghĩ đến cảm xúc lúc này và những câu hỏi xoay quanh anh. Tại sao thế nhỉ? Thu làm vậy là sao? Ba nó sao nó không chịu nhận? Nhìn nó tôi như có cảm giác nó cự nự, quyết không chịu gọi ba. Thái độ này thật không đúng với tình cha con xa cách bấy lâu, hay con bé đang giận ba vẩn vơ gì đó chăng?

Cao trào của câu chuyện càng nâng cao khi nồi cơm sôi, một mình nó bé, không thể tự nhấc nồi để chắt nước, nó đã phải cầu cứu đến người lớn. Tình thế khiến người đọc ngỡ rằng nó sẽ phải thua không thể “chiến tranh lạnh” được nữa – nó buộc phải gọi ba để giúp đỡ. Nhưng nó vẫn không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong! Chỉ cần nói lên cái tiếng ba ấy thế thôi, là nó sẽ thoát khỏi thế bí. Nhưng quyết không! Nó vẫn hành động theo sự bướng bỉnh tự mình làm lấy một công việc nguy hiểm và quá sức! Nghĩa là nó không chịu nhượng bộ, không chịu thua cuộc. Điều ấy làm cho người cha, người bạn của cha và cả người đọc phải đau lòng. Còn gì đau khổ bằng người cha giàu lòng thương yêu con mà lại bị chính đứa con ấy chối bỏ!

Dường như sự lạnh lùng và bướng bỉnh của bé Thu đã làm tổn thương những tình cảm đang trào dâng tha thiết nhất trong lòng ông. Vì quá yêu thương con nên anh Sáu không cầm nổi cảm xúc của mình. Trong bữa cơm, cưng con, anh gắp cho nó cái trứng cá nhưng bất ngờ nó hất tung cái trứng ra khỏi chén cơm. Giận quá, anh đã vung tay đánh và quát nó. Có lẽ việc đánh con bé là nằm ngoài những mong muốn của ông. Tất cả cũng chỉ là do anh quá yêu thương con. Có thể coi việc bé Thu hất cái trứng ra khỏi chén như một ngòi nổ làm bùng lên những tình cảm mà lâu nay anh dồn nén và chất chứa trong lòng.

Nhưng khi ta hiểu ra thì lại thấy rằng : Chính cái hành động đáng ghét ấy lại vô cùng đáng quý. Chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm người con dành cho cha. Đơn giản vì lúc bấy giờ trong trí nhớ thơ ngây của Thu thì cha em đẹp lắm. Vì bom đạn quân thù, cha mang sẹo trên mặt. Đấy là điều đau khổ vậy mà nó không hiểu, lại xa lánh khiến cha đau khổ thêm. Cô bé không tin, thậm chí còn ngờ vực, điều đó chứng tỏ cô bé không dễ tin người. Cả bạn của cha, cả mẹ xác nhận là cha nhưng không ai tháo gỡ được thắc mắc thầm kín trong lòng mình thì cô bé vẫn chưa gọi. Nó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh, nhiễu sách mà đó là sự kiên định, quyết liệt của một người có lập trường. Đây chính là cái mầm sâu kín sau này làm nên tính cách cứng cỏi, ngoan cường của cô giao liên giải phóng. Đến khi được bà ngoại giảng giải về cái thẹo trên má ba, thì Thu mới vỡ lẽ đó thực là ba mình. Hình ảnh người cha thân yêu trên ảnh, người cha kính mến mà cô ghi sâu trong lòng, đến lúc ấy mới nhập vào người đang xưng ba có vết thẹo dài đây. Đã vỡ lẽ thì tình yêu ba nhân lên gấp bội nhưng … đã muộn rồi. Song đến giây phút cuối cùng, trước khi anh Sáu đi xa thì tình cảm thiêng liêng ấy bỗng cháy bùng lên. Lúc ra đi, chân anh ngập ngừng không muốn bước. Hẳn rằng anh Sáu muốn ôm con, hôn con nhưng sợ nó lại giẫy đạp và bỏ chạy nên anh chỉ đứng đấy nhìn nó với cặp mắt trìu mến xen lẫn buồn rầu.

Trong ánh mắt của anh, chất chứa bao yêu thương mà anh muốn trao gửi tới con. “Thôi ba đi nghe con”. Phải chi bé Thu hiểu được ánh mắt của ba nó, hiểu được tâm trạng của ba nó lúc này nhỉ? Rồi bỗng nó chạy đến kêu thất thanh Ba…a….a…ba!”. Tiếng kêu như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Tiếng kêu bật lên sau bao năm kìm nén, chờ đợi khắc khoải. Đó cũng là cái tiếng ba mà anh Sáu đã chờ đợi suốt tám năm trời xa con, đã chờ đợi suốt mấy ngày về bên con, ông đã tưởng chẳng thể còn được nghe thì bất ngờ nó thét lên. Nó vỡ ra còn lòng người đọc thì nghẹn lại. Người cha không cầm nổi nước mắt vì bất ngờ, vì sung sướng, vì thương yêu và vì cả sự éo le của tình cảm nữa. Cùng với cử chỉ “vừa kêu vừa chạy xô tới nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó, làn tóc tơ sau ót nó dựng đứng lên”. “Vừa ôm chặt lấy cổ ba, nó vừa nói trong tiếng khóc “Ba…ba…không cho ba đi nữa, ba ở nhà với con”. Nó ôm hôn anh Sáu và “hôn cả vết thẹo dài trên má của ba”, biểu hiện một tình yêu ruột thịt nồng nàn của đứa con đối với ba. Và khi nghe anh Sáu nói “Ba đi rồi ba về với con”, cô bé hét lên “không”, rồi hai tay siết chặt cổ, dang cả hai chân quặp chặt lấy ba, đôi vai nhỏ run run! Chắc cô bé khóc.

Phải chăng lúc ấy Thu thật sự thấy xót xa, ân hận về lỗi lầm của mình, thật sự thấy xót thương người cha đau khổ? Nó mếu máo “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba…”. Tất cả lời nói thể hiện rõ tính cách của một cô bé bồng bột thơ ngây và chứng tỏ lòng yêu thương vô bờ của em đối với ba. Thật sâu sắc và cao đẹp biết bao. Có lẽ lúc này bé Thu đã trở thành một người lớn thực sự. Tất cả sự dỗi hờn của bé Thu lúc này đều chuyển thành lòng yêu thương sâu sắc ba nó. Trong cái ương ngạnh, bướng bỉnh, trong cái giận dỗi và cả sự hối hận của Thu, ta vẫn thấy bé thật thơ ngây, thật đáng yêu. Về phần anh Sáu hạnh phúc đến với anh quá đột ngột khiến cổ anh nghẹn lại. Không kìm được xúc động, anh Sáu đã khóc. Giọt nước mắt của anh là giọt nước mắt của vui sướng, hạnh phúc. Và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con…Thế là con bé đã gọi anh bằng ba. Ai có thể ngờ được một người lính đã dày dạn nơi chiến trường và quen với cái chết cận kề lại là người vô cùng mềm yếu trong tình cảm cha con. Sau bao năm tháng mong chờ, đau khổ, anh Sáu đã được đón nhận một niềm vui vô bờ. Bây giờ anh có thể ra đi với một yên tâm lớn rằng ở quê nhà có một đứa con gái thân yêu luôn chờ đợi anh, từng giây từng phút mong anh quay về.

Tình cảm của anh Sáu dành cho bé thu trở nên mãnh liệt hơn, cao cả, thiêng liêng và cảm động hơn bao giờ hết là việc anh tự tay làm chiếc lược nhà cho con gái. “Ba về! Ba mua cho con một cái lược nghe ba!”, đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt. Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước đầu tiên và cũng là duy nhất cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng. Kiếm cho con cây lược trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng. Anh bật dậy như bỗng lóe lên một sáng kiến lớn: làm lược cho con bằng ngà voi. Có lẽ không đơn thuần vì ở rừng rú chiến khu, anh không thể mua được cây lược nên làm lược từ ngà voi là một cách khắc phục khó khăn. Mà cao hơn thế, sâu hơn thế, ngà voi là thứ quí hiếm – chiếc lược cho con của anh phải được làm bằng thứ quý giá ấy. Và anh không muốn mua, mà muốn tự tay mình làm ra. Anh sẽ đặt và trong đấy tất cả tình cha con của mình. Kiếm được ngà voi, mặt anh “hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta hoá thành con trẻ lại chính là lúc người ta đang hiện lên cái tư cách người cha cao quý của mình. Rồi anh “ngồi cưa từng chiếc răng lược, thận trọng tỉ mỉ và khổ công như người thợ bạc “, “gò lưng tẩn mẩn khắc từng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Anh thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời cho nên chiếc lược ngà đã kết tinh trong nó tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kỳ diệu làm sao!

Nhưng ngày ấy đã vĩnh viễn không bao giờ đến nữa. Anh không kịp đưa chiếc lược ngà đến tận tay cho con thì người cha ấy đã hi sinh trong một trận đánh lớn của giặc. Nhưng “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Không còn đủ sức trăn trối điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc “đưa tay vào túi, móc cây lược” đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cứ nhìn bạn hồi lâu. Nhưng đó là điều trăn trối không lời, nó rõ ràng là thiêng liêng hơn cả một lời di chúc, bởi đó là sự uỷ thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân, ước nguyện của tình phụ tử! Bắt đầu từ giây phút ấy, chiếc lược ngà của tình phụ tử đã biến người đồng đội thành một người cha – người cha thứ hai của cô bé Thu.

Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật cũng đã đành một lẽ còn người chết cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không thể đắp cao lên được, vì tìm thấy mồ mả bọn chúng sẽ đào lên và tìm ra dấu vết, cho nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy. Bác Ba bạn của anh đã lấy dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ. Sống như thế và chết như thế hỏi vậy làm sao mà chịu được. Chúng ta buộc phải cầm súng. Và bé Thu không còn là cô bé ngày xưa nữa mà là một cô giao liên thông minh, quả cảm. Thu đi theo con đường mà ba cô đã chọn. Thu đi để trả thù cho quê hương, cho cha mình đã bị bọn giặc giết hại.

Tuy anh Sáu đã hi sinh nhưng câu chuyện về hai cha con anh sẽ còn sống mãi. Hình ảnh chiếc lược ngà với dòng chữ sẽ mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, bi kịch của chiến tranh. Cảm ơn nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa rõ nét tâm hồn, tình cảm của anh Sáu và bé Thu. Truyện dẫn người đọc dõi theo số phận và lòng quả cảm, dõi theo tâm tình của cha con một người chiến sĩ diễn ra hàng chục năm trời đi qua hai cuộc chiến tranh. Người còn, người mất nhưng kỉ vật, gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại của chiếc lược ngà vẫn còn đây. Đây là minh chứng đối với chúng ta “cái mất mát lớn nhất mà thiên truyện ngắn đề cập đến là người đã khuất, là tổ ấm gia đình không còn tồn tại trọn vẹn trong thực tại. Đó là tội ác, là những đau thương, mất mát của chiến tranh xâm lược mà các thế hệ bạo tàn gây ra cho chúng ta. Song cái được mà chúng ta nhìn thấy là không có sự bi luỵ xảy ra, sức mạnh của lòng căm thù đã biến cô bé Thu trở thành một người chiến sĩ thông minh, dũng cảm, đã gắn bó cuộc đời con người có ít nhiều mất mát xich lại gần nhau để cùng đứng lên viết tiếp bản ca chiến thắng.

Gấp sách lại, chia tay với ông Ba, câu chuyện về “Chiếc lược ngà” với lời nói cuối cùng của ông – giọng trầm ấm khoan thai – cứ âm vang mãi trong bạn đọc chúng ta, như sự âm vang của một truyện cổ tích. Truyện cổ tích hiện đại đó đã thành công trong việc tạo tình huống truyện, miêu tả tâm lý, tình cảm nhân vật và giọng kể nhẹ nhàng, thấm thía truyền cảm. Ông Ba – người kể chuyện – hay chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng? Phải là người từng trải sống hết mình vì công cuộc kháng chiến của quê hương, gắn bó máu thịt với những con người quê hương giàu tình nghĩa, rất nhân hậu mà kiên cường, bất khuất, bất diệt, nhà văn mới nhập được vào các nhân vật, sáng tạo được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động, bất ngờ, có được giọng văn dung dị và cảm động như vậy. Đồng thời truyện đã làm sống lại quãng thời gian giữ nước để thông qua đó tác giả muốn người đọc phải suy nghĩ và thấm thía nỗi đau, sự mất mát mà chiến tranh mang đến. Tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu đã vượt qua bom đạn của chiến tranh để ngày càng thiêng liêng, ngời sáng và gắn bó chặt chẽ với tình yêu quê hương, đất nước.

Qua cuộc đời nhân vật, từ cô bé Thu đến ông Sáu, ông Ba, Nguyễn Quang Sáng như muốn nói rằng trong cuộc kháng chiến gian khổ chống ngoại xâm vừa qua của dân tộc ta, tình nghĩa con người Việt Nam, nhất là tình cha con, đồng đội, sự gắn bó thế hệ già với thế hệ trẻ, người chết và người sống… mãi mãi bất diệt. Như chiếc lược ngà ba tặng lại không bao giờ có thể mất, tình cha con của bé Thu cũng sẽ mãi mãi bất diệt!

Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 5

“Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn hay viết về đề tài tình phụ tử. Đọc tác phẩm, điều khiến người đọc cảm động nhất chính là tình cảm mà cha con ông Sáu và bé Thu dành cho nhau. Câu chuyện về tình cảm gia đình thiêng liêng, sâu sắc trong kháng chiến đã đọng lại trong lòng người những suy nghĩ những bài học bổ ích.

Tác phẩm ra đời năm 1966, lấy bối cảnh là cuộc kháng chiến chống Mĩ của đồng bào Nam Bộ. Chính trong hoàn cảnh bom rơi, đạn nổ, kẻ thù không chỉ chia lìa đất nước mà còn chia lìa từng gia đình ấy, tình cảm gia đình lại được thể hiện đậm nét, cảm động hơn bao giờ hết.

Ông Sáu khi đi kháng chiến có một đứa con gái đầu lòng chưa đầy một tuổi. Trong những năm tháng kháng chiến, vì cô bé còn nhỏ nên đi thăm chồng, vợ của ông không mang theo con. Bởi vậy, ông chỉ được nhìn con qua những tấm ảnh nhỏ mà thôi. Và giờ đây, khi trở về thì tình cha con ấy lại trỗi dậy trong lòng, ông cảm thấy nôn nao. Ngay lập tức, khi xuống thuyền, thấy một đứa bé chừng bảy, tám tuổi, tóc ngang vai thì ông Sáu biết ngay đó là con mình. Không chờ xuồng cập bến, ông đã nhún chân nhảy thót lên bờ, vội vàng bước những bước dài rồi kêu: “Thu! Con!”. Điều đó thể hiện một tình cảm của người cha một cách tự nhiên, quá xúc động. Dường như chính lúc này đây, trái tim của người cha tội nghiệp reo lên đầy sung sướng khi sau tám năm trời mới được nhìn thấy mặt con và dường như ông cũng mong sự đáp lại tình cảm của con. Nhưng con bé lại đầy ngơ ngác, lạ lùng, không biết đó là ai. Còn ông Sáu thì vẫn đầy xúc động miệng nói không thành lời, giọng lặp bập: “Ba đây con”! Lúc đó chính là lúc cái tình của người cha lên đến đỉnh điểm và không thể toát ra bằng lời vì ông đã quá xúc động. Việc bé Thu sợ hãi chạy ào đi như một gáo nước lạnh dội mạnh vào trái tim đang nóng bỏng của ông Sáu. Ông đứng sững lại đầy sững sờ, thảng thốt.

Những ngày sau đó, ông Sáu vẫn cố gắng để con nhận ra mình là cha. Cả ngày ông chẳng đi đâu xa, suốt ngày ở bên con, săn sóc, vỗ về con. Song càng vỗ về bao nhiêu con bé lại càng đẩy ông ra bấy nhiêu. Ông chỉ mong có một điều là được gọi mình một tiếng “ba”. Chỉ một tiếng “ba” mà thôi! Nhưng chẳng có điều gì khác ở con gái ông ngoài sự thờ ơ, lạnh lùng thậm chí thù ghét. Những hành động của ông Sáu giúp đỡ con hay vỗ về nó đều bị con bé phản ứng lại. Chỉ có tình cha sâu nặng mới giúp ông kiên trì vượt qua điều đó. Đến một bữa cơm, khi ông gắp cái trứng cá to, vàng bỏ vào bát nó thì bất thần con bé hất ra, cơm văng tung toé và không kịp suy nghĩ gì ông đã đánh một cái vào mông nó. Ông Sáu hẳn đã vô cùng ân hận vì giây phút nóng nảy đó của mình.

Trong ba ngày nghỉ ngắn ngủi, ông đã ở bên con nhưng con không nhận. Giờ đây ngày chia tay bà con làng xóm ông định mang theo nỗi buồn đó. Nhưng trong lúc không ai ngờ đến đó, một tiếng kêu đã xé lòng ông: “Ba… a…a… ba”. Tiếng “Ba” đó là sự dồn nén trong Thu tám năm nay và bây giờ nó vỡ tung ra từ ngay trong sâu thẳm đáy lòng con bé. Tiếng “Ba” với nó là điều khát khao hơn mọi đứa trẻ khác vì ngay từ nhỏ nó đã không có tình yêu thương của cha. Giờ đây tiếng “Ba” vang lên đầy tự nhiên, ngỡ ngàng trong giây phút cuối cha con chia tay. Và bây giờ nó muốn có ba, nó bật khóc vì hạnh phúc, nó hôn tóc, hôn cổ và hôn với vết thẹo dài trên má của ba nó nữa. Hoá ra, lí do nó không nhận ba là do vết thẹo oan nghiệt đó – vết thẹo do kẻ thù của gia đình đó, của đất nước đau thương này gây ra. Nhưng vừa nhận ra thì cũng là lúc phải chia tay. Sung sướng và có lẫn sự xúc động ông ôm con và tạm biệt nhưng con bé không muốn ba phải đi. Cho đến khi ông hứa mua cho nó một chiếc lược thì nó mới để cho ba nó đi.

Ở chiến trường tuy chiến tranh đầy ác liệt nhưng ông vẫn cố công làm bằng được chiếc lược ngà. Trong khi làm, ông Sáu cảm thấy vui như đứa trẻ nhận được quà. Ông cố gắng làm tỉ mỉ, thận trọng có công như người thợ bạc. Khi chiếc lược được làm xong ông cảm thấy sung sướng vì mình như đã thực hiện được phần nào lời hứa. Sau đó ông lại khắc trên sống lưng chiếc lược “Yêu nhớ tặng con, Thu của ba”. Hàng đêm nhớ con ông lại đem lược ra ngắm chải lên đầu cho lược thêm bóng, mượt… Trong giờ phút cuối cùng, tuy không đủ sức trăng trối, nhưng tình cha con vẫn sống và trỗi dậy trong con người ông. Ông đưa chiếc lược cho Ba – một người đồng đội thân thiết và nhìn Ba hồi lâu như trăng trối rằng: “Hãy đưa chiếc lược này đến cho Thu”. Cái nhìn đó có thể nói rằng đó là cái nhìn của sự nhờ cậy, tin cậy, gửi gắm cả tâm hồn ông qua đó. Tình cha con đầy thiêng liêng, cao quý trỗi dậy ngay cả khi con người ta đang đối mặt giữa sự sống và cái chết. Khi Ba nhận lời thì ông mới nhắm mắt. Sau này, bác Ba đã gặp Thu – giờ đây là cô gái giao liên dũng cảm và bác đã trao lại kỉ vật đó cho Thu.

Tình cảm ông Sáu dành cho con sâu nặng bao nhiêu, tình cảm Thu dành cho ba cũng nồng nàn bỏng cháy bấy nhiêu. Cô bé không nhận ba bởi cô hiểu nhầm về vết sẹo trên mặt ba. Bức ảnh cha cô mà cô khắc ghi bấy lâu trong tâm khảm không có vết thẹo trên mặt như ông Sáu – người cứ nhận mình là cha bé! Và vì thế, Thu càng phản đối quyết liệt con người ấy bao nhiêu càng thể hiện cô bé yêu ba mình bấy nhiêu. Cái tình yêu ấy thật sâu sắc: nó chỉ có một, không thể chia sẻ cho bất kì ai khác, ngay cả khi đó là người được tất cả mọi người thừa nhận là ba của nó, là người yêu thương và quan tâm đến nó rất chân thành.

Đến lượt mình, Thu cũng đáp lại tình cảm của ba một cách cảm động. Khi biết rằng ông Sáu là ba thật của mình, và vết sẹo trên mặt ông là do thằng Mĩ gây nên, buổi sáng cuối cùng trong những ngày phép của ba “Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.” Không hiểu con bé “nghĩ ngợi sâu xa” điều gì, chỉ biết rằng khi ông Sáu buồn rầu quay lại nhìn nó – không dám lại gần sợ nó lại bỏ chạy như lần trước – nói: “Ba đi nghe con” thì nó bất ngờ lao đến thét lên: Ba, a… a…ba!”. Rồi ôm chặt lấy ông nức nở “Con không cho ba đi”. Đến đây, người đọc mới vỡ lẽ ra rằng Thu thèm được gọi ba như thế nào. “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”. Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba bây giờ trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà. Song, trái ngược mà vẫn nhất quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát được có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi “ba” lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như xé kia cất lên ta thấy nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, thương yêu con vô hạn của người cha.

Sau này, thấu hiểu sâu sắc nguyên nhân gây ra vết thẹo trên mặt cha, Thu đã trở thành một nữ giao liên dũng cảm, can đảm. Cô quyết tâm tiếp bước con đường cha cô đã đi để đánh đuổi kẻ thù của gia đình, kẻ thù của dân tộc.

Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công khi xây dựng tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Đọc thiên truyện, người đọc hẳn đã có lần rơi lệ vì cảm động. Và còn vì thấy trong đó thấp thoáng đâu đây bóng dáng bản thân, của người cha thân yêu của mình nữa. Tình phụ tử đó chính là một trong những thứ tình cảm thiêng liêng nhất trong cõi đời này. Và bởi thế, đọc “Chiếc lược ngà” để ta trân trọng hơn những người thân yêu ruột thịt quanh mình, trân trọng hơn những tình cảm sâu sắc ta đang được nhận. Và hơn hết, đọc thiên truyện ngắn này, ta biết yêu thương, sẻ chia và sống xứng đáng với những đấng sinh thành của bản thân.

Không chỉ gợi những tình cảm trong sáng, cao quý, “Chiếc lược ngà” còn mang đến cho người đọc những bài học nhân sinh đầy nhân ái. Và vì thế, đây thực sự là một thiên truyện hay trong hành trang của những người Việt trẻ!

Phân tích tình cảm cao đẹp của ông Sáu với con trong Chiếc lược ngà

Tình cảm của ông Sáu với con thể hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà nhưng được biểu hiện tập trung, sâu sắc ở phần cuối truyện khi ông Sáu ở trong rừng, tại khu căn cứ.

Nỗi ân hận, day dứt cứ ám ảnh ông nhiều ngày vì ông đã nóng giận đánh con trong những ngày nghỉ phép.

Lời dặn dò của con gái: “Ba về! Ba mua cho con một cây lược ngà nghe ba” đã thôi thúc ông nghĩ đến việc làm một cây lược ngà cho con.

Khi kiếm được khúc ngà voi, ông mừng vô cùng, ông dành hết tâm trí, công sức vào làm một cây lược: “Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, “Tròn sống lưng lược có khắc một làng chữ nhỏ mà ông đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: Yêu nhớ tặng Thu, con của ba”. Chiếc lược ngà đã trở thành một báu vật đối với ông. Nó làm dịu đi nỗi ân hận day dứt. Nó chứa đựng bao tình cảm yêu mến, nhớ hương, mong đợi của người cha trong những ngày xa cách. Nhưng rồi tình cảnh đau thương lại đến với cha con ông Sáu. Ông Sáu hi sinh khi chưa kịp gặp lại con. Chiếc lược ngà chưa tới được tay bé Thu.

Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình yêu thương thắm thiết, sâu nặng muôn đời của cha con ông Sáu mà còn gợi cho ta nghĩ đến nỗi đau của chiến tranh. Chiến tranh gây đau thương mất mát cho biết bao con người, biết bao gia đình.

Phân tích tình cha con trong Chiếc lược ngà

Đại văn hào Andersen từng nói: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng chính cuộc sống vẽ nên.” Dù hiện thực đau khổ đến đâu, vẫn le lói những ánh sáng trong trẻo, ấm áp đong đầy. Đó là thứ ánh sáng diệu kỳ từ “hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người” mà các nhà văn luôn mải miết đi tìm. Và Nguyễn Quang Sáng là một người đi tìm miệt mài như thế. Giữa tháng ngày gian khổ, tối tăm nhất của kháng chiến chống Mỹ, ông vẫn thấy tia sáng xanh ngời từ tình cảm chân thành trong những người dân, người lính. Để rồi, tất cả đã được nhà văn soi chiếu vào tình cha con sâu nặng trong tác phẩm “Chiếc lược ngà”.

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn trưởng thành gắn liền với cả hai cuộc kháng chiến, là một cây đại thụ của văn học cách mạng Việt Nam. Tác phẩm của ông như thâu tóm được cả hồn cốt Nam Bộ, có cái hơi thở đồng bằng, phù sa dòng sông, cái khoáng đạt giản đơn của người dân miền sông nước. Cùng với Cánh đồng hoang, Mùa gió chướng,… “Chiếc lược ngà” cũng nằm trong mạch nguồn ấy. Được viết năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt nhất, truyện ngắn tuy viết về chiến tranh nhưng lại tập trung làm nổi bật tình phụ tử thiêng liêng cao quý. Tựa như câu chuyện cổ tích thời hiện đại, tác phẩm đã làm rung động trái tim bạn đọc bao thế hệ bởi tình yêu thương con thắm thiết bất diệt của Ông Sáu, tình yêu ba sâu nặng đầy kiêu hãnh của bé Thu…..

Tựa như mặt nước ngọt lành và trong veo đến lạ, văn chương luôn phản chiếu nội tâm con người. Bởi thế mà lật giở từng trang sách “Chiếc lược ngà” ta như mở từng cánh cửa, từng bước khám phá tình yêu thương da diết, chân thành dành cho con sâu trong lòng một người cha, người lính.

Là một người con Nam Bộ, ông Sáu chẳng thể làm ngơ khi mảnh đất quê hương bị lũ mọi rợ giày xéo. Nghe tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, ông lên đường cùng dân tộc bước vào cuộc trường chinh. Hạnh phúc gia đình ông xếp lại ngăn nắp trong tim, ông đi kháng chiến khi đứa con gái đâu lòng còn chưa đầy một tuổi. Nỗi nhớ thương con, khao khát gặp con lúc nào cũng thường trực như con sóng cuộn trào nơi tấm lòng người ba ấy. Không giây phút nào ông nguôi nhớ đến con, tình yêu con trở thành động lực, sức mạnh tinh thần vô giá giúp ông thêm chắc tay súng diệt sạch bóng thù để sớm có ngày đoàn tụ.

Và ước muốn cháy bỏng của ông cuối cùng cũng đã thành sự thực. Sau tám năm xa cách ông có dịp về thăm nhà ba ngày. Trên đường trở về “cái tình người cha đã và cứ nôn nao trong dạ”. Thế nên thuyền vừa vào đến, thấy đứa trẻ trạc độ lên chín lên mười tóc ngắn ngang vai, mặc áo bông đỏ đang mải mê chơi nhà chòi dưới gốc xoài ông đã đoán biết đấy là con mình. Phải chăng đó là sức mạnh diệu kỳ của tình máu mủ? Phải chăng từng ngày nơi quân ngũ, người cha ấy đã luôn mường tượng dáng hình của con, hằng khát khao ôm ấp, vỗ về. Cho nên linh cảm ruột thịt đó mới chuẩn xác đến vậy. Nó bồn chồn xao động, nó da diết khôn nguôi, nó như những tế bào hồng cầu trong từng tơ máu, máu còn chảy, tim còn đập thì lòng người không thể nào nguôi ngoai. Và nó làm lý trí trở thành công cụ của con tim. Không thể chờ xuồng cập bến, ông nhón chân nhảy thót lên bờ vội vàng với những bước dài,vừa đi vừa kêu to “thu,con”! Những bước chân như chiếc bản lề cửa, tạm khép lại cuộc đời “người lính” để mở ra cơ hội làm trọn một “người cha” cho ông Sáu. Với ông, chờ đợi thêm một phút một giây nào nữa thôi, có lẽ cũng đủ bóp nghẹt trái tim. từ nôn nao tâm trạng ông Sáu đã chuyển sang nôn nóng. Có lẽ bởi: “Có hai điều không thể bỏ lỡ trong cuộc sống, đó là chuyến xe cuối cùng về nhà và người ta yêu thật lòng” (Nguyễn Nhật Ánh). Đây là lần trở về đầu tiên sau tám năm xa cách và cũng có thể là sau cuối của ông, là cơ hội hiếm hoi để ôm con vào lòng, sống trong tình cha con ấm áp mà ông chưa từng được hưởng. Vậy mà mọi chuyện diễn ra thật éo le. Trong khi ông vừa bước tới vừa dang tay đón chờ thì con bé lại ” giật mình tròn mắt nhìn” , cái nhìn vừa lạ lùng vừa ngơ ngác. Không ghìm nổi xúc động, vết thẹo trên má ông đỏ ửng lên, hai tay vẫn đưa về phía trước “ba đây con, ba đây con”. Người đọc cảm nhận trong giọng nói “lặp bặp run run” ấy, là cả tiếng lòng, cả tâm hồn người cha đang reo lên vì hạnh phúc. Một hạnh phúc vô bờ khi hội ngộ khiến người đàn ông từng vào sinh ra tử chợt nghẹn ngào khôn xiết, tưởng như tất cả là một giấc mơ và chỉ có thể cất tiếng “run run” , khẽ khàng để không thức dậy. Song, với một đứa trẻ chỉ mới tám tuổi, tất cả lại trở thành sự vồ vập thái quá, nôn nóng thái quá,đặc biệt khi vết thẹo trên má ông đỏ ửng lên,dần dật trông rất dễ sợ càng làm con bé nghi ngại. Nó mặt tái đi,vụt chạy , vừa chạy vừa kêu thét “má má”. Phản ứng sợ hãi của bé thu khiến ông Sáu đau đớn hụt hẫng. “Đau đớn khiến mặt anh sầm lại, hai tay buông thõng như bị gãy” ở đây nỗi đau tinh thần được cảm nhận bằng nỗi đau thể xác. Thì ra có một nỗi đau chẳng kém gì súng mìn đạn dược, thì ra sự quay lưng từ chính người thân yêu ruột thịt có thể kéo người ta từ bầu trời hạnh phúc, hi vọng xuống thung lũng đau thương như vậy. Đôi tay dang rộng để chào đón con nhưng nhận lại chỉ là một khoảng trống. Một khoảng trống vô hình mà lại trĩu nặng ngàn cân, làm cánh tay từng gánh vác bao đầu súng, tiêu diệt kẻ thù giờ đây mất hết sức lực và đôi chân từng vượt mọi hang sâu hốc đổ cheo leo chỉ có thể “đứng sững lại”. Phải chăng vì cả cõi lòng người cha ấy đã bị vùi trong thất vọng ập đến quá đỗi bất ngờ? Ngược lại với những mong đợi của ông, ngược lại với khung cảnh thường thấy của những cuộc đoàn viên, hành động bỏ chạy đi của bé Thu còn khiến người cha ấy tan vỡ hơn cả một cuộc chia ly.

Nhưng tình phụ tử sâu nặng nào dễ lụi tàn, ông Sáu vẫn kiên trì dùng tấm lòng chân thành của mình làm chất củi, đốt lên ngọn lửa yêu thương ấm áp để truyền đến,sưởi ấm cho con. Hai ngày ở nhà ông chả dám đi đâu xa chỉ quanh quẩn dỗ dành con. nhưng mọi cố gắng đều vô ích. Mặc kệ những lời nói cử chỉ vỗ về làm thân bé Thu vẫn một mực tỏ ra thờ ơ lạnh lùng. Ông càng xích lại con bé lại càng lùi xa, ông càng yêu thương con bé lại càng lảng tránh. Ông thèm ước được nghe một tiếng “ba” nhưng gọi ông vào ăn cơm con bé cũng nói cộc lốc, phải chắt nước nồi cơm đang sôi nó cũng nhất quyết ko chịu nhờ ông. Bao tiếng đạn nổ bom rơi khốc liệt, ám ảnh người chiến sĩ ấy gắng vượt qua chỉ mong ngày trở về đổi lấy tiếng “ba” từ đứa con thân yêu nhất. Nhưng giờ đây, con gọi cha là “người ta”, chẳng hơn chẳng kém gì người dưng nước lã! Cách cư xử ấy, thái độ ấy của bé Thu, hẳn là đã cứa sâu vào lòng ông Sáu , để lại vết xước lớn, nhức nhói hơn cả vết thẹo trên gương mặt. Khổ tâm hết sức, song ông chỉ biết lắc đầu khe khẽ cười. Quả thực: “Có lẽ vì khổ tâm đến mức không khóc được nên đành phải cười vậy thôi.” Tiếng cười nhưng lại mang thanh âm tiếng khóc, lại là giọt nước mắt dồn nén, theo đường chảy ngược vào trong. Phải chăng đúng như Nguyễn Ngọc Tư từng chiêm nghiệm: “ Nước mắt chảy từ con mắt là thứ thường thôi, có thứ nước mắt không chảy ra kiểu như vậy.” Đó mới là đau đớn tận cùng, gắng gượng dùng nụ cười trên môi che đậy vết nứt trong lòng. cũng từng vì thương con mà Lão Hạc “cười như mếu”, bà cụ Tứ qua ngòi bút Kim Lân cố “tươi cười, đon đả”, không dám để con nhìn thấy bà khóc”. Nhưng khi khổ tâm chất chồng, cuối cùng sẽ đến lúc không thể kìm nén nổi. Trong bữa cơm trưa, có miếng trứng cá ngon, ông Sáu gắp vào bát Thu nhưng con bé lại hất miếng trứng cá đi,như hắt hủi một cách phũ phàng nhất tình cảm của cha. giọt nước tràn ly, vào phút giây tức giận ông vung tay đánh con một cái. Nhưng đó đâu phải hành động bạo lực đáng lên án như người cha vũ phu, đánh con mình trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, người cha “dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát…” Bởi trong lời trách mắng: “Sao mày cứng đầu quá vậy hả” ta còn thấy xen lẫn trong cảm xúc tức giận không sao kìm nén đc là băn khoăn, thất vọng, đau khổ rồi lực bất tòng tâm. Tất cả hiển hiện, sưng tấy trên trang viết, tất cả xé toạc thành vết thương không thể khép miệng trong lòng người cha rất mực thương con nhưng lại bị con kiên quyết chối từ. Ngọn lửa yêu thương mỗi lần bền bỉ thắp sáng lên lần nữa lại tiếp tục bị dòng nước băng giá một mực vùi lấp. Cô bé nào hiểu cho những nỗi niềm giấu kín đang dồn nén trong lòng cha,những nỗi niềm đang bắt buộc phải được trút xuống, được thoát ra. Lúc này, Thu vẫn tỏ ra lì lợm “ngồi im, đầu cúi gằm” sau đó lặng lẽ đứng dậy đi ra xuồng chèo một mạch sang nhà bà ngoại. Tác giả không miêu tả tâm trạng của ông Sáu trước hành động quyết liệt cuối cùng này nhưng chính khoảng lặng đó cũng đủ lắng sâu vào lòng độc giả, đọng lại một nỗi lòng khắc khoải vì con. Yêu chiều không được, cứng rắn cũng không xong, ông Sáu phải làm sao đây? Người cha, người lính trên trang viết Nguyễn Quang Sáng tìm mọi cách làm đủ mọi điều để có được tình cảm từ con, đối lập với bậc sinh thành của chị em Điền trong “ Cánh đồng bất tận” – 1 người cha đối với con “ơ thờ, lạt lẽo, chuyện gì cần nói thì nói vài câu nhát gừng”, 1 người cha “ giống như đồ vật bằng gốm vừa qua cơn lửa lớn, vẫn hình dáng ấy nhưng đã rạn nứt, nên chúng tôi chỉ dám đứng xa mà nhìn, mủ mỉ nâng niu, nếu không thì vỡ mất.”

Đến lúc chia tay, tình phụ tử không chỉ là khoảng lặng nữa, mà thể hiện bằng một nốt giáng trầm hơn qua “đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu” ông sáu nhìn con.Ông muốn mà không dám đến ôm Thu, sợ nó giãy lên bỏ chạy nên chỉ dám nhờ ánh nhìn bộc bạch hộ tâm tư. Đôi mắt như mặt hồ, yên ả, dịu dàng ăm ắp tình thương cho con; nhưng cũng mang nỗi buồn ko ngớt tựa những gợn sóng lăn tăn cứ nối tiếp nhau trải mãi. Ba ngày quý giá sắp trôi qua mất rồi, chưa kịp nghe tiếng ba, đã phải trở lại cùng tiếng súng… Trước lúc lên đường ông chỉ chào nhỏ với giọng buồn buồn ” thôi ba đi nghe con”.ai cũng nghĩ Thu chỉ đứng nhìn như thế,nhưng bất ngờ nó lại kêu lên một tiếng “ba” tức tưởi, vỡ òa. Ông Sáu trong giây phút sững sờ một lần nữa không ghìm nổi xúc động . Người đàn ông bao phen xông pha trận mạc ấy tay ôm con, tay lau nước mắt. Đến đây ta mới thực sự hiểu vì sao giọt nước mắt là “giọt châu của loài người”, là miếng kính biến hình của vũ trụ” (Nam Cao). Giọt nước mắt của ông Sáu rơi xuống, đã ngân vang sự bất ngờ đang reo lên thánh thót, đã lấp lánh niềm hạnh phúc vô bờ của một người cha lần đầu được nghe con gọi ba sau bao nhiêu mong mỏi. Giọt nước mắt đã gột rửa đi mọi buồn khổ để nhường chỗ cho một niềm vui tươi sáng. Nhưng thực cảnh miền Nam thân yêu bấy giờ vẫn còn rất tối tăm. đây cũng có thể là giây phút cuối cùng cha con đc ở cạnh nhau. Vì vậy trong giọt lệ ấy vẫn có cả nỗi nghẹn ngào, tiếc nuối. Và ông Sáu vẫn phải tạm biệt con, lên đường đánh giặc.

Hành trang quan trọng nhất người cha ấy mang tới chiến trường có lẽ là tình phụ tử sâu sắc, là nỗi ân hận vì lỡ đánh con,là lời dặn của con ” ba về ba mua cho con cây lược nghe ba”. Ông quyết định tự làm 1 chiếc lược ngà tặng Thu. Kiếm đc khúc ngà, ông ” hớn hở như một đứa trẻ đc quà ” rồi ” ngồi cưa từng chiếc răng lược tỉ mỉ và cố công như một người thợ bạc”, ” gò lưng tỉ mẩn khắc từng chữ yêu nhớ tặng Thu con của ba” . Tình yêu con đã biến người chiến sĩ ấy trở thành một nghệ nhân – người nghệ nhân chỉ làm một tác phẩm duy nhất trong đời. Tình yêu là con trở thành nét hoa tay đặc biệt nhất để người lính vốn quen với súng đạn, khói bom đã khéo léo hơn bội phần. Lời nói yêu, nhớ Thu nào chỉ khắc lên chiếc lược, mà vốn còn khắc sâu vào lòng ông Sáu từ lâu. Chỉ cần khoảnh khắc con gọi “ba” , với vòng tay ôm và cái hôn thắm thiết đã đủ trở thành động lực lớn lao nhất để người cha ấy cầm súng chiến đấu. Đúng như Haruki Murakami từng nói:”Hạnh phúc luôn ngắn ngủi, nhưng trong những ngày tháng mệt mỏi của cuộc đời , chỉ cần nhớ về một khoảnh khắc hạnh phúc đã từng có, người ta lại có can đảm để sống.” (Ký ức được đánh số). Mỗi đêm nhớ con ông lại mang cây lược ra ngắm rồi mài lên tóc mình cho thêm bóng. Chiếc lược chưa chải được mái tóc Thu lần nào nhưng đã gỡ rối được một phần những tâm trạng ngổn ngang của ông. Nó trở thành cầu nối giữa cha con ông, thay cho lời xin lỗi lúc ông đánh con. Chiếc lược ấy là kết tinh của tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kì diệu thiêng liêng. Cũng kết đọng cả tấm lòng người cha dành cho con là những bức thư tay nhân vật bố của cậu bé Enricô trong “Những tấm lòng cao cả” viết gửi con mình. Bao nhắn nhủ chân thành về lẽ sống, cách làm người, bao yêu thương bày tỏ nơi câu chữ: “Bố rất yêu con, con ạ.” Nhưng nếu Enrico nhận được thư từ cha đều đặn mỗi tháng 1 lần thì bé Thu không được may mắn như vậy.

Ông Sáu ao ước đến ngày gặp lại con, trao cho con cây lược nhưng lại ngã xuống trong một trận càn của giặc. Không còn đủ sức trăn trối điều gì, ông thu tất cả tàn lực lấy cây lược trong túi đưa cho ông Ba và nhìn ông Ba hồi lâu. Ánh nhìn ấy trước lúc hi sinh còn thiêng liêng hơn cả những lời di chúc bởi đó là một sự ủy thác , là ước nguyện cuối cùng của ông, ước nguyện của tình phụ tử. Nếu Voltaire từng quan niệm: “chân lý cuối cùng trên cõi đời này vẫn chỉ là yêu. yêu là sống và còn sống là còn yêu” thì tình phụ tử giữa ông Sáu và bé Thu dường như đã vượt qua giới hạn của thế gian, đời người : “chỉ có tình cha con là kh thể chết đc”. Chiến tranh có thể lấy đi tất cả nhưng không thể giết chết được tình cha con trong trái tim người chiến sĩ bộ đội cụ hồ ấy.

Nếu ví tình cha của ông Sáu như ánh nắng trưa hè rực rỡ, chói ngời tâm trí độc giả thì tình cảm Thu dành cho cha sẽ là ánh nắng ban mai.ban đầu phải để ý kĩ mới thấy lấp ló qua tán lá, và đúng lúc vầng dương lên hẳn, ta mới bất ngờ, ấn tượng vì sức tỏa sáng khắp không gian của nó. Thu sinh ra trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Ông Sáu phải rời nhà đi kháng chiến từ lúc em chưa đầy một tuổi. Lớn lên mà chưa 1 lần đc cảm nhận hơi ấm của tình cha, em chỉ có thể nhìn ba qua tấm ảnh chụp chung với má. Thương nhớ bao nhiêu em cũng chỉ biết mang tấm hình ra ngắm. Hình ảnh cha đẹp đẽ hiền từ luôn in sâu trong tâm trí Thu, dù mới chỉ nhìn qua khung ảnh nhỏ ấy. Tận sâu trái tim cô bé ấy là khao khát cháy bỏng được gặp ba. Sau tám năm xa cách mới được gặp ba lần đầu- người cha bằng xương bằng thịt vậy mà em lại không nhận ra. Với 1 đứa trẻ chưa đầy mười tuổi, một người đàn ông lạ tiến đến đường đột và vồ vập quá mức, ngay lập tức gọi mình là ‘con’ xưng ‘ba’, phản ứng của Thu “giật mình tròn mắt nhìn”, rồi sợ hãi chạy vụt đi cũng dễ hiểu. Đặc biệt khi hình ảnh ba trong tâm trí em vô cùng hiền hậu đẹp đẽ, không hề mang vết thẹo dài trên mặt, lại đỏ ửng, dần dật dễ sợ như vậy.

Yêu cha hết mực nên dù thiếu thốn, khao khát tình cha nhưng em vẫn cự tuyệt mọi dỗ dành. Với em đó là ng đàn ông lạ, không phải ba, em đã tin là như vậy thì không vì đòn roi đe nạt hay lời ngon tiếng ngọt mà thay đổi. Em tìm mọi cách để chối từ ông Sáu: luôn nói trổng hoặc gọi ông là “người ta”. Thử thách lớn nhất là khi phải chắt nước ra khỏi nồi cơm to đang sôi, nó “nhăn nhó”, “luýnh quýnh”, “loay hoay”, tâm lý bối rối của một đứa trẻ tám tuổi hiện lên mồn một. Một là phải chịu khuất phục và gọi ông Sáu là “ba” để được giúp đỡ, hai là nó phải tìm cách làm một mình, sẽ rất khó khăn và nguy hiểm. Chao ôi, trên đời làm gì có ai thích chọn những thứ trắc trở hơn những thứ đơn giản, dễ dàng, trừ khi họ có thứ quý giá hơn cần phải bảo vệ, không thể đánh đổi. Và với bé Thu, một cô bé mới tám tuổi, tiếng “ba” nó cất giữ trân trọng ấy là điều đắt giá nó không thể tùy tiện gọi một người lạ chỉ đột nhiên xuất hiện trong đời nó. Vì yêu, vì kính trọng nên càng không thể đem ra để đổi lấy sự giúp đỡ. Nó phải giữ gìn tiếng gọi thiêng liêng ấy cho người ba thực sự mà nó được biết tới. Dù sẽ nguy hiểm, sẽ khó khăn, nó vẫn dùng cái vá để múc từng vá nước ra ngoài. Sự kiên quyết, thông minh của nó cũng khiến bác Ba, ông Sáu và cả người đọc đôi phần ngỡ ngàng. Không chỉ không muốn trao cho ông Sáu tiếng gọi “ba” mà nó còn một mực cứng rắn, không tiếp nhận tình cảm ông dành cho nó. Trong bữa cơm có miếng trứng cá ngon, ông Sáu lựa ra gắp vài bát Thu thế mà em lại hắt ra, cơm văng tung tóe khắp mâm. rồi vừa bị đánh vừa bị mắng nhưng con bé ko hề tỏ ra hối hận thậm chí còn lì lợm, lặng lẽ gắp miếng trứng vào bát rồi bỏ ra xuồng, còn cố ý khua dậy cột rổn rảng như khiêu khích. phản ứng có phần thái quá ấy như thách thức giới hạn của ông Sáu – người vốn vì thương con nên đã rất bao dung, nhẫn nại và cả người đọc. Nhưng như Nguyên Ngọc từng nói: “ nếu đọc bằng mắt thì chỉ thấy được hình dáng bên ngoài, đọc bằng tâm thì mới thấy được da thịt, đọc bằng hồn thì thấy được cốt tủy”, khi đọc hết tác phẩm và thực sự đặt mình vào vị trí của một cô bé tám tuổi, ta mới hiểu và cảm thông với những gì Thu hành xử. Cách biểu hiện tình cảm và bảo vệ hình tượng người cha trong lòng của em chỉ thật bộc trực, thậm chí là hồn nhiên đến mức đáng giận. Đối với cô bé, sự xuất hiện của ông Sáu như đang đe dọa đến hình tượng của người ba trong bức ảnh mà nó vẫn luôn ấp ủ trong lòng bấy lâu, một đứa trẻ tám tuổi sao có thể kịp thích nghi với những thay đổi bất thường lớn như thế trong cuộc đời chúng? Càng giữ khoảng cách với ông Sáu tức là càng giữ được nguyên vẹn hình ảnh người cha trong tâm trí nó, và đó cũng là cách duy nhất. Sự cương quyết, dữ dội kia thực chất chỉ là hình hài khác của một tình yêu cha vô cùng mãnh liệt, nào phải là thói xấu của một cô bé đỏng đảnh nhiều sách nhiễu, mà đó là sự kiên định, quyết liệt của một người có lập trường mạnh mẽ và yêu ba hết mực.

Nguyễn Quang Sáng đã làm rõ điều đó ở liền sau tác phẩm, rằng Thu thực sự là cây xương rồng bé nhỏ khoác lên lớp vỏ xù xì, gai góc nhưng trong lòng luôn dào dạt mạch nguồn yêu thương với cha. Khi được bà ngoại giải thích về lai lịch của vết sẹo trên má ông Sáu, em mới vỡ lẽ ông thực sự là bậc sinh thành đáng kính của mình. Lời của bà về chuyện ba nó đi đánh Tây bị Tây bắn bị thương,về

tội ác mấy thằng Tây ở đồn đầu vàm đủ tỏ tường tất cả, cũng giống như lời ông Kamaji làm cô bé Chihiro chợt hiểu: “Có 1 thứ mà cháu khó có thể nhận ra. Đó là tình yêu” (phim Vùng đất linh hồn). Tình yêu thiêng liêng từ người cha ruột thịt đã bị vết thẹo dần dật dễ sợ che dấu mất trong hai ngày qua,khiến Thu nhận nhầm đó là sự dỗ dành từ 1 ai đó xa lạ . Ròng rã tám năm, không đủ để đứa con quên đi hình ảnh người cha, nhưng đủ để chiến tranh tàn phá hình dáng một con người. Tâm trí non nớt của em có lẽ chẳng thể tưởng tượng nổi nơi chiến trường có thể khắc lên con người ta những vết thương đau đớn đến thế. Vậy nên khi vỡ lẽ ra tất cả, ” Nó nằm im lăn lộn thở dài như ng lớn”. Thu lúc này có sự khác biệt với những Thiều, những Tường, những Mận rất đỗi vô tư trên trang sách Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh: “trẻ con thì ko biết cách nuôi nấng nỗi buồn dài lâu như người lớn.” Là tình yêu cha đang lớn thêm gấp bội cũng khiến cho tâm hồn em thêm trưởng thành? Để rồi theo tiếng thở dài là hình ảnh mình cư xử lạnh lùng với ba ùa về, như cơn sóng cứ cuộn trào không yên trong tâm trí Thu. Ở ngoài mặt trận cha đã chịu bao đau đớn vậy mà trong mấy ngày nghỉ phép, vì em, ông lại buồn lòng nhiều hơn. Ân hận, rồi tiếc nuối do thời gian ở bên cha không còn bao lâu nữa. Chiến tranh chưa biết bao giờ kết thúc, ngày mai cha đi rồi, biết khi nào mới trở lại để em được sống trong tình phụ tử ấm áp, được chuộc lại lỗi lầm hôm nay?

Buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu lên đường, thái độ của Thu thay đổi đột ngột và cảm động. Nguyễn Quang Sáng đã bắt trọn những chuyển biến ấy và miêu tả nó một cách tinh tế. Bởi những phản ứng quyết liệt trước đây mà giờ đây nó ngại ngần, xấu hổ, chỉ dám đứng tựa cửa nhìn mọi người vây xung quanh ba. Vẻ mặt có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa,” mà sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ.Những trầm tư vương trên nét mặt rồi đọng lại sâu lắng nhất vào đôi mắt: “đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.” Nơi cửa sổ tâm hồn ấy của Thu không còn đóng chặt lại với sự kinh ngạc đến e sợ như lần đầu gặp ông sáu, mà đã rộng mở để thấy bầu trời yêu thương từ cha vời vợi nhường nào và hành động của mình đáng trách đến bao nhiêu. Để rồi biết đăm chiêu hơn, “nghĩ ngợi sâu xa”. Phải chăng Thu đang suy nghĩ, xin lỗi cha như thế nào đây, rồi làm sao để bồi đắp những yêu thương đã lỡ ? Nhưng em đã quên mất đâu có cách nào ngăn thời gian ngừng lại cho mình hoài suy tính,đã đến lúc chia tay. Lời chào của ông sáu cất lên khe khẽ mà như làm chấn động cả mảnh hồn bé nhỏ, “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”. Quả thực Nguyễn Quang Sáng cũng có chung quan điểm sáng tác như Maiacopxki: “Phải tốn cả nghìn cân quặng chữ chỉ để thu về một chữ mà thôi”. Từ “xôn xao” thật đắc địa, vốn là từ tượng thanh nay được nhà văn tinh tế dùng để miêu tả khoảng không gian bất tận trong đôi mắt của Thu. Nó bao la, bâng khuâng và lẻ loi kỳ lạ so với một đứa trẻ mới chỉ tám tuổi. Có lẽ đó là nỗi niềm tích tụ trong tám năm thiếu vắng hình bóng người cha, là nỗi sợ thêm một lần chia ly mà mình con bé không tài nào che giấu nổi nữa. Thế nên nó vỡ òa. Tiếng gọi “ba” xé toạc thinh không, xé toạc cả những ngăn cách ngại ngùng, xấu hổ mà con bé ngần ngừ trước đó. Tiếng gọi ấy tưởng chừng rất quen thuộc, gần gũi, có khi là lời nói đầu tiên của con người trong cuộc đời. Vậy nhưng với bé Thu nó lại là âm thanh đã phải dồn nén bao lâu nay, chứa chan biết bao nhớ nhung mong đợi.Nhưng cũng chính vì thế mà tiếng gọi ấy trở nên thiêng liêng và đong đầy cảm xúc hơn bao giờ hết. “Nó nhanh như một con sóc chạy tót lên và dang 2 tay ôm cổ ba nó. Nó vừa ôm vừa nói trong tiếng khóc. Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!” Đọc đến đây , ta nhớ đến cảnh gặp lại đầy xúc động của bé Hồng với mẹ trên trang viết “Trong lòng mẹ”, khi cậu bé cũng “òa lên khóc rồi cứ thế nức nở.” Có lẽ, với những đứa trẻ thiếu thốn tình cảm từ cha, hoặc mẹ, giây phút đoàn tụ thật sự là “một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc.” (Nguyên Hồng). Bởi thế nên bé Thu vội vã hôn ba nó: “hôn tóc, hôn vai, hôn cả lên vết thẹo dài”. Vết thẹo từng là thứ chia cắt cha con , giờ lại là thứ nó tự hào nhất, thứ hiện thân cho sự dũng cảm và can trường của cha nó, như một huy chương cho tấm lòng nhiệt thành đã xả thân vì tổ quốc mà nó sẽ trân trọng, kiêu hãnh hết đời này. Con bé vồ vập như vậy vì muốn được cảm nhận tình cảm của cha cho bằng hết trước khi ông Sáu lại phải đi xa. Cách bộc lộ tình cảm có phần tham lam này đã thể hiện rõ tấm lòng muốn bù đắp lại sự lạnh nhạt trong những ngày qua, và còn xuất phát từ nỗi sợ rằng sẽ còn rất lâu nữa, thậm chí ko bao giờ em được gặp ông Sáu lần thứ hai. Tình yêu Thu dành cho ba qua cách thể hiện ngây ngô, vụng về lại càng đáng quý, xúc động hơn. Và nhờ đó ta hiểu vì sao Colleen Oakland trong tác phẩm “Mạnh hơn cái chết” đã nói: “Tình yêu vốn xộc xệch. Nó không đến với chúng ta trong một chiếc hộp gói nơ hoàn hảo. Nó giống như món quà của một đứa bé, với những nét sáp màu nguệch ngoạc và móp méo. Không hoàn hảo. Nhưng vẫn cứ là một món quà.”

Trong cuốn sách “Yêu những gì không hoàn hảo”, Đại đức Haemin từng viết: “Con người ta chính là lò sưởi. Nhờ có nhau mà chúng ta có thể sưởi ấm cả thể xác lẫn tâm hồn.” Có lẽ vì vậy mà đọc những câu văn mộc mạc trên trang sách Chiếc lược ngà mà sao ta cứ cảm thấy có gì đó thật ấm áp trong lòng. Tình cha con giữa bé Thu và ông Sáu đã đốt lên một ngọn lửa nồng ấm, xua tan bao giá lạnh của thời chiến tranh khắc khổ. Và chất củi nhen lên ánh sáng yêu thương ấy chính là nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, đặc biệt là tâm lý của nhân vật trẻ em rất tinh tế; một tình huống hết sức chặt chẽ, hấp dẫn xoay quanh những tình huống bất ngờ nhưng tự nhiên và hợp lý; cách kể chuyện của tự nhiên và ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ. Tài năng của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, tình phụ tử thiêng liêng giữa ông Sáu và bé Thu bởi thế sẽ sáng mãi trên bầu trời văn học và trong trái tim độc giả muôn đời.

Xem thêm:  Cách viết review tiếng Anh

Nội dung trên đây,admin Abcland.Vn đã tổng hợp và gửi tới bạn đọc chi tiết về chủ đề “Văn mẫu lớp 9: Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà❤️️”. Admin hy vọng bài viết chúng tôi chia sẻ về “Văn mẫu lớp 9: Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà” sẽ giúp có nhiều thông tin hơn về “Văn mẫu lớp 9: Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà [ ❤️️❤️️ ]”. Hãy đóng góp ý kiến để abcland.vn biên soạn bài viết chất lượng hơn về “Văn mẫu lớp 9: Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà” bạn nhé.

Bài viết “Văn mẫu lớp 9: Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà” được đăng bởi vào ngày 2022-05-18 19:07:05. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Xem thêm về Văn mẫu lớp 9: Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà
#Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #tình #cảm #cha #con #trong #Chiếc #lược #ngà

Truyện ngắn Chiếc lược ngà mang tới cho người đọc câu chuyện cảm động về tình cha con sâu nặng, thiêng liêng. Với 8 bài Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng sẽ giúp các em hiểu sâu sắc hơn.

Sau khi đọc xong Chiếc lược ngà, người đọc không chỉ cảm nhận được tình cảm cha con sâu nặng, mà còn thấm thía những mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra, khiến gia đình li tán. Chi tiết mời các em cùng theo dõi bài viết để ngày càng học tốt môn Văn 9.
Đề bài: Phân tích tình cảm cha con trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
Dàn ý phân tích tình cảm cha con trong truyện Chiếc lược ngà
Dàn ý 1
I. Mở bài
– Giới thiệu tác giả: Nguyễn Quang Sáng: Nguyễn Quang Sáng là nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam.
– Giới thiệu tác phẩm: Chiếc lược ngà
Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” ra đời năm 1966, những năm tháng gian khổ, đau thương nhất của đồng bào Nam Bộ trong 30 năm chiến tranh.
Truyện thể hiện cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.
– Giới thiệu khái quát về tình cảm cha con của ông Sáu
II. Thân bài
1. Tóm tắt truyện
Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” xoay quanh tình huống gặp mặt của bé Thu và ông Sáu.
Khi ông Sáu đi kháng chiến, bé Thu chưa đầy một tuổi. Tám năm trời cha con em chỉ biết nhau thông qua 2 tấm ảnh. Lần nghỉ phép ba ngày của ông Sáu là cơ hội hiếm hoi để ba con Thu gặp gỡ, bày tỏ tình phụ tử. Nhưng bé Thu lại không chịu nhận cha vì vết thẹo trên má làm ông Sáu không giống như trong tấm ảnh. Đến lúc Thu nhận ra thì cũng là giây phút ba em lên đường tiếp tục đi chiến đấu. Và lần gặp mặt ấy là lần đầu tiên, duy nhất, cuối cùng của cha con Thu.
2. Phân tích
* Tình cảm của ông Sáu đối với con gái nhỏ được biểu hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà.
a. Trên đường về thăm nhà
Trong lòng ông bồi hồi xúc động: cái tình người cha cứ nôn nao trong lòng ông. Người cha được về thăm nhà sau bao nhiêu năm ở chiến khu.
Khao khát đốt lòng ông là được gặp con, là được nghe con gọi tiếng ba, để được sống trong tình cảm cha con, mà lâu nay ông chưa từng được sống, bấy lâu ông mong đợi.
Khi trông thấy đứa trẻ chơi trước sân nhà, ông đã cất tiếng gọi con thân thương trìu mến bằng tất cả tấm lòng mình: Thu con! Ba đây con! Ba đây con”.
=> Tiếng gọi thổn thức của người cha cất lên từ sâu thẳm trái tim của người lính sau bao năm xa cách làm xao động tâm hồn người đọc. Nhưng trái với niềm mong đợi của ông, những tưởng bé Thu sẽ ào tới, ôm lấy thoả những tháng ngày xa cách. Nhưng không , ông hẫng hụt bất ngờ khi thấy: “Bé tròn mắt ngơ ngác nhìn rồi sợ hãi bỏ chạy” khiến ông Sáu sững sờ, thất vọng, rơi vào tâm trạng hụt hẫng.
b. Những ngày ở bên con
– Trong ba ngày phép ngắn ngủi, ông luôn ở bên con không đi đâu xa, suốt ngày chỉ tìm cách an ủi vỗ về nó.
Ông tìm mọi cách để mong được nghe một tiếng ba” nhưng đều thất bại. Khi má bảo Thu kêu ba vô ăn cơm, dọa đánh để cô bé gọi ba một tiếng. Thu nói trống không: “Con kêu rồi người ta không nghe”. Hai từ “người ta” mà Thu kêu làm ông đau lòng, khổ tâm.
Trong bữa cơm, bằng lòng thương của người cha ông Sáu gắp cho con cái trứng cá to và vàng ươm, ông tưởng con sẽ đón nhận vậy mà nó bất thần hắt cái trứng cá ra khỏi chén. Nỗi đau khổ trong ba ngày nén chịu trào lên, ông giận quá đánh con đã làm mất tia hy vọng cuối cùng về tình phụ tử.
c. Trong những ngày ở khu căn cứ
Anh ân hận vì đã trót đánh con. Nhớ lời con dặn “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt.
Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước đầu tiên mà cũng là duy nhất.
=> Cho nên, nó cứ thôi thúc trong lòng. Kiếm cho con cây lược, trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng.
Trước lúc hy sinh, “dường như chi có tình cha con là không thể chết”, không còn đủ sức trăng trôi điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc đưa tay vào túi, móc cái lược đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cử nhìn bạn hồi lâu.
=> Nhưng đó là điều trăng trối không lời, nó rõ ràng và thiêng liêng hơn cả một lời di chúc. Bởi đó là sự ủy thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân: ước nguyện của tình phụ tử! Từ lúc ấy, cây lược bằng ngà đã trở thành kỷ vật, thành biểu tượng thiêng liêng của tình phụ tử. Những dòng cuối cùng của truyện khép lại trong nỗi buồn mênh mông mà chứa chan ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
III. Kết bài
Khẳng định giá trị của tác phẩm.
Tình cảm của em dành cho tác phẩm cũng như bài văn: Sau khi học xong truyện Chiếc lược ngà, em thấy tình cảm cha con nói riêng, tình cảm gia đình nói chung là tình cảm cao quý. Lớp trẻ chúng ta hôm nay được sống trong hòa bình không thể không nhớ đến sự hi sinh của những người như ông Sáu. Mọi người phải sống và làm việc sao cho xứng đáng với các tình cảm cao quý đó. Đây cũng là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn” cần kế thừa và gìn giữ, phát huy.
Dàn ý 2
I. Mở bài
Giới thiệu tác giả: Nguyễn Quang Sáng là nhà văn gắn liền với miền đất Nam Bộ, văn ông có giọng điệu tự nhiên, thân mật, dân dã, ngôn ngữ gần với khẩu ngữ, lời ăn tiếng nói của nhân dân Nam Bộ.
Truyện ngắn Chiếc lược ngà được sáng tác năm 1966 đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.
II. Thân bài
* Tình cảm cha con trong truyện ngắn này được thể hiện từ hai phía: tình cảm của con dành cho cha và tình cảm của cha dành cho con.
1. Tình cảm của bé Thu dành cho ông Sáu
– Khi chưa nhận ra ông Sáu với vết thẹo dài trên mặt, bé Thu đã có thái độ xa lánh, hành động cự tuyệt và những lời nói cử chỉ khiến ông Sáu phải đau lòng: (hét toáng lên khi nhìn thấy ba, toàn nói lời trống không, nhất định không chịu nhờ ông Sáu chắt nước cơm cho, hất cái trứng cá…).
=> Tất cả những hành động ấy đã thể hiện được cá tính mạnh mẽ và tình cảm yêu thương rạch ròi của cô bé.
– Khi nhận ra ông Sáu là cha mình, trong buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu phải lên đường, thái độ, hành động của bé Thu đột ngột thay đổi:
Nó bỗng kêu thét lên “ba” – tiếng kêu như xé tan sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người.
Cô bé chạy xô tới, dang hai tay ôm lấy cổ ba, hôn ba cùng khắp (hôn tóc, hôn cổ, hôn vai, hôn vết thẹo), dang cả hai chân để câu chặt lấy ba, đôi vai nhỏ bé run run. Tình yêu thương ba được bộc lộ một cách mãnh liệt, dâng trào, không thể kìm nén nổi. Em yêu ba, nhớ ba, mong ba. Nay tình cảm ấy mới có dịp vỡ òa ra nên vô cùng mạnh mẽ, hối hả, cuống quýt.
2. Tình cảm của ông Sáu dành cho con
Khi bị con từ chối, ông cảm thấy vô cùng hụt hẫng, đau khổ, cáu giận, không thể kìm chế nổi. Ông đã đánh con vì nó không chịu nhận mình. Đây là biểu hiện đau khổ tột cùng của người cha khi bị con khước từ.
Về đơn vị, ông day dứt, ân hận vì trong lúc nóng giận đã đánh con. Chi tiết này thể hiện tình yêu con tha thiết.
Khi kiếm được khúc ngà voi, ông vô cùng vui mừng sung sướng, dành hết tâm trí, công sức vào việc làm cây lược. Chiếc lược đã trở thành vật báu thiêng liêng đối với ông Sáu. Nó làm dịu đi những ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến của ông với đứa con xa cách nơi quê nhà.
Trước lúc hi sinh, lời trăng trối sau cùng, ông muốn nhờ bạn trao tận tay chiếc lược ngà cho con.
III. Kết bài
Truyện ngắn Chiếc lược ngà đã khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc. Tình cảm ấy càng trở nên cao đẹp, thiêng liêng hơn trong những cảnh ngộ éo le của cuộc chiến tranh tàn khốc.
Phân tích tình cha con trong Chiếc lược ngà
Nguyễn Quang Sáng là nhà văn gốc An Giang, những tác phẩm của ông gắn liền với vùng đất và con người miền Tây Nam Bộ. “Chiếc lược ngà” là một tác phẩm hay và tiêu biểu của ông. Bằng việc sáng tạo tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lý cùng nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật, truyện đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp của cha con ông Sáu trong cảnh ngộ éo le của cuộc chiến tranh.
Trong chiến tranh, sự mất mát, thiệt thòi, hy sinh về tình cảm gia đình là điều tất nhiên. Ông Sáu xa nhà đi theo tiếng gọi của kháng chiến khi con gái đầu lòng mới tròn một tuổi. Ông trở về thăm nhà sau tám năm xa cách gia đình, nhưng trớ trêu thay, bé Thu không nhận ra ông là ba. Khi vừa gặp gỡ, Thu ngờ vực, lảng tránh, thậm chí còn bỏ chạy vì sợ hãi bởi “vết thẹo bên má phải cứ mỗi khi anh xúc động lại đỏ ửng lên, giật giật trông rất dễ sợ”.
Trong những ngày ông ở nhà, Thu kiên quyết không nhận ông là ba mặc dù ông đã tìm mọi cách để gắn kết tình cha con với cô bé. Sự cương ngạnh của cô bé không đáng trách vì em còn quá nhỏ để có thể hiểu được những khó khăn, mất mát và xa cách mà chiến tranh mang lại và em cũng chưa thể sẵn sàng để đón nhận người ba sau một khoảng thời gian dài như thế.
Em không nhận ông Sáu là cha vì sau nhiều năm, chiến tranh đã khiến ông có vết thẹo dài trên má không giống bức hình chụp chung với má mà em biết. Điều đó chứng tỏ Thu có tình cảm dành cho ba nhưng chỉ là do em chưa sẵn sàng. Em chưa biết chắc đó là ba nên không thể biểu lộ tình cảm một cách tự nhiên được.
Buổi sáng sớm cuối cùng trước khi ông Sáu lên đường trở lại chiến khu, thái độ của Thu đột nhiên thay đổi. Trong đêm bỏ về nhà ngoại Thu đã được bà giải thích về vết sẹo trên má của ba. Bé hiểu ra, cảm thấy ân hận và hối tiếc vô cùng: “nghe bà kể, nó nằm im lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Lúc chia tay “vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của bé thật dễ thương”.
Khi ông Sáu ngậm ngùi nhìn con để chào từ biệt, “đôi mắt mênh mông của con bé xôn xao” tình cha con đã dồn nén bấy lâu nay chợt vùng lên mạnh mẽ, vô cùng hối hả, cuống quýt. Thu thét lên gọi ba “tiếng kêu của nó như tiếng xé”, “xé tan sự im lặng và xé cả ruột gan của mọi người, nghe thật xót xa”. Hành động của cô bé cũng thay đổi “nó nhảy thót lên, dang cả hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó hôn ba nó cùng khắp, hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”…
Tất cả những biểu hiện đó của bé Thu đều bắt nguồn từ tình cảm thương yêu và nhớ mong dành cho người ba mà nó hằng tôn kính, tôn thờ và không ai có thể thay thế được. Ở Thu sự ương bướng và mạnh mẽ nhưng vẫn có nét ngây thơ, hồn nhiên của con trẻ. Bằng tâm hồn tinh tế, một trái tim nhân hậu và chứa chan tình yêu thương đối với tình cảm gia đình, Nguyễn Quang Sáng dường như đã cảm nhận đến sâu sắc nhất những biểu hiện tình cảm của nhân vật để miêu tả một cách sinh động và tinh tế.
Tình cảm của ông Sáu đối với bé Thu được biểu hiện qua chuyến về thăm nhà sau tám năm xa cách. Khi xuồng còn chưa kịp cập bến, nhìn thấy con gái ông đã vội vàng “nhảy thót lên, khom người, hai tay đưa về phía trước, miệng lắp bắp: “ba đây con! ba đây con””. Ông cứ tưởng sẽ ào tới, ôm lấy cổ ba cho thỏa những ngày tháng xa rời. Nhưng không, ông hụt hẫng khi “bé tròn mắt ngơ ngác nhìn rồi sợ hãi bỏ chạy”.
Thời gian ở nhà không nhiều nên ông Sáu chỉ ở nhà tìm cách gần gũi, gắn kết với con, chỉ mong nghe một tiếng “ba” từ con gái mà không được. Có lúc giận quá ông đã không kiềm chế mà đánh con. Lúc chia tay, tình yêu mãnh liệt của bé Thu khiến ông “một tay ôm con, tay kia lấy khăn chấm nước mắt”.
Càng cảm động và đau đớn hơn khi biết rằng lần đầu tiên này cũng chính là lần cuối cùng anh được nghe tiếng gọi ba thân thương từ bé Thu, bởi vì sau đó, anh đã không thể trở về một lần nào nữa!. Trong những ngày ở chiến khu, anh ân hận vì những lần đã trót đánh con. Khi nhặt được một khúc ngà voi anh vui mừng như trẻ nhỏ “mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”.
Những ngày sau đó tất cả tình cảm yêu quý, nhớ thương con anh đều dồn vô việc làm cây lược. Anh “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng và tỉ mỉ”, anh còn khắc lên “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”… Những lúc nhớ con anh mang cây lược ra chải lên tóc mình cho cây lược thêm óng mượt.
Những lúc ấy anh tha thiết mong có một lần về phép thăm nhà để anh tự tay mình cầm cây lược chải lên mái tóc cho con… Nhưng chiến tranh tàn khốc đã cướp mất giấc mơ đó, khiến anh chẳng bao giờ có thể trở về bên con gái mình được nữa. Anh đã hy sinh trong một trận càn quét lớn của địch. Những lời trăn trối cuối cùng “dường như chỉ có tình cha con là không thể chết”, anh cầm cây lược trao cho anh Ba với niềm mong mỏi không còn có thể cất được thành lời.
Từ lúc ấy, cây lược bằng ngà đã trở thành một kỷ vật tình cha con, thành biểu tượng thiêng liêng của tình phụ tử. Những dòng cuối cùng của truyện khép lại trong nỗi buồn như cắt vào tim mà chứa chan ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Câu chuyện cảm động của cha con ông Sáu đã phản ánh giá trị hiện thực trong chiến tranh. Chiến tranh ác liệt và phi nghĩa đã cướp mất đi hạnh phúc gia đình của bao nhiêu cuộc đời. Tác giả đã xây dựng một tình huống truyện độc đáo và miêu tả tâm lý nhân vật rất thực và hợp lý, chỉ có trong chiến tranh và nhờ tình huống này mà tình phụ tử được khắc sâu tô đậm như một lẽ sống. Qua đó, Nguyễn Quang Sáng cũng bộc lộ thái độ căm ghét với chiến tranh. Và vì vậy, giá trị nhân đạo của tác phẩm càng nâng cao.
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 1
Trong khói lửa chiến tranh, người ta cứ ngỡ tưởng rằng, trong các tác phẩm văn học thời kì đó, chỉ có bom mìn, lửa đạn, chỉ có đau thương và mất mát, chỉ có máu và nước mắt chan hòa cùng với nhau… nhưng có một tác phẩm viết về tình cha con thật nhẹ nhàng, sâu lặng, thấm thía và cảm động vẫn cứ lặng lẽ xuất hiện ngay giữa trận địa chiến đấu chống quân thù, đó là truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” là một trong các truyện ngắn thành công nhất trong sự nghiệp cầm bút của ông. Tác phẩm được sáng tác năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc đang diễn ra rất quyết liệt. Qua tác phẩm, người đọc thấy được tình cảm cha con thật đẹp, thiêng liêng, cao cả trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.
Sau tám năm ròng đi lính xa cách gia đình, anh Sáu được phép về thăm nhà, thăm con, trong lòng anh nôn nao, mong ngóng muốn được gặp con và ôm con vào lòng ngay tức khắc. Vì thế, không đợi thuyền cập bến, anh Sáu đã “nhón chân nhảy thót lên bờ, xô chiếc xuồng tạt ra” rồi “bước vội vàng với những bước dài”, “miệng kêu to tên con, vừa bước vừa khom người đưa tay đón chờ con”. “Anh không kìm nổi nỗi xúc động” khi gặp lại con, vết sẹo dài bên má lại đỏ ửng, giần giật trông dễ sợ. Giọng lắp bắp, run run: “Ba đây con!, Ba đây con!”. Nhưng trái lại với cảm xúc đó của anh, bé Thu sợ hãi, bỏ chạy, không nhận ra cha mình. “Anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”. Tâm trạng anh Sáu đau khổ tột cùng, anh mong ngóng được con chạy lại ôm mình nhưng đứa con bé bỏng, ngây thơ lại xa lánh, hoảng sợ khiến anh hụt hẫng, đau đớn và thất vọng.
Trong ba ngày nghỉ phép ở nhà, anh tìm mọi cách để được bé Thu gọi một tiếng “ba”. Nhưng dường như mọi sự cố gắng của anh đều thất bại, từ việc anh “giả vờ không nghe” lúc bé mời ăn cơm, cho đến việc “dồn nó vào thế bí” khi chắt nước cơm đều không có kết quả. Trong bữa ăn, anh gắp cái trứng cá vào chén của bé, bé đã hất cái trứng cá ra ngoài làm cơm văng tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh con, con bé bỏ sang nhà ngoại. Anh khao khát tình cảm của con bao nhiêu thì con bé lại hoàn toàn lạnh lùng trước mọi tình cảm vồ vập của cha bấy nhiêu. Anh càng muốn xích gần nó, nó lại càng lùi xa; anh càng chiều thương nó, nó lại càng lẩn tránh; anh càng mong được nghe tiếng ba thì nó lại càng không gọi. Anh kiên nhẫn, đợi chờ tình cảm của con “suốt mấy ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con”, “anh quay lại nhìn con vừa khẽ lắc đầu, vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được nên anh phải cười vậy thôi”.
Sáng hôm sau, khi chuẩn bị phải xa gia đình, tiếp tục tham gia chiến đấu, anh Sáu rất muốn được ôm con và hôn con nhưng lại sợ nó giãy lên lại bỏ chạy, nên “anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi ấy, bé Thu đứng vào một góc nhà, tựa cửa và nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Nhưng thái độ và hành động của bé khác hoàn toàn mọi khi: “nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu”, “đôi mắt mông mông của con bé bỗng xôn xao”, “tình cảm cha con như bỗng trỗi dậy trong người nó”, “nó kêu thét lên: “Ba…a…a…ba!”. Sự khao khát tình cảm cha bị kìm nén suốt mấy năm, nay bỗng bật lên xé tan cả sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, “nghe thật xót xa”. Thế rồi, nó vừa kêu, vừa chạy tới, nhanh như một con sóc, “nó chạy thót lên và dang hai tay ôm lấy cổ ba nó”. Sự xúc động ngẹn ngào đã khiến “làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên”. Nó hôn khắp người anh Sáu, “hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”. Anh Sáu “không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con”. Đó là giọt nước mắt của hạnh phúc, của tình thương yêu mà người cha dành cho con sau tám năm ròng xa cách.
Sợ cha đi mất, “chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân câu lấy ba nó và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Sau khi nghe ông Sáu nói: “Ba đi rồi ba về với con”, bé Thu thét lên: “không!”. Vừa khóc vừa không cho cha đi. Giọt nước mắt ấy là biểu hiện của tình cha con ấm áp, của sự hạnh phúc vỡ òa khi nhận ra cha sau tám năm xa cách, lại vừa xen lẫn cả sự ăn năn, hối hận vì không kịp nhận ra cha sớm hơn chút nữa…Chứng kiến cảnh ngộ ấy, có người đã không cầm được nước mắt, còn bác Ba thì cảm thấy như có bàn tay nắm lấy trái tim mình mà bóp thắt lại…
Qua thái độ và hành động của bé Thu trước và sau khi nhận ra ông Sáu là cha mình, người đọc thấy được đằng sau sự hồn nhiên, ngây thơ và cứng đầu, bướng bỉnh của bé là tình cảm cha con sâu nặng, bền chặt, thiêng liêng. Trước đó, bé không chịu nhận cha, bởi đơn giản là vì bé thấy người cha của hiện tại trước mắt khác với tấm hình chụp chung với má của bé quá. Vả lại Thu còn quá bé bỏng để có thể thấu hiểu được sự khắc nghiệt của cuộc sống, của chiến tranh và người lớn cũng chưa kịp giải thích cho bé hiểu nên bé không tin là người có vết sẹo trên mặt kia là ba của mình. Đồng thời, điều đó cũng chứng tỏ tình cảm sâu sắc của bé dành cho ba. Bé chỉ yêu, chỉ nhận ba khi biết chính xác đó là ba của bé mà thôi. Cho nên, những phản ứng sau này trước khi anh Sáu lên đường của bé Thu đã dâng đầy lên rồi vỡ òa ra thành tiếng khóc, tiếng nấc đến nghẹn ngào, chứng tỏ được tình cảm mà bé dành cho cha cũng mãnh liệt, cũng khát khao giống như anh Sáu dành cho bé Thu vậy.
Không dừng lại ở đó, tình cha con anh Sáu sâu nặng, bền chặt và thiêng liêng còn được thể hiện khi anh trở về đơn vị mặt trận. Anh day dứt, ân hận vì đã nóng giận đánh con. Và anh đã dồn tất cả tình thương, nỗi nhớ con bằng việc làm một cây lược ngà – lời hứa với con trước lúc chia tay. Vì thế, khi kiếm được khúc ngà voi, lòng anh “hớn hở như một đứa trẻ được quà”, rồi dành hết tâm trí, tình cảm vào làm một cây lược. “Anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Trên sống lưng của chiếc lược có khắc dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” mà ông gò lưng, khắc từng nét một. Chiếc lược ngà phần nào gỡ rối được tâm trạng của người cha. Chiếc lược trở thành vật quý giá mà ông dồn tất cả tình cảm yêu thương con của người cha sau tám năm ròng xa cách. Vì thế, mỗi khi nhớ con, ông lại mang chiếc lược ra ngắm và chải lên tóc mình cho thêm bóng, thêm mượt.
Nhưng rồi anh Sáu đã hi sinh trong một trận càn của giặc, khi còn chưa kịp trao cây lược cho con gái. Trước lúc tắt thở, không còn sức trăng trối lại điều gì, “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”, anh đã lấy cây lược mà anh thường mang theo bên mình rồi trao cho bác Ba – người bạn đồng đội của mình và nhìn người bạn một hồi lâu, cái nhìn như gửi gắm sự ủy thác thiêng liêng. Chỉ khi nhận được lời hứa của bác Ba, “mang về tận tay trao cho cháu” thì người cha mới nhắm mắt, xuôi tay. Điều đó cho ta thấy tình cha con mãnh liệt và tha thiết của anh Sáu dành cho con gái yêu bé bỏng của mình.
Để rồi sau này, bé Thu lớn lên, trở thành cô giao liên xinh đẹp, dũng cảm, bước tiếp con đường cách mạng mà cha cô đã từng đi. Sau ba năm ngày mất của anh Sáu, cô nhận được chiếc lược ngà mà bác Ba gửi, nhìn dòng chữ khắc ghi “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”, cô cảm thấy như được gặp lại chính bóng hình người cha thân yêu. Cô đã không kìm được lòng mình, “hai giọt lệ sắp rơi xuống bỗng vỡ ra tràn đầy qua đôi mắt”. Và giọt nước mắt của Thu chính là giọt nước mắt của tình phụ tử sâu lặng, vĩnh hằng, bất biến!.
Tóm lại, qua câu chuyện, người đọc không chỉ cảm nhận được tình cảm cha con sâu nặng của anh Sáu mà còn thấm thía về những đau thương, mất mát, éo le mà chiến tranh đã gây ra, khiến cho gia đình phải li tán, vợ xa chồng, con xa cha. Đồng thời qua truyện, người đọc cũng thấy được những hi sinh thầm lặng mà cao cả của những người lính trong chiến tranh đối với quê hương, đất nước, vì hòa bình dân tộc. Từ đó, ta càng cảm thấy trân trọng hơn nền hòa bình dân tộc và càng quí trọng hơn tình cảm gia đình mà mở rộng ra là tình yêu quê hương đất nước.
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 2
Trong mỗi chúng ta, ai mà chẳng được sống trong những giây phút xúc động của tình cảm gia đình. Đến với văn học ta càng cảm nhận rõ nét hơn sự rung cảm đến tột cùng đó. Nếu đến với ” Bếp lửa” của Bằng Việt ta được sống lại cuộc sống êm đềm bên người bà… Đến với ” Tắt đèn” của Ngô Tất Tố ta được chìm ngập trong tình mẹ con sâu nặng…Thì đến với tác phẩm ” Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện thật cảm động tình cảm cha con của ông Sáu và bé Thu.
Dưới cây bút tài ba của nhà văn ta được đến với những tình huống vô cùng độc đáo và bất ngờ, qua đó càng nhấn mạnh tình cảm cha con sâu sắc cao đẹp trong cảnh ngộ éo le. Cái cảnh ngộ đã làm bé Thu và ông Sáu trở nên xa cách và lạnh lùng.
Sau tám năm xa cách gia đình, vợ con để đi chiến đấu lúc nào ông Sáu cũng nuôi trong mình hy vọng là được về thăm nhà. Thế rồi cái ước mơ đó đã trở thành hiện thực, ông được về thăm nhà, thăm vợ con. Lúc về đến nhà ông vô cùng hồi hộp được nhìn thấy đứa con sau bao năm xa cách, nhưng ông càng hy vọng bao nhiêu thì càng thất vọng bấy nhiêu. Bé Thu – con gái ông đã không nhận ra cha bởi vì cái vết thẹo dài trên má. Đã làm cho ông Sáu đau lòng nhưng ông vẫn yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Chỉ vì cái vết thẹo mà chiến tranh tàn khốc đã gây nên đã tạo ra những bi kịch đáng buồn, là bức rào ngăn cản cha con.
Đọc tác phẩm, ta thấy trong mình sục sôi sự căm ghét chiến tranh, không những gây nên sự hy sinh đau khổ mà còn gây lên những trớ trêu mà ngay cả những đứa trẻ thơ ngây, hồn nhiên cũng phải gánh chịu. Hành động chạy vụt đi của bé Thu khi ấy cũng chỉ là xuất phát từ tình yêu mà bé dành cho cha, vì người cha trước mặt không giống với người cha trong ảnh mà mẹ đã chỉ. Bé cũng chỉ là nạn nhân của chiến tranh, không được sống gần gũi, yêu thương của cha mà phải xa cha từ nhỏ. Nhưng vết thẹo dài trên mặt ấy chỉ là bức cản tạm thời, nó đã không che lấp được tình cha con. Tình cha con sâu nặng đã vượt lên trên tất cả sự đau thương mất mát để được bên nhau. Tuy chỉ là nhưng giây phút ngắn ngủi nhưng chứa đựng là những kỷ niệm khó quên trong tâm hồn bé Thu và ông Sáu.
Mà có lẽ, ta không thể không xúc động trước tình cảm yêu thương tha thiết của ông Sáu dành cho đứa con gái.Ôi ! ta phải thốt lên trước những hành động suy nghĩ của ông Sáu khi ở căn cứ. Vì nỗi nhớ thương con da diết đã khiến ông dồn hết tâm trí và sức lực những lúc dỗi dãi ông chau chuốt làm cho con một chiếc lược thật đẹp bằng ngà voi. Cái hình ảnh ấy cứ thấp thoáng đâu đây: ” Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Chiếc lược đã trở thành vật thiêng liêng quý giá chứa đựng bao nỗi nhớ thương yêu con của ông Sáu. Ông đã từng tưởng tượng cái giây phút hạnh phúc khi được tận tay trao chiếc lược cho con nhưng tất cả đã trở thành kỷ niệm, ông Sáu đã hy sinh. Một lần nữa người đọc lại thấm thía về sự mất mát hy sinh của chiến tranh.
Tóm lại, khi đọc tác phẩm ” Chiếc lược ngà” với cốt truyện chặt chẽ, bất ngờ đã đưa người đọc đến với tình cảm cha con sâu nặng nhưng vô cùng éo le trong cảnh ngộ chiến tranh. Qua đó Nguyễn Quang Sáng muốn gửi đến bạn đọc rằng : tình cảm cha con là một tình cảm vô cùng thiêng liêng và cao quý đối với mỗi chúng ta. Vậy nên chúng ta hãy biết trân trọng tình cảm và quý mến tình cảm ấy.
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 3
Nguyễn Quang Sáng là một cây bút truyện ngắn nổi tiếng trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Tác phẩm của ông thường viết về cuộc sống và con người Nam Bộ cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Truyện ngắn “Chiếc lược Ngà” được viết năm 1966, lúc tác giả hoạt động cách mạng ở chiến trường Nam Bộ. Tác phẩm ngợi ca tình cha con thiêng liêng, sâu nặng của ông Sáu và bé Thu như một giá trị nhân bản sâu sắc. Tình cảm ấy càng cao đẹp trong hoàn cảnh chiến tranh.
Câu chuyện cảm động về tình cha con của ông Sáu và bé Thu. Vì chiến tranh, đã bảy tám tuổi mà Thu chỉ biết được mặt cha qua tấm ảnh. Vì chiến tranh, gương mặt ông sáu có một vết sẹo, không còn giống như gương mặt mình trong tấm ảnh, nên khi ông về nhà, Thu không nhận ra cha. Vì chiến tranh, ông lại tiếp tục đi chiến đấu; lúc chia tay, Thu nhận ra ông Sáu chính là cha mình. Vì chiến tranh, dù làm xong cho con chiếc lược bằng ngà voi, ông Sáu không kịp chải lên mái tóc con, chỉ kịp gửi lại cho người bạn mang về cho con. Vì chiến tranh, khi Thu đã là cô giao liên hai mươi tuổi, gan dạ, thông minh, trong một chuyến công tác bác Ba mới nhận ra con của người đồng đội đã hi sinh và trao lại chiếc lược ngà cho Thu.
Đọc “Chiếc lược ngà”, người dửng dưng nhất cũng không thể dửng dưng trước cảnh cha con sống chung một nhà, cha chờ con gọi tiếng “ba” mà con thì nhất quyết không trò chuyện với “ người ta”. Nếu đó là một người dưng thực sự thì sự thờ ơ của Thu là không đáng trách. Nhưng điều trớ trêu là chúng ta cũng không thể trách Thu khi người ấy là cha ruột của em. Chiến tranh đã làm gương mặt cha có một vết sẹo khiến Thu không nhận ra. Vết sẹo ấy như một con dao cắt lìa tình cha con. Bằng chi tiết này, Nguyễn Quang Sáng muốn nhắc nhở chúng ta rằng chiến tranh không chỉ gây ra những hi sinh, thương tật cho con người mà còn gây ra những nỗi đau chia cắt không gì bù đắp được.
Thu không nhận ra ba, hất bỏ cái trứng cá mà ông Sáu gắp cho là một sự bướng bỉnh nhưng đáng yêu. Có yêu người cha trong tấm ảnh một cách sâu sắc, Thu mới khó chịu trước sự ân cần của một người mà từ trong lòng em nghĩ đó không phải là cha mình. Đâu phải ai cho ta cái gì, dù đó là cái quý giá, cũng có thể nhận là tình cảm thiêng liêng được khi mà lòng ta chưa cảm được sự gần gũi và thiêng liêng thực sự.
Được bà ngoại giải thích, hiểu được nguyên cớ của vết sẹo, lúc chia tay, Thu bất ngờ ôm chầm lấy ông Sáu, gọi tiếng “Ba” và nũng nịu “Ba mua cho con cây lược nghen ba”. Tiếng gọi thiêng liêng ấy cất lên từ sâu thẳm trong lòng đứa con bé bỏng. Tiếng gọi ấy làm xao động trái tim người đọc để một lần nữa chúng ta cảm thấy uất hận kẻ đã gây ra “vết sẹo tình thương” cho bao gia đình miền Nam thời chiến tranh chia cắt. Chiến tranh làm cho vợ xa chồng, con phải xa cha. Chiến tranh làm cho những tình cảm tự nhiên của con người phải nghẹn ngào, uất ức. Và khi nghe tiếng nói dịu ngọt mà nghẹn ngào của con, ông sáu đã khóc. Đó là giọt nước mắt hạnh phúc của người cha khi nhận được tình ruột thịt từ con. Đó là giọt nước mắt mang thông điệp hãy nâng niu và giữ gìn tình phụ tử.
Những ngày ở chiến khu, cưa từng răng lược cho con, ông Sáu tự xoa dịu nỗi nhớ con, ân hận vì đã đánh. Có thể hình dung từng chiếc răng lược được thành hình là khối yêu thương trong lòng ông Sáu lớn dần, niềm mong mỏi được gặp lại con cũng thiết tha hơn. Tuy chưa chải được mái tóc con bằng chiếc lược do chính tay mình làm nhưng ông Sáu cũng phần nào gỡ được những mối rối trong tình cha con của mình.
Quả thực, ông là một người cha chịu nhiều thiệt thòi nhưng vô cùng độ lượng và tận tụy vì tình yêu thương con. Nếu có phép màu, xin được một lần, Thu ơi, bạn hãy lặng yên ngả vào lòng cha, để cha sẽ chải mái tóc thanh xuân của bạn bằng chiếc lược ngà thấm đẫm yêu thương. Và mỗi độc giả nhạy cảm sẽ nhận ra rằng trong lòng đất Mẹ, có bao nhiêu chiếc lược ngà như thế, những chiếc lược yêu thương chưa từng một lần được chải lên mái tóc người yêu thương…
Nhưng trong câu chuyện này, trái tim người cha đã đưa lối chỉ đường để người đồng đội mang lược về cho con. Bên sông, một người dưng nói với một người dưng: “ba đi nghe con”, vậy mà nghe sao thiết tha và ấm áp. Vì rằng, con đã đi tiếp con đường cha đi dang dở, con đã được gặp người đồng đội của cha; tình cha con, tình đồng đội, tình đồng chí đã hòa vào tình yêu đất nước. Câu chuyện nhằm ca ngợi tình cha con thiêng liêng, thắm thiết và sâu nặng dù trong hoàn cảnh éo le. Đồng thời, câu chuyện cũng nhằm khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Câu chuyện còn nhằm lên án kẻ thù đã gây ra bao đau thương, mất mát cho bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình Việt Nam.
Qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, người đọc không chỉ cảm nhận tình yêu con tha thiết sâu nặng của người cha chiến sĩ mà còn thấm thía bao đau thương mất mát đối với những em bé, những gia đình. Tình cảm cha con sâu đậm, thắm thiết của cha con anh Sáu khẳng định rằng bom đạn của kẻ thù chỉ có thể hủy diệt được sự sống của con người, còn tình cảm của con người – tình phụ tử thiêng liêng thì không bom đạn nào có thể giết chết được.
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 4
Chúng ta đang sống trong một đất nước hoà bình, được sự dìu dắt, yêu thương của cha mẹ, được đùa vui dưới mái trường đầy ắp tiếng ca. Chúng ta có thể quên được chăng những trang sử hào hùng ấy, ngày các lớp cha anh đi trước đã hi sinh cả tính mạng. Máu của các anh đã nhuộm màu phì nhiêu cho đất nước, sự hi sinh tươi đẹp cho thế hệ chúng ta ngày hôm nay. Các anh đã hi sinh cả thể xác lẫn tinh thần, hi sinh cả những hạnh phúc mà lẽ ra các anh phải được hưởng.
Chiến tranh, vùng trời của tang thương và chết chóc. Trong mưa bom lửa đạn, trong chất cay xè của mùi thuốc súng, tình cảm cao đẹp nhất của tình đồng chí đồng đội trào dâng. Những bùi ngùi dấu tận đáy lòng của những người cha lên đường chiến đấu gửi lại quê hương đứa con thân yêu nhất của mình để rồi trong giờ phút hiếm hoi giữa cuộc hành quân nỗi nhớ con không còn dấu được. Tình cảm thiêng liêng ấy càng mãnh liệt hơn trong tác phẩm “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.
Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau năm 1945, tập kết ra Bắc Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mĩ, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng thuộc nhiều thể loại: Truyện ngắn có “Con chim vàng”, “Người quê hương”, “Chiếc lược ngà”, “Người đàn bà đức hạnh”, “Vẽ lại bức tranh xưa”…
Các tiểu thuyết “Đất lửa”, “Mùa gió chướng”, “Dòng sông thơ ấu” được nhiều độc giả biết đến và đặc biệt là kịch bản phim nổi tiếng “Một thời để nhớ một thời để yêu”. Có lẽ vì sinh ra, lớn lên và hoạt động chủ yếu ở chiến trường miền Nam nên các tác phẩm của ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình.”Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn viết về tình phụ tử sâu nặng của cha con ông Sáu sau chiến tranh. Đây là một truyện ngắn giản dị nhưng chứa đầy sức bất ngờ như ta thường thấy ở văn của Nguyễn Quang Sáng. Đoạn trích SGK đã cho thấy một khoảnh khắc nhỏ mà trong đó có sự cao cả thiêng liêng về tình phụ tử.
“Chiếc lược ngà ” được viết vào năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên. Nội dung văn bản trong SGK là cuộc gặp gỡ của anh Sáu – một người xa nhà đi kháng chiến. Mãi khi con gái lên tám tuổi, anh mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu – con gái anh không nhận cha , trái lại đã đối xử lạnh nhạt, có lúc vô lễ với cha. Điều đó làm anh Sáu đau lòng, nhưng anh vẫn yêu thương con bằng tình cha con ruột thịt. Sau vài ngày ngắn ngủi sum họp gia đình, anh Sáu phải ra đi. Đến lúc ấy Bé Thu bỗng thay đổi thái độ. Em ôm chặt lấy cha không muốn cha con phải xa nhau .Mọi người ngỡ ngàng sửng sốt. Thì ra mấy ngày trước do nhìn thấy trên mặt anh Sáu có vết sẹo lớn, bé Thu thấy anh không giống cha chụp chung ảnh với mẹ. Nhờ bà ngoại giảng giải, Thu đã hiểu ra mọi chuyện, em cất tiếng gọi “Ba…ba!..” và hẹn “Ba mua cho con một cây lược nghe!”. Ở khu căn cứ, anh Sáu dồn hết tình cảm yêu quí nhớ con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để mang về tặng cô con gái bé bỏng. Nhưng trong một cuộc chiến đấu anh đã ngã xuống. Trước lúc nhắm mắt anh còn kịp trao cây lược cho người bạn, gửi về tận tay cho con. Truyện được viết theo lời kể qua cái nhìn của ông Ba – nhân vật xưng tôi. Tuy đây là một đề tài khá phổ biến trong văn chương nhưng chính vì thế mà giá trị nhân văn của truyện càng trở nên sâu sắc.
Truyện xoay quanh một kỉ vật đơn sơ mà vô giá ấy là chiếc lược ngà. Nhưng suốt cả câu chuyện, suốt những quãng đời, suốt cả cuộc đời ấy chỉ có một tiếng kêu, một tiếng kêu bình dị và thiêng liêng bậc nhất cõi đời này: tiếng cha!. Câu chuyện “Chiếc lược ngà” đã kể lại thật cảm động về cuộc gặp gỡ và những tình cảm của cha con anh Sáu. Hình ảnh anh Sáu đã để lại trong lòng người đọc nỗi cảm thông, yêu mến và những ấn tượng sâu sắc.
Cũng như bao người khác anh Sáu đi theo tiếng gọi của quê hương đã lên đường chiến đấu, để lại người vợ và đứa con thân yêu. Sự xa cách càng làm dâng lên trong anh nỗi nhớ nhung tha thiết đứa con gái mà khi anh đi nó chưa đầy một tuổi. Nỗi nhớ ấy đã trở thành niềm khao khát, mơ ước cháy bỏng trong lòng anh. Chính vì vậy mỗi lần vợ lên thăm là một lần anh hỏi “Sao không cho con bé lên cùng ?”. Không gặp được con anh đành ngắm con qua ảnh vậy … Mặc dầu tấm ảnh đó đã rách nát, cũ kĩ lắm rồi, nhưng anh luôn giữ gìn nó vô cùng cẩn thận, coi nó như một báu vật. Còn đối với con gái Thu của anh thì sao? Từ nhỏ đến hồi tám tuổi nó chỉ được biết ba nó qua ảnh và qua lời kể của bà ngoại và má. Dù được sống trong tình yêu thương của mọi người nhưng có lẽ Thu cũng cảm thấy thiếu hụt một tình thương, sự che chở của người cha. Chắc bé Thu từng giờ từng phút trông chờ ba nó lắm nhỉ? Và tám năm trời là những năm tháng dài đằng đẵng ấy cũng làm tăng lên trong lòng hai cha con anh sáu nỗi nhớ nhung, mong chờ, anh Sáu ao ước gặp con, còn bé Thu ao ước gặp bố.
Thế rồi niềm ao ước ấy đã trở thành hiện thực. Anh Sáu được nghỉ phép. Ngày về thăm con, trên xuồng mà anh Sáu cứ nôn nao cả người. Anh đang nghĩ tới đứa con, nghĩ tới giây phút hai cha con gặp nhau như thế nào. Những điều ấy choáng hết tâm trí khiến anh không còn biết mình đang ngồi trên xuồng với người bạn. Khi xuồng vừa cập bến, anh Sáu đã nhón chân nhảy thót lên bờ. Người bạn đi cùng cũng rất hiểu anh nên không hề trách. Tôi không thể quên được giây phút vô cùng thiêng liêng và trọng đại của anh Sáu, là giây phút người cha mong chờ đứa con sẽ chạy tới ôm siết lấy mình, là bước trở về sau bao xa cách…
Hẳn vì quá xúc động nên lúc ấy anh Sáu đã có những cử chỉ mà ngay cả người bạn của anh cũng không ngờ tới “giọng anh tập bập run run”, anh dang hai tay chờ đón con và sải những bước dài đến gần con. Tưởng rằng con bé sẽ chạy tới nhào vào lòng anh nhưng không ngờ bỗng nó hét lên “má…má” và bỏ chạy. Tại sao Thu lại có những hành động như vậy ? Nó yêu ba nó lắm cơ mà ? Nó mong ba về từng ngày từng giờ. Vậy mà tất cả đều lật ngược với nó. Ba nó thật đây, sao nó không nhận ? Hành động của con bé khiến anh sững sờ. Bao yêu thương, mong chờ mà anh dồn nén bấy lâu dường như tan biến hết chỉ còn lại trong anh là nỗi đau khổ vô bờ.
Nỗi đau ấy còn dày vò anh trong suốt ba ngày ở nhà. Ba ngày ở nhà anh Sáu không đi đâu xa mà chỉ quanh quẩn ở nhà chơi với con. Anh muốn dùng lời nói, hành động của mình để bù đắp những mất mát về tình cảm cho con bé. Dường như anh muốn bằng những cử chỉ và lời nói yêu thương tràn đầy âu yếm, anh sẽ xoa dịu đi những nghi ngờ, xoá tan những lạnh lùng của con bé đối với anh. Anh muốn ôm con mà nói rằng: “Ba yêu con nhiều lắm Thu à!” và có lẽ chắc anh cũng mong đứa con gái của mình có thể chạy sà vào lòng mà rằng “Con cũng yêu bố nhiều lắm ạ!” thế nhưng không… những gì anh từng mơ ước, từng suy nghĩ, giờ chỉ như giấc mơ không thật bởi chính thái độ của Thu đối với ba nó. Khi mẹ bảo nó gọi bố vào ăn cơm thì con bé đã nói trổng: “Vô ăn cơm!”. Câu nói của con bé như đánh vào tâm can anh, nhưng anh vẫn ngồi im giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm.” Thế nhưng Thu vẫn bướng bỉnh không chịu gọi ba, đã vậy còn bực dọc nói mấy câu “Cơm chín rồi!” và “Con kêu rồi mà người ta không nghe”. Đến lúc này anh chỉ biết “nhìn con bé vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi.” Tôi thoáng nghĩ đến cảm xúc lúc này và những câu hỏi xoay quanh anh. Tại sao thế nhỉ? Thu làm vậy là sao? Ba nó sao nó không chịu nhận? Nhìn nó tôi như có cảm giác nó cự nự, quyết không chịu gọi ba. Thái độ này thật không đúng với tình cha con xa cách bấy lâu, hay con bé đang giận ba vẩn vơ gì đó chăng?
Cao trào của câu chuyện càng nâng cao khi nồi cơm sôi, một mình nó bé, không thể tự nhấc nồi để chắt nước, nó đã phải cầu cứu đến người lớn. Tình thế khiến người đọc ngỡ rằng nó sẽ phải thua không thể “chiến tranh lạnh” được nữa – nó buộc phải gọi ba để giúp đỡ. Nhưng nó vẫn không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong! Chỉ cần nói lên cái tiếng ba ấy thế thôi, là nó sẽ thoát khỏi thế bí. Nhưng quyết không! Nó vẫn hành động theo sự bướng bỉnh tự mình làm lấy một công việc nguy hiểm và quá sức! Nghĩa là nó không chịu nhượng bộ, không chịu thua cuộc. Điều ấy làm cho người cha, người bạn của cha và cả người đọc phải đau lòng. Còn gì đau khổ bằng người cha giàu lòng thương yêu con mà lại bị chính đứa con ấy chối bỏ!
Dường như sự lạnh lùng và bướng bỉnh của bé Thu đã làm tổn thương những tình cảm đang trào dâng tha thiết nhất trong lòng ông. Vì quá yêu thương con nên anh Sáu không cầm nổi cảm xúc của mình. Trong bữa cơm, cưng con, anh gắp cho nó cái trứng cá nhưng bất ngờ nó hất tung cái trứng ra khỏi chén cơm. Giận quá, anh đã vung tay đánh và quát nó. Có lẽ việc đánh con bé là nằm ngoài những mong muốn của ông. Tất cả cũng chỉ là do anh quá yêu thương con. Có thể coi việc bé Thu hất cái trứng ra khỏi chén như một ngòi nổ làm bùng lên những tình cảm mà lâu nay anh dồn nén và chất chứa trong lòng.
Nhưng khi ta hiểu ra thì lại thấy rằng : Chính cái hành động đáng ghét ấy lại vô cùng đáng quý. Chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm người con dành cho cha. Đơn giản vì lúc bấy giờ trong trí nhớ thơ ngây của Thu thì cha em đẹp lắm. Vì bom đạn quân thù, cha mang sẹo trên mặt. Đấy là điều đau khổ vậy mà nó không hiểu, lại xa lánh khiến cha đau khổ thêm. Cô bé không tin, thậm chí còn ngờ vực, điều đó chứng tỏ cô bé không dễ tin người. Cả bạn của cha, cả mẹ xác nhận là cha nhưng không ai tháo gỡ được thắc mắc thầm kín trong lòng mình thì cô bé vẫn chưa gọi. Nó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh, nhiễu sách mà đó là sự kiên định, quyết liệt của một người có lập trường. Đây chính là cái mầm sâu kín sau này làm nên tính cách cứng cỏi, ngoan cường của cô giao liên giải phóng. Đến khi được bà ngoại giảng giải về cái thẹo trên má ba, thì Thu mới vỡ lẽ đó thực là ba mình. Hình ảnh người cha thân yêu trên ảnh, người cha kính mến mà cô ghi sâu trong lòng, đến lúc ấy mới nhập vào người đang xưng ba có vết thẹo dài đây. Đã vỡ lẽ thì tình yêu ba nhân lên gấp bội nhưng … đã muộn rồi. Song đến giây phút cuối cùng, trước khi anh Sáu đi xa thì tình cảm thiêng liêng ấy bỗng cháy bùng lên. Lúc ra đi, chân anh ngập ngừng không muốn bước. Hẳn rằng anh Sáu muốn ôm con, hôn con nhưng sợ nó lại giẫy đạp và bỏ chạy nên anh chỉ đứng đấy nhìn nó với cặp mắt trìu mến xen lẫn buồn rầu.
Trong ánh mắt của anh, chất chứa bao yêu thương mà anh muốn trao gửi tới con. “Thôi ba đi nghe con”. Phải chi bé Thu hiểu được ánh mắt của ba nó, hiểu được tâm trạng của ba nó lúc này nhỉ? Rồi bỗng nó chạy đến kêu thất thanh Ba…a….a…ba!”. Tiếng kêu như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Tiếng kêu bật lên sau bao năm kìm nén, chờ đợi khắc khoải. Đó cũng là cái tiếng ba mà anh Sáu đã chờ đợi suốt tám năm trời xa con, đã chờ đợi suốt mấy ngày về bên con, ông đã tưởng chẳng thể còn được nghe thì bất ngờ nó thét lên. Nó vỡ ra còn lòng người đọc thì nghẹn lại. Người cha không cầm nổi nước mắt vì bất ngờ, vì sung sướng, vì thương yêu và vì cả sự éo le của tình cảm nữa. Cùng với cử chỉ “vừa kêu vừa chạy xô tới nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó, làn tóc tơ sau ót nó dựng đứng lên”. “Vừa ôm chặt lấy cổ ba, nó vừa nói trong tiếng khóc “Ba…ba…không cho ba đi nữa, ba ở nhà với con”. Nó ôm hôn anh Sáu và “hôn cả vết thẹo dài trên má của ba”, biểu hiện một tình yêu ruột thịt nồng nàn của đứa con đối với ba. Và khi nghe anh Sáu nói “Ba đi rồi ba về với con”, cô bé hét lên “không”, rồi hai tay siết chặt cổ, dang cả hai chân quặp chặt lấy ba, đôi vai nhỏ run run! Chắc cô bé khóc.
Phải chăng lúc ấy Thu thật sự thấy xót xa, ân hận về lỗi lầm của mình, thật sự thấy xót thương người cha đau khổ? Nó mếu máo “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba…”. Tất cả lời nói thể hiện rõ tính cách của một cô bé bồng bột thơ ngây và chứng tỏ lòng yêu thương vô bờ của em đối với ba. Thật sâu sắc và cao đẹp biết bao. Có lẽ lúc này bé Thu đã trở thành một người lớn thực sự. Tất cả sự dỗi hờn của bé Thu lúc này đều chuyển thành lòng yêu thương sâu sắc ba nó. Trong cái ương ngạnh, bướng bỉnh, trong cái giận dỗi và cả sự hối hận của Thu, ta vẫn thấy bé thật thơ ngây, thật đáng yêu. Về phần anh Sáu hạnh phúc đến với anh quá đột ngột khiến cổ anh nghẹn lại. Không kìm được xúc động, anh Sáu đã khóc. Giọt nước mắt của anh là giọt nước mắt của vui sướng, hạnh phúc. Và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con…Thế là con bé đã gọi anh bằng ba. Ai có thể ngờ được một người lính đã dày dạn nơi chiến trường và quen với cái chết cận kề lại là người vô cùng mềm yếu trong tình cảm cha con. Sau bao năm tháng mong chờ, đau khổ, anh Sáu đã được đón nhận một niềm vui vô bờ. Bây giờ anh có thể ra đi với một yên tâm lớn rằng ở quê nhà có một đứa con gái thân yêu luôn chờ đợi anh, từng giây từng phút mong anh quay về.
Tình cảm của anh Sáu dành cho bé thu trở nên mãnh liệt hơn, cao cả, thiêng liêng và cảm động hơn bao giờ hết là việc anh tự tay làm chiếc lược nhà cho con gái. “Ba về! Ba mua cho con một cái lược nghe ba!”, đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt. Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước đầu tiên và cũng là duy nhất cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng. Kiếm cho con cây lược trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng. Anh bật dậy như bỗng lóe lên một sáng kiến lớn: làm lược cho con bằng ngà voi. Có lẽ không đơn thuần vì ở rừng rú chiến khu, anh không thể mua được cây lược nên làm lược từ ngà voi là một cách khắc phục khó khăn. Mà cao hơn thế, sâu hơn thế, ngà voi là thứ quí hiếm – chiếc lược cho con của anh phải được làm bằng thứ quý giá ấy. Và anh không muốn mua, mà muốn tự tay mình làm ra. Anh sẽ đặt và trong đấy tất cả tình cha con của mình. Kiếm được ngà voi, mặt anh “hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta hoá thành con trẻ lại chính là lúc người ta đang hiện lên cái tư cách người cha cao quý của mình. Rồi anh “ngồi cưa từng chiếc răng lược, thận trọng tỉ mỉ và khổ công như người thợ bạc “, “gò lưng tẩn mẩn khắc từng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Anh thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời cho nên chiếc lược ngà đã kết tinh trong nó tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kỳ diệu làm sao!
Nhưng ngày ấy đã vĩnh viễn không bao giờ đến nữa. Anh không kịp đưa chiếc lược ngà đến tận tay cho con thì người cha ấy đã hi sinh trong một trận đánh lớn của giặc. Nhưng “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Không còn đủ sức trăn trối điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc “đưa tay vào túi, móc cây lược” đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cứ nhìn bạn hồi lâu. Nhưng đó là điều trăn trối không lời, nó rõ ràng là thiêng liêng hơn cả một lời di chúc, bởi đó là sự uỷ thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân, ước nguyện của tình phụ tử! Bắt đầu từ giây phút ấy, chiếc lược ngà của tình phụ tử đã biến người đồng đội thành một người cha – người cha thứ hai của cô bé Thu.
Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật cũng đã đành một lẽ còn người chết cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không thể đắp cao lên được, vì tìm thấy mồ mả bọn chúng sẽ đào lên và tìm ra dấu vết, cho nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy. Bác Ba bạn của anh đã lấy dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ. Sống như thế và chết như thế hỏi vậy làm sao mà chịu được. Chúng ta buộc phải cầm súng. Và bé Thu không còn là cô bé ngày xưa nữa mà là một cô giao liên thông minh, quả cảm. Thu đi theo con đường mà ba cô đã chọn. Thu đi để trả thù cho quê hương, cho cha mình đã bị bọn giặc giết hại.
Tuy anh Sáu đã hi sinh nhưng câu chuyện về hai cha con anh sẽ còn sống mãi. Hình ảnh chiếc lược ngà với dòng chữ sẽ mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, bi kịch của chiến tranh. Cảm ơn nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa rõ nét tâm hồn, tình cảm của anh Sáu và bé Thu. Truyện dẫn người đọc dõi theo số phận và lòng quả cảm, dõi theo tâm tình của cha con một người chiến sĩ diễn ra hàng chục năm trời đi qua hai cuộc chiến tranh. Người còn, người mất nhưng kỉ vật, gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại của chiếc lược ngà vẫn còn đây. Đây là minh chứng đối với chúng ta “cái mất mát lớn nhất mà thiên truyện ngắn đề cập đến là người đã khuất, là tổ ấm gia đình không còn tồn tại trọn vẹn trong thực tại. Đó là tội ác, là những đau thương, mất mát của chiến tranh xâm lược mà các thế hệ bạo tàn gây ra cho chúng ta. Song cái được mà chúng ta nhìn thấy là không có sự bi luỵ xảy ra, sức mạnh của lòng căm thù đã biến cô bé Thu trở thành một người chiến sĩ thông minh, dũng cảm, đã gắn bó cuộc đời con người có ít nhiều mất mát xich lại gần nhau để cùng đứng lên viết tiếp bản ca chiến thắng.
Gấp sách lại, chia tay với ông Ba, câu chuyện về “Chiếc lược ngà” với lời nói cuối cùng của ông – giọng trầm ấm khoan thai – cứ âm vang mãi trong bạn đọc chúng ta, như sự âm vang của một truyện cổ tích. Truyện cổ tích hiện đại đó đã thành công trong việc tạo tình huống truyện, miêu tả tâm lý, tình cảm nhân vật và giọng kể nhẹ nhàng, thấm thía truyền cảm. Ông Ba – người kể chuyện – hay chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng? Phải là người từng trải sống hết mình vì công cuộc kháng chiến của quê hương, gắn bó máu thịt với những con người quê hương giàu tình nghĩa, rất nhân hậu mà kiên cường, bất khuất, bất diệt, nhà văn mới nhập được vào các nhân vật, sáng tạo được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động, bất ngờ, có được giọng văn dung dị và cảm động như vậy. Đồng thời truyện đã làm sống lại quãng thời gian giữ nước để thông qua đó tác giả muốn người đọc phải suy nghĩ và thấm thía nỗi đau, sự mất mát mà chiến tranh mang đến. Tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu đã vượt qua bom đạn của chiến tranh để ngày càng thiêng liêng, ngời sáng và gắn bó chặt chẽ với tình yêu quê hương, đất nước.
Qua cuộc đời nhân vật, từ cô bé Thu đến ông Sáu, ông Ba, Nguyễn Quang Sáng như muốn nói rằng trong cuộc kháng chiến gian khổ chống ngoại xâm vừa qua của dân tộc ta, tình nghĩa con người Việt Nam, nhất là tình cha con, đồng đội, sự gắn bó thế hệ già với thế hệ trẻ, người chết và người sống… mãi mãi bất diệt. Như chiếc lược ngà ba tặng lại không bao giờ có thể mất, tình cha con của bé Thu cũng sẽ mãi mãi bất diệt!
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 5
“Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn hay viết về đề tài tình phụ tử. Đọc tác phẩm, điều khiến người đọc cảm động nhất chính là tình cảm mà cha con ông Sáu và bé Thu dành cho nhau. Câu chuyện về tình cảm gia đình thiêng liêng, sâu sắc trong kháng chiến đã đọng lại trong lòng người những suy nghĩ những bài học bổ ích.
Tác phẩm ra đời năm 1966, lấy bối cảnh là cuộc kháng chiến chống Mĩ của đồng bào Nam Bộ. Chính trong hoàn cảnh bom rơi, đạn nổ, kẻ thù không chỉ chia lìa đất nước mà còn chia lìa từng gia đình ấy, tình cảm gia đình lại được thể hiện đậm nét, cảm động hơn bao giờ hết.
Ông Sáu khi đi kháng chiến có một đứa con gái đầu lòng chưa đầy một tuổi. Trong những năm tháng kháng chiến, vì cô bé còn nhỏ nên đi thăm chồng, vợ của ông không mang theo con. Bởi vậy, ông chỉ được nhìn con qua những tấm ảnh nhỏ mà thôi. Và giờ đây, khi trở về thì tình cha con ấy lại trỗi dậy trong lòng, ông cảm thấy nôn nao. Ngay lập tức, khi xuống thuyền, thấy một đứa bé chừng bảy, tám tuổi, tóc ngang vai thì ông Sáu biết ngay đó là con mình. Không chờ xuồng cập bến, ông đã nhún chân nhảy thót lên bờ, vội vàng bước những bước dài rồi kêu: “Thu! Con!”. Điều đó thể hiện một tình cảm của người cha một cách tự nhiên, quá xúc động. Dường như chính lúc này đây, trái tim của người cha tội nghiệp reo lên đầy sung sướng khi sau tám năm trời mới được nhìn thấy mặt con và dường như ông cũng mong sự đáp lại tình cảm của con. Nhưng con bé lại đầy ngơ ngác, lạ lùng, không biết đó là ai. Còn ông Sáu thì vẫn đầy xúc động miệng nói không thành lời, giọng lặp bập: “Ba đây con”! Lúc đó chính là lúc cái tình của người cha lên đến đỉnh điểm và không thể toát ra bằng lời vì ông đã quá xúc động. Việc bé Thu sợ hãi chạy ào đi như một gáo nước lạnh dội mạnh vào trái tim đang nóng bỏng của ông Sáu. Ông đứng sững lại đầy sững sờ, thảng thốt.
Những ngày sau đó, ông Sáu vẫn cố gắng để con nhận ra mình là cha. Cả ngày ông chẳng đi đâu xa, suốt ngày ở bên con, săn sóc, vỗ về con. Song càng vỗ về bao nhiêu con bé lại càng đẩy ông ra bấy nhiêu. Ông chỉ mong có một điều là được gọi mình một tiếng “ba”. Chỉ một tiếng “ba” mà thôi! Nhưng chẳng có điều gì khác ở con gái ông ngoài sự thờ ơ, lạnh lùng thậm chí thù ghét. Những hành động của ông Sáu giúp đỡ con hay vỗ về nó đều bị con bé phản ứng lại. Chỉ có tình cha sâu nặng mới giúp ông kiên trì vượt qua điều đó. Đến một bữa cơm, khi ông gắp cái trứng cá to, vàng bỏ vào bát nó thì bất thần con bé hất ra, cơm văng tung toé và không kịp suy nghĩ gì ông đã đánh một cái vào mông nó. Ông Sáu hẳn đã vô cùng ân hận vì giây phút nóng nảy đó của mình.
Trong ba ngày nghỉ ngắn ngủi, ông đã ở bên con nhưng con không nhận. Giờ đây ngày chia tay bà con làng xóm ông định mang theo nỗi buồn đó. Nhưng trong lúc không ai ngờ đến đó, một tiếng kêu đã xé lòng ông: “Ba… a…a… ba”. Tiếng “Ba” đó là sự dồn nén trong Thu tám năm nay và bây giờ nó vỡ tung ra từ ngay trong sâu thẳm đáy lòng con bé. Tiếng “Ba” với nó là điều khát khao hơn mọi đứa trẻ khác vì ngay từ nhỏ nó đã không có tình yêu thương của cha. Giờ đây tiếng “Ba” vang lên đầy tự nhiên, ngỡ ngàng trong giây phút cuối cha con chia tay. Và bây giờ nó muốn có ba, nó bật khóc vì hạnh phúc, nó hôn tóc, hôn cổ và hôn với vết thẹo dài trên má của ba nó nữa. Hoá ra, lí do nó không nhận ba là do vết thẹo oan nghiệt đó – vết thẹo do kẻ thù của gia đình đó, của đất nước đau thương này gây ra. Nhưng vừa nhận ra thì cũng là lúc phải chia tay. Sung sướng và có lẫn sự xúc động ông ôm con và tạm biệt nhưng con bé không muốn ba phải đi. Cho đến khi ông hứa mua cho nó một chiếc lược thì nó mới để cho ba nó đi.
Ở chiến trường tuy chiến tranh đầy ác liệt nhưng ông vẫn cố công làm bằng được chiếc lược ngà. Trong khi làm, ông Sáu cảm thấy vui như đứa trẻ nhận được quà. Ông cố gắng làm tỉ mỉ, thận trọng có công như người thợ bạc. Khi chiếc lược được làm xong ông cảm thấy sung sướng vì mình như đã thực hiện được phần nào lời hứa. Sau đó ông lại khắc trên sống lưng chiếc lược “Yêu nhớ tặng con, Thu của ba”. Hàng đêm nhớ con ông lại đem lược ra ngắm chải lên đầu cho lược thêm bóng, mượt… Trong giờ phút cuối cùng, tuy không đủ sức trăng trối, nhưng tình cha con vẫn sống và trỗi dậy trong con người ông. Ông đưa chiếc lược cho Ba – một người đồng đội thân thiết và nhìn Ba hồi lâu như trăng trối rằng: “Hãy đưa chiếc lược này đến cho Thu”. Cái nhìn đó có thể nói rằng đó là cái nhìn của sự nhờ cậy, tin cậy, gửi gắm cả tâm hồn ông qua đó. Tình cha con đầy thiêng liêng, cao quý trỗi dậy ngay cả khi con người ta đang đối mặt giữa sự sống và cái chết. Khi Ba nhận lời thì ông mới nhắm mắt. Sau này, bác Ba đã gặp Thu – giờ đây là cô gái giao liên dũng cảm và bác đã trao lại kỉ vật đó cho Thu.
Tình cảm ông Sáu dành cho con sâu nặng bao nhiêu, tình cảm Thu dành cho ba cũng nồng nàn bỏng cháy bấy nhiêu. Cô bé không nhận ba bởi cô hiểu nhầm về vết sẹo trên mặt ba. Bức ảnh cha cô mà cô khắc ghi bấy lâu trong tâm khảm không có vết thẹo trên mặt như ông Sáu – người cứ nhận mình là cha bé! Và vì thế, Thu càng phản đối quyết liệt con người ấy bao nhiêu càng thể hiện cô bé yêu ba mình bấy nhiêu. Cái tình yêu ấy thật sâu sắc: nó chỉ có một, không thể chia sẻ cho bất kì ai khác, ngay cả khi đó là người được tất cả mọi người thừa nhận là ba của nó, là người yêu thương và quan tâm đến nó rất chân thành.
Đến lượt mình, Thu cũng đáp lại tình cảm của ba một cách cảm động. Khi biết rằng ông Sáu là ba thật của mình, và vết sẹo trên mặt ông là do thằng Mĩ gây nên, buổi sáng cuối cùng trong những ngày phép của ba “Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.” Không hiểu con bé “nghĩ ngợi sâu xa” điều gì, chỉ biết rằng khi ông Sáu buồn rầu quay lại nhìn nó – không dám lại gần sợ nó lại bỏ chạy như lần trước – nói: “Ba đi nghe con” thì nó bất ngờ lao đến thét lên: Ba, a… a…ba!”. Rồi ôm chặt lấy ông nức nở “Con không cho ba đi”. Đến đây, người đọc mới vỡ lẽ ra rằng Thu thèm được gọi ba như thế nào. “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”. Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba bây giờ trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà. Song, trái ngược mà vẫn nhất quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát được có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi “ba” lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như xé kia cất lên ta thấy nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, thương yêu con vô hạn của người cha.
Sau này, thấu hiểu sâu sắc nguyên nhân gây ra vết thẹo trên mặt cha, Thu đã trở thành một nữ giao liên dũng cảm, can đảm. Cô quyết tâm tiếp bước con đường cha cô đã đi để đánh đuổi kẻ thù của gia đình, kẻ thù của dân tộc.
Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công khi xây dựng tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Đọc thiên truyện, người đọc hẳn đã có lần rơi lệ vì cảm động. Và còn vì thấy trong đó thấp thoáng đâu đây bóng dáng bản thân, của người cha thân yêu của mình nữa. Tình phụ tử đó chính là một trong những thứ tình cảm thiêng liêng nhất trong cõi đời này. Và bởi thế, đọc “Chiếc lược ngà” để ta trân trọng hơn những người thân yêu ruột thịt quanh mình, trân trọng hơn những tình cảm sâu sắc ta đang được nhận. Và hơn hết, đọc thiên truyện ngắn này, ta biết yêu thương, sẻ chia và sống xứng đáng với những đấng sinh thành của bản thân.
Không chỉ gợi những tình cảm trong sáng, cao quý, “Chiếc lược ngà” còn mang đến cho người đọc những bài học nhân sinh đầy nhân ái. Và vì thế, đây thực sự là một thiên truyện hay trong hành trang của những người Việt trẻ!
Phân tích tình cảm cao đẹp của ông Sáu với con trong Chiếc lược ngà
Tình cảm của ông Sáu với con thể hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà nhưng được biểu hiện tập trung, sâu sắc ở phần cuối truyện khi ông Sáu ở trong rừng, tại khu căn cứ.
Nỗi ân hận, day dứt cứ ám ảnh ông nhiều ngày vì ông đã nóng giận đánh con trong những ngày nghỉ phép.
Lời dặn dò của con gái: “Ba về! Ba mua cho con một cây lược ngà nghe ba” đã thôi thúc ông nghĩ đến việc làm một cây lược ngà cho con.
Khi kiếm được khúc ngà voi, ông mừng vô cùng, ông dành hết tâm trí, công sức vào làm một cây lược: “Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, “Tròn sống lưng lược có khắc một làng chữ nhỏ mà ông đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: Yêu nhớ tặng Thu, con của ba”. Chiếc lược ngà đã trở thành một báu vật đối với ông. Nó làm dịu đi nỗi ân hận day dứt. Nó chứa đựng bao tình cảm yêu mến, nhớ hương, mong đợi của người cha trong những ngày xa cách. Nhưng rồi tình cảnh đau thương lại đến với cha con ông Sáu. Ông Sáu hi sinh khi chưa kịp gặp lại con. Chiếc lược ngà chưa tới được tay bé Thu.
Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình yêu thương thắm thiết, sâu nặng muôn đời của cha con ông Sáu mà còn gợi cho ta nghĩ đến nỗi đau của chiến tranh. Chiến tranh gây đau thương mất mát cho biết bao con người, biết bao gia đình.
Phân tích tình cha con trong Chiếc lược ngà
Đại văn hào Andersen từng nói: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng chính cuộc sống vẽ nên.” Dù hiện thực đau khổ đến đâu, vẫn le lói những ánh sáng trong trẻo, ấm áp đong đầy. Đó là thứ ánh sáng diệu kỳ từ “hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người” mà các nhà văn luôn mải miết đi tìm. Và Nguyễn Quang Sáng là một người đi tìm miệt mài như thế. Giữa tháng ngày gian khổ, tối tăm nhất của kháng chiến chống Mỹ, ông vẫn thấy tia sáng xanh ngời từ tình cảm chân thành trong những người dân, người lính. Để rồi, tất cả đã được nhà văn soi chiếu vào tình cha con sâu nặng trong tác phẩm “Chiếc lược ngà”.
Nguyễn Quang Sáng là nhà văn trưởng thành gắn liền với cả hai cuộc kháng chiến, là một cây đại thụ của văn học cách mạng Việt Nam. Tác phẩm của ông như thâu tóm được cả hồn cốt Nam Bộ, có cái hơi thở đồng bằng, phù sa dòng sông, cái khoáng đạt giản đơn của người dân miền sông nước. Cùng với Cánh đồng hoang, Mùa gió chướng,… “Chiếc lược ngà” cũng nằm trong mạch nguồn ấy. Được viết năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt nhất, truyện ngắn tuy viết về chiến tranh nhưng lại tập trung làm nổi bật tình phụ tử thiêng liêng cao quý. Tựa như câu chuyện cổ tích thời hiện đại, tác phẩm đã làm rung động trái tim bạn đọc bao thế hệ bởi tình yêu thương con thắm thiết bất diệt của Ông Sáu, tình yêu ba sâu nặng đầy kiêu hãnh của bé Thu…..
Tựa như mặt nước ngọt lành và trong veo đến lạ, văn chương luôn phản chiếu nội tâm con người. Bởi thế mà lật giở từng trang sách “Chiếc lược ngà” ta như mở từng cánh cửa, từng bước khám phá tình yêu thương da diết, chân thành dành cho con sâu trong lòng một người cha, người lính.
Là một người con Nam Bộ, ông Sáu chẳng thể làm ngơ khi mảnh đất quê hương bị lũ mọi rợ giày xéo. Nghe tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, ông lên đường cùng dân tộc bước vào cuộc trường chinh. Hạnh phúc gia đình ông xếp lại ngăn nắp trong tim, ông đi kháng chiến khi đứa con gái đâu lòng còn chưa đầy một tuổi. Nỗi nhớ thương con, khao khát gặp con lúc nào cũng thường trực như con sóng cuộn trào nơi tấm lòng người ba ấy. Không giây phút nào ông nguôi nhớ đến con, tình yêu con trở thành động lực, sức mạnh tinh thần vô giá giúp ông thêm chắc tay súng diệt sạch bóng thù để sớm có ngày đoàn tụ.
Và ước muốn cháy bỏng của ông cuối cùng cũng đã thành sự thực. Sau tám năm xa cách ông có dịp về thăm nhà ba ngày. Trên đường trở về “cái tình người cha đã và cứ nôn nao trong dạ”. Thế nên thuyền vừa vào đến, thấy đứa trẻ trạc độ lên chín lên mười tóc ngắn ngang vai, mặc áo bông đỏ đang mải mê chơi nhà chòi dưới gốc xoài ông đã đoán biết đấy là con mình. Phải chăng đó là sức mạnh diệu kỳ của tình máu mủ? Phải chăng từng ngày nơi quân ngũ, người cha ấy đã luôn mường tượng dáng hình của con, hằng khát khao ôm ấp, vỗ về. Cho nên linh cảm ruột thịt đó mới chuẩn xác đến vậy. Nó bồn chồn xao động, nó da diết khôn nguôi, nó như những tế bào hồng cầu trong từng tơ máu, máu còn chảy, tim còn đập thì lòng người không thể nào nguôi ngoai. Và nó làm lý trí trở thành công cụ của con tim. Không thể chờ xuồng cập bến, ông nhón chân nhảy thót lên bờ vội vàng với những bước dài,vừa đi vừa kêu to “thu,con”! Những bước chân như chiếc bản lề cửa, tạm khép lại cuộc đời “người lính” để mở ra cơ hội làm trọn một “người cha” cho ông Sáu. Với ông, chờ đợi thêm một phút một giây nào nữa thôi, có lẽ cũng đủ bóp nghẹt trái tim. từ nôn nao tâm trạng ông Sáu đã chuyển sang nôn nóng. Có lẽ bởi: “Có hai điều không thể bỏ lỡ trong cuộc sống, đó là chuyến xe cuối cùng về nhà và người ta yêu thật lòng” (Nguyễn Nhật Ánh). Đây là lần trở về đầu tiên sau tám năm xa cách và cũng có thể là sau cuối của ông, là cơ hội hiếm hoi để ôm con vào lòng, sống trong tình cha con ấm áp mà ông chưa từng được hưởng. Vậy mà mọi chuyện diễn ra thật éo le. Trong khi ông vừa bước tới vừa dang tay đón chờ thì con bé lại ” giật mình tròn mắt nhìn” , cái nhìn vừa lạ lùng vừa ngơ ngác. Không ghìm nổi xúc động, vết thẹo trên má ông đỏ ửng lên, hai tay vẫn đưa về phía trước “ba đây con, ba đây con”. Người đọc cảm nhận trong giọng nói “lặp bặp run run” ấy, là cả tiếng lòng, cả tâm hồn người cha đang reo lên vì hạnh phúc. Một hạnh phúc vô bờ khi hội ngộ khiến người đàn ông từng vào sinh ra tử chợt nghẹn ngào khôn xiết, tưởng như tất cả là một giấc mơ và chỉ có thể cất tiếng “run run” , khẽ khàng để không thức dậy. Song, với một đứa trẻ chỉ mới tám tuổi, tất cả lại trở thành sự vồ vập thái quá, nôn nóng thái quá,đặc biệt khi vết thẹo trên má ông đỏ ửng lên,dần dật trông rất dễ sợ càng làm con bé nghi ngại. Nó mặt tái đi,vụt chạy , vừa chạy vừa kêu thét “má má”. Phản ứng sợ hãi của bé thu khiến ông Sáu đau đớn hụt hẫng. “Đau đớn khiến mặt anh sầm lại, hai tay buông thõng như bị gãy” ở đây nỗi đau tinh thần được cảm nhận bằng nỗi đau thể xác. Thì ra có một nỗi đau chẳng kém gì súng mìn đạn dược, thì ra sự quay lưng từ chính người thân yêu ruột thịt có thể kéo người ta từ bầu trời hạnh phúc, hi vọng xuống thung lũng đau thương như vậy. Đôi tay dang rộng để chào đón con nhưng nhận lại chỉ là một khoảng trống. Một khoảng trống vô hình mà lại trĩu nặng ngàn cân, làm cánh tay từng gánh vác bao đầu súng, tiêu diệt kẻ thù giờ đây mất hết sức lực và đôi chân từng vượt mọi hang sâu hốc đổ cheo leo chỉ có thể “đứng sững lại”. Phải chăng vì cả cõi lòng người cha ấy đã bị vùi trong thất vọng ập đến quá đỗi bất ngờ? Ngược lại với những mong đợi của ông, ngược lại với khung cảnh thường thấy của những cuộc đoàn viên, hành động bỏ chạy đi của bé Thu còn khiến người cha ấy tan vỡ hơn cả một cuộc chia ly.
Nhưng tình phụ tử sâu nặng nào dễ lụi tàn, ông Sáu vẫn kiên trì dùng tấm lòng chân thành của mình làm chất củi, đốt lên ngọn lửa yêu thương ấm áp để truyền đến,sưởi ấm cho con. Hai ngày ở nhà ông chả dám đi đâu xa chỉ quanh quẩn dỗ dành con. nhưng mọi cố gắng đều vô ích. Mặc kệ những lời nói cử chỉ vỗ về làm thân bé Thu vẫn một mực tỏ ra thờ ơ lạnh lùng. Ông càng xích lại con bé lại càng lùi xa, ông càng yêu thương con bé lại càng lảng tránh. Ông thèm ước được nghe một tiếng “ba” nhưng gọi ông vào ăn cơm con bé cũng nói cộc lốc, phải chắt nước nồi cơm đang sôi nó cũng nhất quyết ko chịu nhờ ông. Bao tiếng đạn nổ bom rơi khốc liệt, ám ảnh người chiến sĩ ấy gắng vượt qua chỉ mong ngày trở về đổi lấy tiếng “ba” từ đứa con thân yêu nhất. Nhưng giờ đây, con gọi cha là “người ta”, chẳng hơn chẳng kém gì người dưng nước lã! Cách cư xử ấy, thái độ ấy của bé Thu, hẳn là đã cứa sâu vào lòng ông Sáu , để lại vết xước lớn, nhức nhói hơn cả vết thẹo trên gương mặt. Khổ tâm hết sức, song ông chỉ biết lắc đầu khe khẽ cười. Quả thực: “Có lẽ vì khổ tâm đến mức không khóc được nên đành phải cười vậy thôi.” Tiếng cười nhưng lại mang thanh âm tiếng khóc, lại là giọt nước mắt dồn nén, theo đường chảy ngược vào trong. Phải chăng đúng như Nguyễn Ngọc Tư từng chiêm nghiệm: “ Nước mắt chảy từ con mắt là thứ thường thôi, có thứ nước mắt không chảy ra kiểu như vậy.” Đó mới là đau đớn tận cùng, gắng gượng dùng nụ cười trên môi che đậy vết nứt trong lòng. cũng từng vì thương con mà Lão Hạc “cười như mếu”, bà cụ Tứ qua ngòi bút Kim Lân cố “tươi cười, đon đả”, không dám để con nhìn thấy bà khóc”. Nhưng khi khổ tâm chất chồng, cuối cùng sẽ đến lúc không thể kìm nén nổi. Trong bữa cơm trưa, có miếng trứng cá ngon, ông Sáu gắp vào bát Thu nhưng con bé lại hất miếng trứng cá đi,như hắt hủi một cách phũ phàng nhất tình cảm của cha. giọt nước tràn ly, vào phút giây tức giận ông vung tay đánh con một cái. Nhưng đó đâu phải hành động bạo lực đáng lên án như người cha vũ phu, đánh con mình trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, người cha “dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát…” Bởi trong lời trách mắng: “Sao mày cứng đầu quá vậy hả” ta còn thấy xen lẫn trong cảm xúc tức giận không sao kìm nén đc là băn khoăn, thất vọng, đau khổ rồi lực bất tòng tâm. Tất cả hiển hiện, sưng tấy trên trang viết, tất cả xé toạc thành vết thương không thể khép miệng trong lòng người cha rất mực thương con nhưng lại bị con kiên quyết chối từ. Ngọn lửa yêu thương mỗi lần bền bỉ thắp sáng lên lần nữa lại tiếp tục bị dòng nước băng giá một mực vùi lấp. Cô bé nào hiểu cho những nỗi niềm giấu kín đang dồn nén trong lòng cha,những nỗi niềm đang bắt buộc phải được trút xuống, được thoát ra. Lúc này, Thu vẫn tỏ ra lì lợm “ngồi im, đầu cúi gằm” sau đó lặng lẽ đứng dậy đi ra xuồng chèo một mạch sang nhà bà ngoại. Tác giả không miêu tả tâm trạng của ông Sáu trước hành động quyết liệt cuối cùng này nhưng chính khoảng lặng đó cũng đủ lắng sâu vào lòng độc giả, đọng lại một nỗi lòng khắc khoải vì con. Yêu chiều không được, cứng rắn cũng không xong, ông Sáu phải làm sao đây? Người cha, người lính trên trang viết Nguyễn Quang Sáng tìm mọi cách làm đủ mọi điều để có được tình cảm từ con, đối lập với bậc sinh thành của chị em Điền trong “ Cánh đồng bất tận” – 1 người cha đối với con “ơ thờ, lạt lẽo, chuyện gì cần nói thì nói vài câu nhát gừng”, 1 người cha “ giống như đồ vật bằng gốm vừa qua cơn lửa lớn, vẫn hình dáng ấy nhưng đã rạn nứt, nên chúng tôi chỉ dám đứng xa mà nhìn, mủ mỉ nâng niu, nếu không thì vỡ mất.”
Đến lúc chia tay, tình phụ tử không chỉ là khoảng lặng nữa, mà thể hiện bằng một nốt giáng trầm hơn qua “đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu” ông sáu nhìn con.Ông muốn mà không dám đến ôm Thu, sợ nó giãy lên bỏ chạy nên chỉ dám nhờ ánh nhìn bộc bạch hộ tâm tư. Đôi mắt như mặt hồ, yên ả, dịu dàng ăm ắp tình thương cho con; nhưng cũng mang nỗi buồn ko ngớt tựa những gợn sóng lăn tăn cứ nối tiếp nhau trải mãi. Ba ngày quý giá sắp trôi qua mất rồi, chưa kịp nghe tiếng ba, đã phải trở lại cùng tiếng súng… Trước lúc lên đường ông chỉ chào nhỏ với giọng buồn buồn ” thôi ba đi nghe con”.ai cũng nghĩ Thu chỉ đứng nhìn như thế,nhưng bất ngờ nó lại kêu lên một tiếng “ba” tức tưởi, vỡ òa. Ông Sáu trong giây phút sững sờ một lần nữa không ghìm nổi xúc động . Người đàn ông bao phen xông pha trận mạc ấy tay ôm con, tay lau nước mắt. Đến đây ta mới thực sự hiểu vì sao giọt nước mắt là “giọt châu của loài người”, là miếng kính biến hình của vũ trụ” (Nam Cao). Giọt nước mắt của ông Sáu rơi xuống, đã ngân vang sự bất ngờ đang reo lên thánh thót, đã lấp lánh niềm hạnh phúc vô bờ của một người cha lần đầu được nghe con gọi ba sau bao nhiêu mong mỏi. Giọt nước mắt đã gột rửa đi mọi buồn khổ để nhường chỗ cho một niềm vui tươi sáng. Nhưng thực cảnh miền Nam thân yêu bấy giờ vẫn còn rất tối tăm. đây cũng có thể là giây phút cuối cùng cha con đc ở cạnh nhau. Vì vậy trong giọt lệ ấy vẫn có cả nỗi nghẹn ngào, tiếc nuối. Và ông Sáu vẫn phải tạm biệt con, lên đường đánh giặc.
Hành trang quan trọng nhất người cha ấy mang tới chiến trường có lẽ là tình phụ tử sâu sắc, là nỗi ân hận vì lỡ đánh con,là lời dặn của con ” ba về ba mua cho con cây lược nghe ba”. Ông quyết định tự làm 1 chiếc lược ngà tặng Thu. Kiếm đc khúc ngà, ông ” hớn hở như một đứa trẻ đc quà ” rồi ” ngồi cưa từng chiếc răng lược tỉ mỉ và cố công như một người thợ bạc”, ” gò lưng tỉ mẩn khắc từng chữ yêu nhớ tặng Thu con của ba” . Tình yêu con đã biến người chiến sĩ ấy trở thành một nghệ nhân – người nghệ nhân chỉ làm một tác phẩm duy nhất trong đời. Tình yêu là con trở thành nét hoa tay đặc biệt nhất để người lính vốn quen với súng đạn, khói bom đã khéo léo hơn bội phần. Lời nói yêu, nhớ Thu nào chỉ khắc lên chiếc lược, mà vốn còn khắc sâu vào lòng ông Sáu từ lâu. Chỉ cần khoảnh khắc con gọi “ba” , với vòng tay ôm và cái hôn thắm thiết đã đủ trở thành động lực lớn lao nhất để người cha ấy cầm súng chiến đấu. Đúng như Haruki Murakami từng nói:”Hạnh phúc luôn ngắn ngủi, nhưng trong những ngày tháng mệt mỏi của cuộc đời , chỉ cần nhớ về một khoảnh khắc hạnh phúc đã từng có, người ta lại có can đảm để sống.” (Ký ức được đánh số). Mỗi đêm nhớ con ông lại mang cây lược ra ngắm rồi mài lên tóc mình cho thêm bóng. Chiếc lược chưa chải được mái tóc Thu lần nào nhưng đã gỡ rối được một phần những tâm trạng ngổn ngang của ông. Nó trở thành cầu nối giữa cha con ông, thay cho lời xin lỗi lúc ông đánh con. Chiếc lược ấy là kết tinh của tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kì diệu thiêng liêng. Cũng kết đọng cả tấm lòng người cha dành cho con là những bức thư tay nhân vật bố của cậu bé Enricô trong “Những tấm lòng cao cả” viết gửi con mình. Bao nhắn nhủ chân thành về lẽ sống, cách làm người, bao yêu thương bày tỏ nơi câu chữ: “Bố rất yêu con, con ạ.” Nhưng nếu Enrico nhận được thư từ cha đều đặn mỗi tháng 1 lần thì bé Thu không được may mắn như vậy.
Ông Sáu ao ước đến ngày gặp lại con, trao cho con cây lược nhưng lại ngã xuống trong một trận càn của giặc. Không còn đủ sức trăn trối điều gì, ông thu tất cả tàn lực lấy cây lược trong túi đưa cho ông Ba và nhìn ông Ba hồi lâu. Ánh nhìn ấy trước lúc hi sinh còn thiêng liêng hơn cả những lời di chúc bởi đó là một sự ủy thác , là ước nguyện cuối cùng của ông, ước nguyện của tình phụ tử. Nếu Voltaire từng quan niệm: “chân lý cuối cùng trên cõi đời này vẫn chỉ là yêu. yêu là sống và còn sống là còn yêu” thì tình phụ tử giữa ông Sáu và bé Thu dường như đã vượt qua giới hạn của thế gian, đời người : “chỉ có tình cha con là kh thể chết đc”. Chiến tranh có thể lấy đi tất cả nhưng không thể giết chết được tình cha con trong trái tim người chiến sĩ bộ đội cụ hồ ấy.
Nếu ví tình cha của ông Sáu như ánh nắng trưa hè rực rỡ, chói ngời tâm trí độc giả thì tình cảm Thu dành cho cha sẽ là ánh nắng ban mai.ban đầu phải để ý kĩ mới thấy lấp ló qua tán lá, và đúng lúc vầng dương lên hẳn, ta mới bất ngờ, ấn tượng vì sức tỏa sáng khắp không gian của nó. Thu sinh ra trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Ông Sáu phải rời nhà đi kháng chiến từ lúc em chưa đầy một tuổi. Lớn lên mà chưa 1 lần đc cảm nhận hơi ấm của tình cha, em chỉ có thể nhìn ba qua tấm ảnh chụp chung với má. Thương nhớ bao nhiêu em cũng chỉ biết mang tấm hình ra ngắm. Hình ảnh cha đẹp đẽ hiền từ luôn in sâu trong tâm trí Thu, dù mới chỉ nhìn qua khung ảnh nhỏ ấy. Tận sâu trái tim cô bé ấy là khao khát cháy bỏng được gặp ba. Sau tám năm xa cách mới được gặp ba lần đầu- người cha bằng xương bằng thịt vậy mà em lại không nhận ra. Với 1 đứa trẻ chưa đầy mười tuổi, một người đàn ông lạ tiến đến đường đột và vồ vập quá mức, ngay lập tức gọi mình là ‘con’ xưng ‘ba’, phản ứng của Thu “giật mình tròn mắt nhìn”, rồi sợ hãi chạy vụt đi cũng dễ hiểu. Đặc biệt khi hình ảnh ba trong tâm trí em vô cùng hiền hậu đẹp đẽ, không hề mang vết thẹo dài trên mặt, lại đỏ ửng, dần dật dễ sợ như vậy.
Yêu cha hết mực nên dù thiếu thốn, khao khát tình cha nhưng em vẫn cự tuyệt mọi dỗ dành. Với em đó là ng đàn ông lạ, không phải ba, em đã tin là như vậy thì không vì đòn roi đe nạt hay lời ngon tiếng ngọt mà thay đổi. Em tìm mọi cách để chối từ ông Sáu: luôn nói trổng hoặc gọi ông là “người ta”. Thử thách lớn nhất là khi phải chắt nước ra khỏi nồi cơm to đang sôi, nó “nhăn nhó”, “luýnh quýnh”, “loay hoay”, tâm lý bối rối của một đứa trẻ tám tuổi hiện lên mồn một. Một là phải chịu khuất phục và gọi ông Sáu là “ba” để được giúp đỡ, hai là nó phải tìm cách làm một mình, sẽ rất khó khăn và nguy hiểm. Chao ôi, trên đời làm gì có ai thích chọn những thứ trắc trở hơn những thứ đơn giản, dễ dàng, trừ khi họ có thứ quý giá hơn cần phải bảo vệ, không thể đánh đổi. Và với bé Thu, một cô bé mới tám tuổi, tiếng “ba” nó cất giữ trân trọng ấy là điều đắt giá nó không thể tùy tiện gọi một người lạ chỉ đột nhiên xuất hiện trong đời nó. Vì yêu, vì kính trọng nên càng không thể đem ra để đổi lấy sự giúp đỡ. Nó phải giữ gìn tiếng gọi thiêng liêng ấy cho người ba thực sự mà nó được biết tới. Dù sẽ nguy hiểm, sẽ khó khăn, nó vẫn dùng cái vá để múc từng vá nước ra ngoài. Sự kiên quyết, thông minh của nó cũng khiến bác Ba, ông Sáu và cả người đọc đôi phần ngỡ ngàng. Không chỉ không muốn trao cho ông Sáu tiếng gọi “ba” mà nó còn một mực cứng rắn, không tiếp nhận tình cảm ông dành cho nó. Trong bữa cơm có miếng trứng cá ngon, ông Sáu lựa ra gắp vài bát Thu thế mà em lại hắt ra, cơm văng tung tóe khắp mâm. rồi vừa bị đánh vừa bị mắng nhưng con bé ko hề tỏ ra hối hận thậm chí còn lì lợm, lặng lẽ gắp miếng trứng vào bát rồi bỏ ra xuồng, còn cố ý khua dậy cột rổn rảng như khiêu khích. phản ứng có phần thái quá ấy như thách thức giới hạn của ông Sáu – người vốn vì thương con nên đã rất bao dung, nhẫn nại và cả người đọc. Nhưng như Nguyên Ngọc từng nói: “ nếu đọc bằng mắt thì chỉ thấy được hình dáng bên ngoài, đọc bằng tâm thì mới thấy được da thịt, đọc bằng hồn thì thấy được cốt tủy”, khi đọc hết tác phẩm và thực sự đặt mình vào vị trí của một cô bé tám tuổi, ta mới hiểu và cảm thông với những gì Thu hành xử. Cách biểu hiện tình cảm và bảo vệ hình tượng người cha trong lòng của em chỉ thật bộc trực, thậm chí là hồn nhiên đến mức đáng giận. Đối với cô bé, sự xuất hiện của ông Sáu như đang đe dọa đến hình tượng của người ba trong bức ảnh mà nó vẫn luôn ấp ủ trong lòng bấy lâu, một đứa trẻ tám tuổi sao có thể kịp thích nghi với những thay đổi bất thường lớn như thế trong cuộc đời chúng? Càng giữ khoảng cách với ông Sáu tức là càng giữ được nguyên vẹn hình ảnh người cha trong tâm trí nó, và đó cũng là cách duy nhất. Sự cương quyết, dữ dội kia thực chất chỉ là hình hài khác của một tình yêu cha vô cùng mãnh liệt, nào phải là thói xấu của một cô bé đỏng đảnh nhiều sách nhiễu, mà đó là sự kiên định, quyết liệt của một người có lập trường mạnh mẽ và yêu ba hết mực.
Nguyễn Quang Sáng đã làm rõ điều đó ở liền sau tác phẩm, rằng Thu thực sự là cây xương rồng bé nhỏ khoác lên lớp vỏ xù xì, gai góc nhưng trong lòng luôn dào dạt mạch nguồn yêu thương với cha. Khi được bà ngoại giải thích về lai lịch của vết sẹo trên má ông Sáu, em mới vỡ lẽ ông thực sự là bậc sinh thành đáng kính của mình. Lời của bà về chuyện ba nó đi đánh Tây bị Tây bắn bị thương,về
tội ác mấy thằng Tây ở đồn đầu vàm đủ tỏ tường tất cả, cũng giống như lời ông Kamaji làm cô bé Chihiro chợt hiểu: “Có 1 thứ mà cháu khó có thể nhận ra. Đó là tình yêu” (phim Vùng đất linh hồn). Tình yêu thiêng liêng từ người cha ruột thịt đã bị vết thẹo dần dật dễ sợ che dấu mất trong hai ngày qua,khiến Thu nhận nhầm đó là sự dỗ dành từ 1 ai đó xa lạ . Ròng rã tám năm, không đủ để đứa con quên đi hình ảnh người cha, nhưng đủ để chiến tranh tàn phá hình dáng một con người. Tâm trí non nớt của em có lẽ chẳng thể tưởng tượng nổi nơi chiến trường có thể khắc lên con người ta những vết thương đau đớn đến thế. Vậy nên khi vỡ lẽ ra tất cả, ” Nó nằm im lăn lộn thở dài như ng lớn”. Thu lúc này có sự khác biệt với những Thiều, những Tường, những Mận rất đỗi vô tư trên trang sách Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh: “trẻ con thì ko biết cách nuôi nấng nỗi buồn dài lâu như người lớn.” Là tình yêu cha đang lớn thêm gấp bội cũng khiến cho tâm hồn em thêm trưởng thành? Để rồi theo tiếng thở dài là hình ảnh mình cư xử lạnh lùng với ba ùa về, như cơn sóng cứ cuộn trào không yên trong tâm trí Thu. Ở ngoài mặt trận cha đã chịu bao đau đớn vậy mà trong mấy ngày nghỉ phép, vì em, ông lại buồn lòng nhiều hơn. Ân hận, rồi tiếc nuối do thời gian ở bên cha không còn bao lâu nữa. Chiến tranh chưa biết bao giờ kết thúc, ngày mai cha đi rồi, biết khi nào mới trở lại để em được sống trong tình phụ tử ấm áp, được chuộc lại lỗi lầm hôm nay?
Buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu lên đường, thái độ của Thu thay đổi đột ngột và cảm động. Nguyễn Quang Sáng đã bắt trọn những chuyển biến ấy và miêu tả nó một cách tinh tế. Bởi những phản ứng quyết liệt trước đây mà giờ đây nó ngại ngần, xấu hổ, chỉ dám đứng tựa cửa nhìn mọi người vây xung quanh ba. Vẻ mặt có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa,” mà sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ.Những trầm tư vương trên nét mặt rồi đọng lại sâu lắng nhất vào đôi mắt: “đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.” Nơi cửa sổ tâm hồn ấy của Thu không còn đóng chặt lại với sự kinh ngạc đến e sợ như lần đầu gặp ông sáu, mà đã rộng mở để thấy bầu trời yêu thương từ cha vời vợi nhường nào và hành động của mình đáng trách đến bao nhiêu. Để rồi biết đăm chiêu hơn, “nghĩ ngợi sâu xa”. Phải chăng Thu đang suy nghĩ, xin lỗi cha như thế nào đây, rồi làm sao để bồi đắp những yêu thương đã lỡ ? Nhưng em đã quên mất đâu có cách nào ngăn thời gian ngừng lại cho mình hoài suy tính,đã đến lúc chia tay. Lời chào của ông sáu cất lên khe khẽ mà như làm chấn động cả mảnh hồn bé nhỏ, “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”. Quả thực Nguyễn Quang Sáng cũng có chung quan điểm sáng tác như Maiacopxki: “Phải tốn cả nghìn cân quặng chữ chỉ để thu về một chữ mà thôi”. Từ “xôn xao” thật đắc địa, vốn là từ tượng thanh nay được nhà văn tinh tế dùng để miêu tả khoảng không gian bất tận trong đôi mắt của Thu. Nó bao la, bâng khuâng và lẻ loi kỳ lạ so với một đứa trẻ mới chỉ tám tuổi. Có lẽ đó là nỗi niềm tích tụ trong tám năm thiếu vắng hình bóng người cha, là nỗi sợ thêm một lần chia ly mà mình con bé không tài nào che giấu nổi nữa. Thế nên nó vỡ òa. Tiếng gọi “ba” xé toạc thinh không, xé toạc cả những ngăn cách ngại ngùng, xấu hổ mà con bé ngần ngừ trước đó. Tiếng gọi ấy tưởng chừng rất quen thuộc, gần gũi, có khi là lời nói đầu tiên của con người trong cuộc đời. Vậy nhưng với bé Thu nó lại là âm thanh đã phải dồn nén bao lâu nay, chứa chan biết bao nhớ nhung mong đợi.Nhưng cũng chính vì thế mà tiếng gọi ấy trở nên thiêng liêng và đong đầy cảm xúc hơn bao giờ hết. “Nó nhanh như một con sóc chạy tót lên và dang 2 tay ôm cổ ba nó. Nó vừa ôm vừa nói trong tiếng khóc. Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!” Đọc đến đây , ta nhớ đến cảnh gặp lại đầy xúc động của bé Hồng với mẹ trên trang viết “Trong lòng mẹ”, khi cậu bé cũng “òa lên khóc rồi cứ thế nức nở.” Có lẽ, với những đứa trẻ thiếu thốn tình cảm từ cha, hoặc mẹ, giây phút đoàn tụ thật sự là “một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc.” (Nguyên Hồng). Bởi thế nên bé Thu vội vã hôn ba nó: “hôn tóc, hôn vai, hôn cả lên vết thẹo dài”. Vết thẹo từng là thứ chia cắt cha con , giờ lại là thứ nó tự hào nhất, thứ hiện thân cho sự dũng cảm và can trường của cha nó, như một huy chương cho tấm lòng nhiệt thành đã xả thân vì tổ quốc mà nó sẽ trân trọng, kiêu hãnh hết đời này. Con bé vồ vập như vậy vì muốn được cảm nhận tình cảm của cha cho bằng hết trước khi ông Sáu lại phải đi xa. Cách bộc lộ tình cảm có phần tham lam này đã thể hiện rõ tấm lòng muốn bù đắp lại sự lạnh nhạt trong những ngày qua, và còn xuất phát từ nỗi sợ rằng sẽ còn rất lâu nữa, thậm chí ko bao giờ em được gặp ông Sáu lần thứ hai. Tình yêu Thu dành cho ba qua cách thể hiện ngây ngô, vụng về lại càng đáng quý, xúc động hơn. Và nhờ đó ta hiểu vì sao Colleen Oakland trong tác phẩm “Mạnh hơn cái chết” đã nói: “Tình yêu vốn xộc xệch. Nó không đến với chúng ta trong một chiếc hộp gói nơ hoàn hảo. Nó giống như món quà của một đứa bé, với những nét sáp màu nguệch ngoạc và móp méo. Không hoàn hảo. Nhưng vẫn cứ là một món quà.”
Trong cuốn sách “Yêu những gì không hoàn hảo”, Đại đức Haemin từng viết: “Con người ta chính là lò sưởi. Nhờ có nhau mà chúng ta có thể sưởi ấm cả thể xác lẫn tâm hồn.” Có lẽ vì vậy mà đọc những câu văn mộc mạc trên trang sách Chiếc lược ngà mà sao ta cứ cảm thấy có gì đó thật ấm áp trong lòng. Tình cha con giữa bé Thu và ông Sáu đã đốt lên một ngọn lửa nồng ấm, xua tan bao giá lạnh của thời chiến tranh khắc khổ. Và chất củi nhen lên ánh sáng yêu thương ấy chính là nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, đặc biệt là tâm lý của nhân vật trẻ em rất tinh tế; một tình huống hết sức chặt chẽ, hấp dẫn xoay quanh những tình huống bất ngờ nhưng tự nhiên và hợp lý; cách kể chuyện của tự nhiên và ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ. Tài năng của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, tình phụ tử thiêng liêng giữa ông Sáu và bé Thu bởi thế sẽ sáng mãi trên bầu trời văn học và trong trái tim độc giả muôn đời.

Xem thêm:  Karaoke yêu là gì mà làm người điên điên say say đến thế

#Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #tình #cảm #cha #con #trong #Chiếc #lược #ngà

Truyện ngắn Chiếc lược ngà mang tới cho người đọc câu chuyện cảm động về tình cha con sâu nặng, thiêng liêng. Với 8 bài Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng sẽ giúp các em hiểu sâu sắc hơn.

Sau khi đọc xong Chiếc lược ngà, người đọc không chỉ cảm nhận được tình cảm cha con sâu nặng, mà còn thấm thía những mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra, khiến gia đình li tán. Chi tiết mời các em cùng theo dõi bài viết để ngày càng học tốt môn Văn 9.
Đề bài: Phân tích tình cảm cha con trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
Dàn ý phân tích tình cảm cha con trong truyện Chiếc lược ngà
Dàn ý 1
I. Mở bài
– Giới thiệu tác giả: Nguyễn Quang Sáng: Nguyễn Quang Sáng là nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam.
– Giới thiệu tác phẩm: Chiếc lược ngà
Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” ra đời năm 1966, những năm tháng gian khổ, đau thương nhất của đồng bào Nam Bộ trong 30 năm chiến tranh.
Truyện thể hiện cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.
– Giới thiệu khái quát về tình cảm cha con của ông Sáu
II. Thân bài
1. Tóm tắt truyện
Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” xoay quanh tình huống gặp mặt của bé Thu và ông Sáu.
Khi ông Sáu đi kháng chiến, bé Thu chưa đầy một tuổi. Tám năm trời cha con em chỉ biết nhau thông qua 2 tấm ảnh. Lần nghỉ phép ba ngày của ông Sáu là cơ hội hiếm hoi để ba con Thu gặp gỡ, bày tỏ tình phụ tử. Nhưng bé Thu lại không chịu nhận cha vì vết thẹo trên má làm ông Sáu không giống như trong tấm ảnh. Đến lúc Thu nhận ra thì cũng là giây phút ba em lên đường tiếp tục đi chiến đấu. Và lần gặp mặt ấy là lần đầu tiên, duy nhất, cuối cùng của cha con Thu.
2. Phân tích
* Tình cảm của ông Sáu đối với con gái nhỏ được biểu hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà.
a. Trên đường về thăm nhà
Trong lòng ông bồi hồi xúc động: cái tình người cha cứ nôn nao trong lòng ông. Người cha được về thăm nhà sau bao nhiêu năm ở chiến khu.
Khao khát đốt lòng ông là được gặp con, là được nghe con gọi tiếng ba, để được sống trong tình cảm cha con, mà lâu nay ông chưa từng được sống, bấy lâu ông mong đợi.
Khi trông thấy đứa trẻ chơi trước sân nhà, ông đã cất tiếng gọi con thân thương trìu mến bằng tất cả tấm lòng mình: Thu con! Ba đây con! Ba đây con”.
=> Tiếng gọi thổn thức của người cha cất lên từ sâu thẳm trái tim của người lính sau bao năm xa cách làm xao động tâm hồn người đọc. Nhưng trái với niềm mong đợi của ông, những tưởng bé Thu sẽ ào tới, ôm lấy thoả những tháng ngày xa cách. Nhưng không , ông hẫng hụt bất ngờ khi thấy: “Bé tròn mắt ngơ ngác nhìn rồi sợ hãi bỏ chạy” khiến ông Sáu sững sờ, thất vọng, rơi vào tâm trạng hụt hẫng.
b. Những ngày ở bên con
– Trong ba ngày phép ngắn ngủi, ông luôn ở bên con không đi đâu xa, suốt ngày chỉ tìm cách an ủi vỗ về nó.
Ông tìm mọi cách để mong được nghe một tiếng ba” nhưng đều thất bại. Khi má bảo Thu kêu ba vô ăn cơm, dọa đánh để cô bé gọi ba một tiếng. Thu nói trống không: “Con kêu rồi người ta không nghe”. Hai từ “người ta” mà Thu kêu làm ông đau lòng, khổ tâm.
Trong bữa cơm, bằng lòng thương của người cha ông Sáu gắp cho con cái trứng cá to và vàng ươm, ông tưởng con sẽ đón nhận vậy mà nó bất thần hắt cái trứng cá ra khỏi chén. Nỗi đau khổ trong ba ngày nén chịu trào lên, ông giận quá đánh con đã làm mất tia hy vọng cuối cùng về tình phụ tử.
c. Trong những ngày ở khu căn cứ
Anh ân hận vì đã trót đánh con. Nhớ lời con dặn “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt.
Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước đầu tiên mà cũng là duy nhất.
=> Cho nên, nó cứ thôi thúc trong lòng. Kiếm cho con cây lược, trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng.
Trước lúc hy sinh, “dường như chi có tình cha con là không thể chết”, không còn đủ sức trăng trôi điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc đưa tay vào túi, móc cái lược đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cử nhìn bạn hồi lâu.
=> Nhưng đó là điều trăng trối không lời, nó rõ ràng và thiêng liêng hơn cả một lời di chúc. Bởi đó là sự ủy thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân: ước nguyện của tình phụ tử! Từ lúc ấy, cây lược bằng ngà đã trở thành kỷ vật, thành biểu tượng thiêng liêng của tình phụ tử. Những dòng cuối cùng của truyện khép lại trong nỗi buồn mênh mông mà chứa chan ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
III. Kết bài
Khẳng định giá trị của tác phẩm.
Tình cảm của em dành cho tác phẩm cũng như bài văn: Sau khi học xong truyện Chiếc lược ngà, em thấy tình cảm cha con nói riêng, tình cảm gia đình nói chung là tình cảm cao quý. Lớp trẻ chúng ta hôm nay được sống trong hòa bình không thể không nhớ đến sự hi sinh của những người như ông Sáu. Mọi người phải sống và làm việc sao cho xứng đáng với các tình cảm cao quý đó. Đây cũng là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn” cần kế thừa và gìn giữ, phát huy.
Dàn ý 2
I. Mở bài
Giới thiệu tác giả: Nguyễn Quang Sáng là nhà văn gắn liền với miền đất Nam Bộ, văn ông có giọng điệu tự nhiên, thân mật, dân dã, ngôn ngữ gần với khẩu ngữ, lời ăn tiếng nói của nhân dân Nam Bộ.
Truyện ngắn Chiếc lược ngà được sáng tác năm 1966 đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.
II. Thân bài
* Tình cảm cha con trong truyện ngắn này được thể hiện từ hai phía: tình cảm của con dành cho cha và tình cảm của cha dành cho con.
1. Tình cảm của bé Thu dành cho ông Sáu
– Khi chưa nhận ra ông Sáu với vết thẹo dài trên mặt, bé Thu đã có thái độ xa lánh, hành động cự tuyệt và những lời nói cử chỉ khiến ông Sáu phải đau lòng: (hét toáng lên khi nhìn thấy ba, toàn nói lời trống không, nhất định không chịu nhờ ông Sáu chắt nước cơm cho, hất cái trứng cá…).
=> Tất cả những hành động ấy đã thể hiện được cá tính mạnh mẽ và tình cảm yêu thương rạch ròi của cô bé.
– Khi nhận ra ông Sáu là cha mình, trong buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu phải lên đường, thái độ, hành động của bé Thu đột ngột thay đổi:
Nó bỗng kêu thét lên “ba” – tiếng kêu như xé tan sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người.
Cô bé chạy xô tới, dang hai tay ôm lấy cổ ba, hôn ba cùng khắp (hôn tóc, hôn cổ, hôn vai, hôn vết thẹo), dang cả hai chân để câu chặt lấy ba, đôi vai nhỏ bé run run. Tình yêu thương ba được bộc lộ một cách mãnh liệt, dâng trào, không thể kìm nén nổi. Em yêu ba, nhớ ba, mong ba. Nay tình cảm ấy mới có dịp vỡ òa ra nên vô cùng mạnh mẽ, hối hả, cuống quýt.
2. Tình cảm của ông Sáu dành cho con
Khi bị con từ chối, ông cảm thấy vô cùng hụt hẫng, đau khổ, cáu giận, không thể kìm chế nổi. Ông đã đánh con vì nó không chịu nhận mình. Đây là biểu hiện đau khổ tột cùng của người cha khi bị con khước từ.
Về đơn vị, ông day dứt, ân hận vì trong lúc nóng giận đã đánh con. Chi tiết này thể hiện tình yêu con tha thiết.
Khi kiếm được khúc ngà voi, ông vô cùng vui mừng sung sướng, dành hết tâm trí, công sức vào việc làm cây lược. Chiếc lược đã trở thành vật báu thiêng liêng đối với ông Sáu. Nó làm dịu đi những ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến của ông với đứa con xa cách nơi quê nhà.
Trước lúc hi sinh, lời trăng trối sau cùng, ông muốn nhờ bạn trao tận tay chiếc lược ngà cho con.
III. Kết bài
Truyện ngắn Chiếc lược ngà đã khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc. Tình cảm ấy càng trở nên cao đẹp, thiêng liêng hơn trong những cảnh ngộ éo le của cuộc chiến tranh tàn khốc.
Phân tích tình cha con trong Chiếc lược ngà
Nguyễn Quang Sáng là nhà văn gốc An Giang, những tác phẩm của ông gắn liền với vùng đất và con người miền Tây Nam Bộ. “Chiếc lược ngà” là một tác phẩm hay và tiêu biểu của ông. Bằng việc sáng tạo tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lý cùng nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật, truyện đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp của cha con ông Sáu trong cảnh ngộ éo le của cuộc chiến tranh.
Trong chiến tranh, sự mất mát, thiệt thòi, hy sinh về tình cảm gia đình là điều tất nhiên. Ông Sáu xa nhà đi theo tiếng gọi của kháng chiến khi con gái đầu lòng mới tròn một tuổi. Ông trở về thăm nhà sau tám năm xa cách gia đình, nhưng trớ trêu thay, bé Thu không nhận ra ông là ba. Khi vừa gặp gỡ, Thu ngờ vực, lảng tránh, thậm chí còn bỏ chạy vì sợ hãi bởi “vết thẹo bên má phải cứ mỗi khi anh xúc động lại đỏ ửng lên, giật giật trông rất dễ sợ”.
Trong những ngày ông ở nhà, Thu kiên quyết không nhận ông là ba mặc dù ông đã tìm mọi cách để gắn kết tình cha con với cô bé. Sự cương ngạnh của cô bé không đáng trách vì em còn quá nhỏ để có thể hiểu được những khó khăn, mất mát và xa cách mà chiến tranh mang lại và em cũng chưa thể sẵn sàng để đón nhận người ba sau một khoảng thời gian dài như thế.
Em không nhận ông Sáu là cha vì sau nhiều năm, chiến tranh đã khiến ông có vết thẹo dài trên má không giống bức hình chụp chung với má mà em biết. Điều đó chứng tỏ Thu có tình cảm dành cho ba nhưng chỉ là do em chưa sẵn sàng. Em chưa biết chắc đó là ba nên không thể biểu lộ tình cảm một cách tự nhiên được.
Buổi sáng sớm cuối cùng trước khi ông Sáu lên đường trở lại chiến khu, thái độ của Thu đột nhiên thay đổi. Trong đêm bỏ về nhà ngoại Thu đã được bà giải thích về vết sẹo trên má của ba. Bé hiểu ra, cảm thấy ân hận và hối tiếc vô cùng: “nghe bà kể, nó nằm im lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Lúc chia tay “vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của bé thật dễ thương”.
Khi ông Sáu ngậm ngùi nhìn con để chào từ biệt, “đôi mắt mênh mông của con bé xôn xao” tình cha con đã dồn nén bấy lâu nay chợt vùng lên mạnh mẽ, vô cùng hối hả, cuống quýt. Thu thét lên gọi ba “tiếng kêu của nó như tiếng xé”, “xé tan sự im lặng và xé cả ruột gan của mọi người, nghe thật xót xa”. Hành động của cô bé cũng thay đổi “nó nhảy thót lên, dang cả hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó hôn ba nó cùng khắp, hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”…
Tất cả những biểu hiện đó của bé Thu đều bắt nguồn từ tình cảm thương yêu và nhớ mong dành cho người ba mà nó hằng tôn kính, tôn thờ và không ai có thể thay thế được. Ở Thu sự ương bướng và mạnh mẽ nhưng vẫn có nét ngây thơ, hồn nhiên của con trẻ. Bằng tâm hồn tinh tế, một trái tim nhân hậu và chứa chan tình yêu thương đối với tình cảm gia đình, Nguyễn Quang Sáng dường như đã cảm nhận đến sâu sắc nhất những biểu hiện tình cảm của nhân vật để miêu tả một cách sinh động và tinh tế.
Tình cảm của ông Sáu đối với bé Thu được biểu hiện qua chuyến về thăm nhà sau tám năm xa cách. Khi xuồng còn chưa kịp cập bến, nhìn thấy con gái ông đã vội vàng “nhảy thót lên, khom người, hai tay đưa về phía trước, miệng lắp bắp: “ba đây con! ba đây con””. Ông cứ tưởng sẽ ào tới, ôm lấy cổ ba cho thỏa những ngày tháng xa rời. Nhưng không, ông hụt hẫng khi “bé tròn mắt ngơ ngác nhìn rồi sợ hãi bỏ chạy”.
Thời gian ở nhà không nhiều nên ông Sáu chỉ ở nhà tìm cách gần gũi, gắn kết với con, chỉ mong nghe một tiếng “ba” từ con gái mà không được. Có lúc giận quá ông đã không kiềm chế mà đánh con. Lúc chia tay, tình yêu mãnh liệt của bé Thu khiến ông “một tay ôm con, tay kia lấy khăn chấm nước mắt”.
Càng cảm động và đau đớn hơn khi biết rằng lần đầu tiên này cũng chính là lần cuối cùng anh được nghe tiếng gọi ba thân thương từ bé Thu, bởi vì sau đó, anh đã không thể trở về một lần nào nữa!. Trong những ngày ở chiến khu, anh ân hận vì những lần đã trót đánh con. Khi nhặt được một khúc ngà voi anh vui mừng như trẻ nhỏ “mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”.
Những ngày sau đó tất cả tình cảm yêu quý, nhớ thương con anh đều dồn vô việc làm cây lược. Anh “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng và tỉ mỉ”, anh còn khắc lên “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”… Những lúc nhớ con anh mang cây lược ra chải lên tóc mình cho cây lược thêm óng mượt.
Những lúc ấy anh tha thiết mong có một lần về phép thăm nhà để anh tự tay mình cầm cây lược chải lên mái tóc cho con… Nhưng chiến tranh tàn khốc đã cướp mất giấc mơ đó, khiến anh chẳng bao giờ có thể trở về bên con gái mình được nữa. Anh đã hy sinh trong một trận càn quét lớn của địch. Những lời trăn trối cuối cùng “dường như chỉ có tình cha con là không thể chết”, anh cầm cây lược trao cho anh Ba với niềm mong mỏi không còn có thể cất được thành lời.
Từ lúc ấy, cây lược bằng ngà đã trở thành một kỷ vật tình cha con, thành biểu tượng thiêng liêng của tình phụ tử. Những dòng cuối cùng của truyện khép lại trong nỗi buồn như cắt vào tim mà chứa chan ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Câu chuyện cảm động của cha con ông Sáu đã phản ánh giá trị hiện thực trong chiến tranh. Chiến tranh ác liệt và phi nghĩa đã cướp mất đi hạnh phúc gia đình của bao nhiêu cuộc đời. Tác giả đã xây dựng một tình huống truyện độc đáo và miêu tả tâm lý nhân vật rất thực và hợp lý, chỉ có trong chiến tranh và nhờ tình huống này mà tình phụ tử được khắc sâu tô đậm như một lẽ sống. Qua đó, Nguyễn Quang Sáng cũng bộc lộ thái độ căm ghét với chiến tranh. Và vì vậy, giá trị nhân đạo của tác phẩm càng nâng cao.
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 1
Trong khói lửa chiến tranh, người ta cứ ngỡ tưởng rằng, trong các tác phẩm văn học thời kì đó, chỉ có bom mìn, lửa đạn, chỉ có đau thương và mất mát, chỉ có máu và nước mắt chan hòa cùng với nhau… nhưng có một tác phẩm viết về tình cha con thật nhẹ nhàng, sâu lặng, thấm thía và cảm động vẫn cứ lặng lẽ xuất hiện ngay giữa trận địa chiến đấu chống quân thù, đó là truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” là một trong các truyện ngắn thành công nhất trong sự nghiệp cầm bút của ông. Tác phẩm được sáng tác năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc đang diễn ra rất quyết liệt. Qua tác phẩm, người đọc thấy được tình cảm cha con thật đẹp, thiêng liêng, cao cả trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.
Sau tám năm ròng đi lính xa cách gia đình, anh Sáu được phép về thăm nhà, thăm con, trong lòng anh nôn nao, mong ngóng muốn được gặp con và ôm con vào lòng ngay tức khắc. Vì thế, không đợi thuyền cập bến, anh Sáu đã “nhón chân nhảy thót lên bờ, xô chiếc xuồng tạt ra” rồi “bước vội vàng với những bước dài”, “miệng kêu to tên con, vừa bước vừa khom người đưa tay đón chờ con”. “Anh không kìm nổi nỗi xúc động” khi gặp lại con, vết sẹo dài bên má lại đỏ ửng, giần giật trông dễ sợ. Giọng lắp bắp, run run: “Ba đây con!, Ba đây con!”. Nhưng trái lại với cảm xúc đó của anh, bé Thu sợ hãi, bỏ chạy, không nhận ra cha mình. “Anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”. Tâm trạng anh Sáu đau khổ tột cùng, anh mong ngóng được con chạy lại ôm mình nhưng đứa con bé bỏng, ngây thơ lại xa lánh, hoảng sợ khiến anh hụt hẫng, đau đớn và thất vọng.
Trong ba ngày nghỉ phép ở nhà, anh tìm mọi cách để được bé Thu gọi một tiếng “ba”. Nhưng dường như mọi sự cố gắng của anh đều thất bại, từ việc anh “giả vờ không nghe” lúc bé mời ăn cơm, cho đến việc “dồn nó vào thế bí” khi chắt nước cơm đều không có kết quả. Trong bữa ăn, anh gắp cái trứng cá vào chén của bé, bé đã hất cái trứng cá ra ngoài làm cơm văng tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh con, con bé bỏ sang nhà ngoại. Anh khao khát tình cảm của con bao nhiêu thì con bé lại hoàn toàn lạnh lùng trước mọi tình cảm vồ vập của cha bấy nhiêu. Anh càng muốn xích gần nó, nó lại càng lùi xa; anh càng chiều thương nó, nó lại càng lẩn tránh; anh càng mong được nghe tiếng ba thì nó lại càng không gọi. Anh kiên nhẫn, đợi chờ tình cảm của con “suốt mấy ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con”, “anh quay lại nhìn con vừa khẽ lắc đầu, vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được nên anh phải cười vậy thôi”.
Sáng hôm sau, khi chuẩn bị phải xa gia đình, tiếp tục tham gia chiến đấu, anh Sáu rất muốn được ôm con và hôn con nhưng lại sợ nó giãy lên lại bỏ chạy, nên “anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi ấy, bé Thu đứng vào một góc nhà, tựa cửa và nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Nhưng thái độ và hành động của bé khác hoàn toàn mọi khi: “nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu”, “đôi mắt mông mông của con bé bỗng xôn xao”, “tình cảm cha con như bỗng trỗi dậy trong người nó”, “nó kêu thét lên: “Ba…a…a…ba!”. Sự khao khát tình cảm cha bị kìm nén suốt mấy năm, nay bỗng bật lên xé tan cả sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, “nghe thật xót xa”. Thế rồi, nó vừa kêu, vừa chạy tới, nhanh như một con sóc, “nó chạy thót lên và dang hai tay ôm lấy cổ ba nó”. Sự xúc động ngẹn ngào đã khiến “làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên”. Nó hôn khắp người anh Sáu, “hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”. Anh Sáu “không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con”. Đó là giọt nước mắt của hạnh phúc, của tình thương yêu mà người cha dành cho con sau tám năm ròng xa cách.
Sợ cha đi mất, “chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân câu lấy ba nó và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Sau khi nghe ông Sáu nói: “Ba đi rồi ba về với con”, bé Thu thét lên: “không!”. Vừa khóc vừa không cho cha đi. Giọt nước mắt ấy là biểu hiện của tình cha con ấm áp, của sự hạnh phúc vỡ òa khi nhận ra cha sau tám năm xa cách, lại vừa xen lẫn cả sự ăn năn, hối hận vì không kịp nhận ra cha sớm hơn chút nữa…Chứng kiến cảnh ngộ ấy, có người đã không cầm được nước mắt, còn bác Ba thì cảm thấy như có bàn tay nắm lấy trái tim mình mà bóp thắt lại…
Qua thái độ và hành động của bé Thu trước và sau khi nhận ra ông Sáu là cha mình, người đọc thấy được đằng sau sự hồn nhiên, ngây thơ và cứng đầu, bướng bỉnh của bé là tình cảm cha con sâu nặng, bền chặt, thiêng liêng. Trước đó, bé không chịu nhận cha, bởi đơn giản là vì bé thấy người cha của hiện tại trước mắt khác với tấm hình chụp chung với má của bé quá. Vả lại Thu còn quá bé bỏng để có thể thấu hiểu được sự khắc nghiệt của cuộc sống, của chiến tranh và người lớn cũng chưa kịp giải thích cho bé hiểu nên bé không tin là người có vết sẹo trên mặt kia là ba của mình. Đồng thời, điều đó cũng chứng tỏ tình cảm sâu sắc của bé dành cho ba. Bé chỉ yêu, chỉ nhận ba khi biết chính xác đó là ba của bé mà thôi. Cho nên, những phản ứng sau này trước khi anh Sáu lên đường của bé Thu đã dâng đầy lên rồi vỡ òa ra thành tiếng khóc, tiếng nấc đến nghẹn ngào, chứng tỏ được tình cảm mà bé dành cho cha cũng mãnh liệt, cũng khát khao giống như anh Sáu dành cho bé Thu vậy.
Không dừng lại ở đó, tình cha con anh Sáu sâu nặng, bền chặt và thiêng liêng còn được thể hiện khi anh trở về đơn vị mặt trận. Anh day dứt, ân hận vì đã nóng giận đánh con. Và anh đã dồn tất cả tình thương, nỗi nhớ con bằng việc làm một cây lược ngà – lời hứa với con trước lúc chia tay. Vì thế, khi kiếm được khúc ngà voi, lòng anh “hớn hở như một đứa trẻ được quà”, rồi dành hết tâm trí, tình cảm vào làm một cây lược. “Anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Trên sống lưng của chiếc lược có khắc dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” mà ông gò lưng, khắc từng nét một. Chiếc lược ngà phần nào gỡ rối được tâm trạng của người cha. Chiếc lược trở thành vật quý giá mà ông dồn tất cả tình cảm yêu thương con của người cha sau tám năm ròng xa cách. Vì thế, mỗi khi nhớ con, ông lại mang chiếc lược ra ngắm và chải lên tóc mình cho thêm bóng, thêm mượt.
Nhưng rồi anh Sáu đã hi sinh trong một trận càn của giặc, khi còn chưa kịp trao cây lược cho con gái. Trước lúc tắt thở, không còn sức trăng trối lại điều gì, “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”, anh đã lấy cây lược mà anh thường mang theo bên mình rồi trao cho bác Ba – người bạn đồng đội của mình và nhìn người bạn một hồi lâu, cái nhìn như gửi gắm sự ủy thác thiêng liêng. Chỉ khi nhận được lời hứa của bác Ba, “mang về tận tay trao cho cháu” thì người cha mới nhắm mắt, xuôi tay. Điều đó cho ta thấy tình cha con mãnh liệt và tha thiết của anh Sáu dành cho con gái yêu bé bỏng của mình.
Để rồi sau này, bé Thu lớn lên, trở thành cô giao liên xinh đẹp, dũng cảm, bước tiếp con đường cách mạng mà cha cô đã từng đi. Sau ba năm ngày mất của anh Sáu, cô nhận được chiếc lược ngà mà bác Ba gửi, nhìn dòng chữ khắc ghi “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”, cô cảm thấy như được gặp lại chính bóng hình người cha thân yêu. Cô đã không kìm được lòng mình, “hai giọt lệ sắp rơi xuống bỗng vỡ ra tràn đầy qua đôi mắt”. Và giọt nước mắt của Thu chính là giọt nước mắt của tình phụ tử sâu lặng, vĩnh hằng, bất biến!.
Tóm lại, qua câu chuyện, người đọc không chỉ cảm nhận được tình cảm cha con sâu nặng của anh Sáu mà còn thấm thía về những đau thương, mất mát, éo le mà chiến tranh đã gây ra, khiến cho gia đình phải li tán, vợ xa chồng, con xa cha. Đồng thời qua truyện, người đọc cũng thấy được những hi sinh thầm lặng mà cao cả của những người lính trong chiến tranh đối với quê hương, đất nước, vì hòa bình dân tộc. Từ đó, ta càng cảm thấy trân trọng hơn nền hòa bình dân tộc và càng quí trọng hơn tình cảm gia đình mà mở rộng ra là tình yêu quê hương đất nước.
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 2
Trong mỗi chúng ta, ai mà chẳng được sống trong những giây phút xúc động của tình cảm gia đình. Đến với văn học ta càng cảm nhận rõ nét hơn sự rung cảm đến tột cùng đó. Nếu đến với ” Bếp lửa” của Bằng Việt ta được sống lại cuộc sống êm đềm bên người bà… Đến với ” Tắt đèn” của Ngô Tất Tố ta được chìm ngập trong tình mẹ con sâu nặng…Thì đến với tác phẩm ” Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện thật cảm động tình cảm cha con của ông Sáu và bé Thu.
Dưới cây bút tài ba của nhà văn ta được đến với những tình huống vô cùng độc đáo và bất ngờ, qua đó càng nhấn mạnh tình cảm cha con sâu sắc cao đẹp trong cảnh ngộ éo le. Cái cảnh ngộ đã làm bé Thu và ông Sáu trở nên xa cách và lạnh lùng.
Sau tám năm xa cách gia đình, vợ con để đi chiến đấu lúc nào ông Sáu cũng nuôi trong mình hy vọng là được về thăm nhà. Thế rồi cái ước mơ đó đã trở thành hiện thực, ông được về thăm nhà, thăm vợ con. Lúc về đến nhà ông vô cùng hồi hộp được nhìn thấy đứa con sau bao năm xa cách, nhưng ông càng hy vọng bao nhiêu thì càng thất vọng bấy nhiêu. Bé Thu – con gái ông đã không nhận ra cha bởi vì cái vết thẹo dài trên má. Đã làm cho ông Sáu đau lòng nhưng ông vẫn yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Chỉ vì cái vết thẹo mà chiến tranh tàn khốc đã gây nên đã tạo ra những bi kịch đáng buồn, là bức rào ngăn cản cha con.
Đọc tác phẩm, ta thấy trong mình sục sôi sự căm ghét chiến tranh, không những gây nên sự hy sinh đau khổ mà còn gây lên những trớ trêu mà ngay cả những đứa trẻ thơ ngây, hồn nhiên cũng phải gánh chịu. Hành động chạy vụt đi của bé Thu khi ấy cũng chỉ là xuất phát từ tình yêu mà bé dành cho cha, vì người cha trước mặt không giống với người cha trong ảnh mà mẹ đã chỉ. Bé cũng chỉ là nạn nhân của chiến tranh, không được sống gần gũi, yêu thương của cha mà phải xa cha từ nhỏ. Nhưng vết thẹo dài trên mặt ấy chỉ là bức cản tạm thời, nó đã không che lấp được tình cha con. Tình cha con sâu nặng đã vượt lên trên tất cả sự đau thương mất mát để được bên nhau. Tuy chỉ là nhưng giây phút ngắn ngủi nhưng chứa đựng là những kỷ niệm khó quên trong tâm hồn bé Thu và ông Sáu.
Mà có lẽ, ta không thể không xúc động trước tình cảm yêu thương tha thiết của ông Sáu dành cho đứa con gái.Ôi ! ta phải thốt lên trước những hành động suy nghĩ của ông Sáu khi ở căn cứ. Vì nỗi nhớ thương con da diết đã khiến ông dồn hết tâm trí và sức lực những lúc dỗi dãi ông chau chuốt làm cho con một chiếc lược thật đẹp bằng ngà voi. Cái hình ảnh ấy cứ thấp thoáng đâu đây: ” Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Chiếc lược đã trở thành vật thiêng liêng quý giá chứa đựng bao nỗi nhớ thương yêu con của ông Sáu. Ông đã từng tưởng tượng cái giây phút hạnh phúc khi được tận tay trao chiếc lược cho con nhưng tất cả đã trở thành kỷ niệm, ông Sáu đã hy sinh. Một lần nữa người đọc lại thấm thía về sự mất mát hy sinh của chiến tranh.
Tóm lại, khi đọc tác phẩm ” Chiếc lược ngà” với cốt truyện chặt chẽ, bất ngờ đã đưa người đọc đến với tình cảm cha con sâu nặng nhưng vô cùng éo le trong cảnh ngộ chiến tranh. Qua đó Nguyễn Quang Sáng muốn gửi đến bạn đọc rằng : tình cảm cha con là một tình cảm vô cùng thiêng liêng và cao quý đối với mỗi chúng ta. Vậy nên chúng ta hãy biết trân trọng tình cảm và quý mến tình cảm ấy.
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 3
Nguyễn Quang Sáng là một cây bút truyện ngắn nổi tiếng trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Tác phẩm của ông thường viết về cuộc sống và con người Nam Bộ cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Truyện ngắn “Chiếc lược Ngà” được viết năm 1966, lúc tác giả hoạt động cách mạng ở chiến trường Nam Bộ. Tác phẩm ngợi ca tình cha con thiêng liêng, sâu nặng của ông Sáu và bé Thu như một giá trị nhân bản sâu sắc. Tình cảm ấy càng cao đẹp trong hoàn cảnh chiến tranh.
Câu chuyện cảm động về tình cha con của ông Sáu và bé Thu. Vì chiến tranh, đã bảy tám tuổi mà Thu chỉ biết được mặt cha qua tấm ảnh. Vì chiến tranh, gương mặt ông sáu có một vết sẹo, không còn giống như gương mặt mình trong tấm ảnh, nên khi ông về nhà, Thu không nhận ra cha. Vì chiến tranh, ông lại tiếp tục đi chiến đấu; lúc chia tay, Thu nhận ra ông Sáu chính là cha mình. Vì chiến tranh, dù làm xong cho con chiếc lược bằng ngà voi, ông Sáu không kịp chải lên mái tóc con, chỉ kịp gửi lại cho người bạn mang về cho con. Vì chiến tranh, khi Thu đã là cô giao liên hai mươi tuổi, gan dạ, thông minh, trong một chuyến công tác bác Ba mới nhận ra con của người đồng đội đã hi sinh và trao lại chiếc lược ngà cho Thu.
Đọc “Chiếc lược ngà”, người dửng dưng nhất cũng không thể dửng dưng trước cảnh cha con sống chung một nhà, cha chờ con gọi tiếng “ba” mà con thì nhất quyết không trò chuyện với “ người ta”. Nếu đó là một người dưng thực sự thì sự thờ ơ của Thu là không đáng trách. Nhưng điều trớ trêu là chúng ta cũng không thể trách Thu khi người ấy là cha ruột của em. Chiến tranh đã làm gương mặt cha có một vết sẹo khiến Thu không nhận ra. Vết sẹo ấy như một con dao cắt lìa tình cha con. Bằng chi tiết này, Nguyễn Quang Sáng muốn nhắc nhở chúng ta rằng chiến tranh không chỉ gây ra những hi sinh, thương tật cho con người mà còn gây ra những nỗi đau chia cắt không gì bù đắp được.
Thu không nhận ra ba, hất bỏ cái trứng cá mà ông Sáu gắp cho là một sự bướng bỉnh nhưng đáng yêu. Có yêu người cha trong tấm ảnh một cách sâu sắc, Thu mới khó chịu trước sự ân cần của một người mà từ trong lòng em nghĩ đó không phải là cha mình. Đâu phải ai cho ta cái gì, dù đó là cái quý giá, cũng có thể nhận là tình cảm thiêng liêng được khi mà lòng ta chưa cảm được sự gần gũi và thiêng liêng thực sự.
Được bà ngoại giải thích, hiểu được nguyên cớ của vết sẹo, lúc chia tay, Thu bất ngờ ôm chầm lấy ông Sáu, gọi tiếng “Ba” và nũng nịu “Ba mua cho con cây lược nghen ba”. Tiếng gọi thiêng liêng ấy cất lên từ sâu thẳm trong lòng đứa con bé bỏng. Tiếng gọi ấy làm xao động trái tim người đọc để một lần nữa chúng ta cảm thấy uất hận kẻ đã gây ra “vết sẹo tình thương” cho bao gia đình miền Nam thời chiến tranh chia cắt. Chiến tranh làm cho vợ xa chồng, con phải xa cha. Chiến tranh làm cho những tình cảm tự nhiên của con người phải nghẹn ngào, uất ức. Và khi nghe tiếng nói dịu ngọt mà nghẹn ngào của con, ông sáu đã khóc. Đó là giọt nước mắt hạnh phúc của người cha khi nhận được tình ruột thịt từ con. Đó là giọt nước mắt mang thông điệp hãy nâng niu và giữ gìn tình phụ tử.
Những ngày ở chiến khu, cưa từng răng lược cho con, ông Sáu tự xoa dịu nỗi nhớ con, ân hận vì đã đánh. Có thể hình dung từng chiếc răng lược được thành hình là khối yêu thương trong lòng ông Sáu lớn dần, niềm mong mỏi được gặp lại con cũng thiết tha hơn. Tuy chưa chải được mái tóc con bằng chiếc lược do chính tay mình làm nhưng ông Sáu cũng phần nào gỡ được những mối rối trong tình cha con của mình.
Quả thực, ông là một người cha chịu nhiều thiệt thòi nhưng vô cùng độ lượng và tận tụy vì tình yêu thương con. Nếu có phép màu, xin được một lần, Thu ơi, bạn hãy lặng yên ngả vào lòng cha, để cha sẽ chải mái tóc thanh xuân của bạn bằng chiếc lược ngà thấm đẫm yêu thương. Và mỗi độc giả nhạy cảm sẽ nhận ra rằng trong lòng đất Mẹ, có bao nhiêu chiếc lược ngà như thế, những chiếc lược yêu thương chưa từng một lần được chải lên mái tóc người yêu thương…
Nhưng trong câu chuyện này, trái tim người cha đã đưa lối chỉ đường để người đồng đội mang lược về cho con. Bên sông, một người dưng nói với một người dưng: “ba đi nghe con”, vậy mà nghe sao thiết tha và ấm áp. Vì rằng, con đã đi tiếp con đường cha đi dang dở, con đã được gặp người đồng đội của cha; tình cha con, tình đồng đội, tình đồng chí đã hòa vào tình yêu đất nước. Câu chuyện nhằm ca ngợi tình cha con thiêng liêng, thắm thiết và sâu nặng dù trong hoàn cảnh éo le. Đồng thời, câu chuyện cũng nhằm khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Câu chuyện còn nhằm lên án kẻ thù đã gây ra bao đau thương, mất mát cho bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình Việt Nam.
Qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, người đọc không chỉ cảm nhận tình yêu con tha thiết sâu nặng của người cha chiến sĩ mà còn thấm thía bao đau thương mất mát đối với những em bé, những gia đình. Tình cảm cha con sâu đậm, thắm thiết của cha con anh Sáu khẳng định rằng bom đạn của kẻ thù chỉ có thể hủy diệt được sự sống của con người, còn tình cảm của con người – tình phụ tử thiêng liêng thì không bom đạn nào có thể giết chết được.
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 4
Chúng ta đang sống trong một đất nước hoà bình, được sự dìu dắt, yêu thương của cha mẹ, được đùa vui dưới mái trường đầy ắp tiếng ca. Chúng ta có thể quên được chăng những trang sử hào hùng ấy, ngày các lớp cha anh đi trước đã hi sinh cả tính mạng. Máu của các anh đã nhuộm màu phì nhiêu cho đất nước, sự hi sinh tươi đẹp cho thế hệ chúng ta ngày hôm nay. Các anh đã hi sinh cả thể xác lẫn tinh thần, hi sinh cả những hạnh phúc mà lẽ ra các anh phải được hưởng.
Chiến tranh, vùng trời của tang thương và chết chóc. Trong mưa bom lửa đạn, trong chất cay xè của mùi thuốc súng, tình cảm cao đẹp nhất của tình đồng chí đồng đội trào dâng. Những bùi ngùi dấu tận đáy lòng của những người cha lên đường chiến đấu gửi lại quê hương đứa con thân yêu nhất của mình để rồi trong giờ phút hiếm hoi giữa cuộc hành quân nỗi nhớ con không còn dấu được. Tình cảm thiêng liêng ấy càng mãnh liệt hơn trong tác phẩm “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.
Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau năm 1945, tập kết ra Bắc Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mĩ, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng thuộc nhiều thể loại: Truyện ngắn có “Con chim vàng”, “Người quê hương”, “Chiếc lược ngà”, “Người đàn bà đức hạnh”, “Vẽ lại bức tranh xưa”…
Các tiểu thuyết “Đất lửa”, “Mùa gió chướng”, “Dòng sông thơ ấu” được nhiều độc giả biết đến và đặc biệt là kịch bản phim nổi tiếng “Một thời để nhớ một thời để yêu”. Có lẽ vì sinh ra, lớn lên và hoạt động chủ yếu ở chiến trường miền Nam nên các tác phẩm của ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình.”Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn viết về tình phụ tử sâu nặng của cha con ông Sáu sau chiến tranh. Đây là một truyện ngắn giản dị nhưng chứa đầy sức bất ngờ như ta thường thấy ở văn của Nguyễn Quang Sáng. Đoạn trích SGK đã cho thấy một khoảnh khắc nhỏ mà trong đó có sự cao cả thiêng liêng về tình phụ tử.
“Chiếc lược ngà ” được viết vào năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên. Nội dung văn bản trong SGK là cuộc gặp gỡ của anh Sáu – một người xa nhà đi kháng chiến. Mãi khi con gái lên tám tuổi, anh mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu – con gái anh không nhận cha , trái lại đã đối xử lạnh nhạt, có lúc vô lễ với cha. Điều đó làm anh Sáu đau lòng, nhưng anh vẫn yêu thương con bằng tình cha con ruột thịt. Sau vài ngày ngắn ngủi sum họp gia đình, anh Sáu phải ra đi. Đến lúc ấy Bé Thu bỗng thay đổi thái độ. Em ôm chặt lấy cha không muốn cha con phải xa nhau .Mọi người ngỡ ngàng sửng sốt. Thì ra mấy ngày trước do nhìn thấy trên mặt anh Sáu có vết sẹo lớn, bé Thu thấy anh không giống cha chụp chung ảnh với mẹ. Nhờ bà ngoại giảng giải, Thu đã hiểu ra mọi chuyện, em cất tiếng gọi “Ba…ba!..” và hẹn “Ba mua cho con một cây lược nghe!”. Ở khu căn cứ, anh Sáu dồn hết tình cảm yêu quí nhớ con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để mang về tặng cô con gái bé bỏng. Nhưng trong một cuộc chiến đấu anh đã ngã xuống. Trước lúc nhắm mắt anh còn kịp trao cây lược cho người bạn, gửi về tận tay cho con. Truyện được viết theo lời kể qua cái nhìn của ông Ba – nhân vật xưng tôi. Tuy đây là một đề tài khá phổ biến trong văn chương nhưng chính vì thế mà giá trị nhân văn của truyện càng trở nên sâu sắc.
Truyện xoay quanh một kỉ vật đơn sơ mà vô giá ấy là chiếc lược ngà. Nhưng suốt cả câu chuyện, suốt những quãng đời, suốt cả cuộc đời ấy chỉ có một tiếng kêu, một tiếng kêu bình dị và thiêng liêng bậc nhất cõi đời này: tiếng cha!. Câu chuyện “Chiếc lược ngà” đã kể lại thật cảm động về cuộc gặp gỡ và những tình cảm của cha con anh Sáu. Hình ảnh anh Sáu đã để lại trong lòng người đọc nỗi cảm thông, yêu mến và những ấn tượng sâu sắc.
Cũng như bao người khác anh Sáu đi theo tiếng gọi của quê hương đã lên đường chiến đấu, để lại người vợ và đứa con thân yêu. Sự xa cách càng làm dâng lên trong anh nỗi nhớ nhung tha thiết đứa con gái mà khi anh đi nó chưa đầy một tuổi. Nỗi nhớ ấy đã trở thành niềm khao khát, mơ ước cháy bỏng trong lòng anh. Chính vì vậy mỗi lần vợ lên thăm là một lần anh hỏi “Sao không cho con bé lên cùng ?”. Không gặp được con anh đành ngắm con qua ảnh vậy … Mặc dầu tấm ảnh đó đã rách nát, cũ kĩ lắm rồi, nhưng anh luôn giữ gìn nó vô cùng cẩn thận, coi nó như một báu vật. Còn đối với con gái Thu của anh thì sao? Từ nhỏ đến hồi tám tuổi nó chỉ được biết ba nó qua ảnh và qua lời kể của bà ngoại và má. Dù được sống trong tình yêu thương của mọi người nhưng có lẽ Thu cũng cảm thấy thiếu hụt một tình thương, sự che chở của người cha. Chắc bé Thu từng giờ từng phút trông chờ ba nó lắm nhỉ? Và tám năm trời là những năm tháng dài đằng đẵng ấy cũng làm tăng lên trong lòng hai cha con anh sáu nỗi nhớ nhung, mong chờ, anh Sáu ao ước gặp con, còn bé Thu ao ước gặp bố.
Thế rồi niềm ao ước ấy đã trở thành hiện thực. Anh Sáu được nghỉ phép. Ngày về thăm con, trên xuồng mà anh Sáu cứ nôn nao cả người. Anh đang nghĩ tới đứa con, nghĩ tới giây phút hai cha con gặp nhau như thế nào. Những điều ấy choáng hết tâm trí khiến anh không còn biết mình đang ngồi trên xuồng với người bạn. Khi xuồng vừa cập bến, anh Sáu đã nhón chân nhảy thót lên bờ. Người bạn đi cùng cũng rất hiểu anh nên không hề trách. Tôi không thể quên được giây phút vô cùng thiêng liêng và trọng đại của anh Sáu, là giây phút người cha mong chờ đứa con sẽ chạy tới ôm siết lấy mình, là bước trở về sau bao xa cách…
Hẳn vì quá xúc động nên lúc ấy anh Sáu đã có những cử chỉ mà ngay cả người bạn của anh cũng không ngờ tới “giọng anh tập bập run run”, anh dang hai tay chờ đón con và sải những bước dài đến gần con. Tưởng rằng con bé sẽ chạy tới nhào vào lòng anh nhưng không ngờ bỗng nó hét lên “má…má” và bỏ chạy. Tại sao Thu lại có những hành động như vậy ? Nó yêu ba nó lắm cơ mà ? Nó mong ba về từng ngày từng giờ. Vậy mà tất cả đều lật ngược với nó. Ba nó thật đây, sao nó không nhận ? Hành động của con bé khiến anh sững sờ. Bao yêu thương, mong chờ mà anh dồn nén bấy lâu dường như tan biến hết chỉ còn lại trong anh là nỗi đau khổ vô bờ.
Nỗi đau ấy còn dày vò anh trong suốt ba ngày ở nhà. Ba ngày ở nhà anh Sáu không đi đâu xa mà chỉ quanh quẩn ở nhà chơi với con. Anh muốn dùng lời nói, hành động của mình để bù đắp những mất mát về tình cảm cho con bé. Dường như anh muốn bằng những cử chỉ và lời nói yêu thương tràn đầy âu yếm, anh sẽ xoa dịu đi những nghi ngờ, xoá tan những lạnh lùng của con bé đối với anh. Anh muốn ôm con mà nói rằng: “Ba yêu con nhiều lắm Thu à!” và có lẽ chắc anh cũng mong đứa con gái của mình có thể chạy sà vào lòng mà rằng “Con cũng yêu bố nhiều lắm ạ!” thế nhưng không… những gì anh từng mơ ước, từng suy nghĩ, giờ chỉ như giấc mơ không thật bởi chính thái độ của Thu đối với ba nó. Khi mẹ bảo nó gọi bố vào ăn cơm thì con bé đã nói trổng: “Vô ăn cơm!”. Câu nói của con bé như đánh vào tâm can anh, nhưng anh vẫn ngồi im giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm.” Thế nhưng Thu vẫn bướng bỉnh không chịu gọi ba, đã vậy còn bực dọc nói mấy câu “Cơm chín rồi!” và “Con kêu rồi mà người ta không nghe”. Đến lúc này anh chỉ biết “nhìn con bé vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi.” Tôi thoáng nghĩ đến cảm xúc lúc này và những câu hỏi xoay quanh anh. Tại sao thế nhỉ? Thu làm vậy là sao? Ba nó sao nó không chịu nhận? Nhìn nó tôi như có cảm giác nó cự nự, quyết không chịu gọi ba. Thái độ này thật không đúng với tình cha con xa cách bấy lâu, hay con bé đang giận ba vẩn vơ gì đó chăng?
Cao trào của câu chuyện càng nâng cao khi nồi cơm sôi, một mình nó bé, không thể tự nhấc nồi để chắt nước, nó đã phải cầu cứu đến người lớn. Tình thế khiến người đọc ngỡ rằng nó sẽ phải thua không thể “chiến tranh lạnh” được nữa – nó buộc phải gọi ba để giúp đỡ. Nhưng nó vẫn không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong! Chỉ cần nói lên cái tiếng ba ấy thế thôi, là nó sẽ thoát khỏi thế bí. Nhưng quyết không! Nó vẫn hành động theo sự bướng bỉnh tự mình làm lấy một công việc nguy hiểm và quá sức! Nghĩa là nó không chịu nhượng bộ, không chịu thua cuộc. Điều ấy làm cho người cha, người bạn của cha và cả người đọc phải đau lòng. Còn gì đau khổ bằng người cha giàu lòng thương yêu con mà lại bị chính đứa con ấy chối bỏ!
Dường như sự lạnh lùng và bướng bỉnh của bé Thu đã làm tổn thương những tình cảm đang trào dâng tha thiết nhất trong lòng ông. Vì quá yêu thương con nên anh Sáu không cầm nổi cảm xúc của mình. Trong bữa cơm, cưng con, anh gắp cho nó cái trứng cá nhưng bất ngờ nó hất tung cái trứng ra khỏi chén cơm. Giận quá, anh đã vung tay đánh và quát nó. Có lẽ việc đánh con bé là nằm ngoài những mong muốn của ông. Tất cả cũng chỉ là do anh quá yêu thương con. Có thể coi việc bé Thu hất cái trứng ra khỏi chén như một ngòi nổ làm bùng lên những tình cảm mà lâu nay anh dồn nén và chất chứa trong lòng.
Nhưng khi ta hiểu ra thì lại thấy rằng : Chính cái hành động đáng ghét ấy lại vô cùng đáng quý. Chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm người con dành cho cha. Đơn giản vì lúc bấy giờ trong trí nhớ thơ ngây của Thu thì cha em đẹp lắm. Vì bom đạn quân thù, cha mang sẹo trên mặt. Đấy là điều đau khổ vậy mà nó không hiểu, lại xa lánh khiến cha đau khổ thêm. Cô bé không tin, thậm chí còn ngờ vực, điều đó chứng tỏ cô bé không dễ tin người. Cả bạn của cha, cả mẹ xác nhận là cha nhưng không ai tháo gỡ được thắc mắc thầm kín trong lòng mình thì cô bé vẫn chưa gọi. Nó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh, nhiễu sách mà đó là sự kiên định, quyết liệt của một người có lập trường. Đây chính là cái mầm sâu kín sau này làm nên tính cách cứng cỏi, ngoan cường của cô giao liên giải phóng. Đến khi được bà ngoại giảng giải về cái thẹo trên má ba, thì Thu mới vỡ lẽ đó thực là ba mình. Hình ảnh người cha thân yêu trên ảnh, người cha kính mến mà cô ghi sâu trong lòng, đến lúc ấy mới nhập vào người đang xưng ba có vết thẹo dài đây. Đã vỡ lẽ thì tình yêu ba nhân lên gấp bội nhưng … đã muộn rồi. Song đến giây phút cuối cùng, trước khi anh Sáu đi xa thì tình cảm thiêng liêng ấy bỗng cháy bùng lên. Lúc ra đi, chân anh ngập ngừng không muốn bước. Hẳn rằng anh Sáu muốn ôm con, hôn con nhưng sợ nó lại giẫy đạp và bỏ chạy nên anh chỉ đứng đấy nhìn nó với cặp mắt trìu mến xen lẫn buồn rầu.
Trong ánh mắt của anh, chất chứa bao yêu thương mà anh muốn trao gửi tới con. “Thôi ba đi nghe con”. Phải chi bé Thu hiểu được ánh mắt của ba nó, hiểu được tâm trạng của ba nó lúc này nhỉ? Rồi bỗng nó chạy đến kêu thất thanh Ba…a….a…ba!”. Tiếng kêu như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Tiếng kêu bật lên sau bao năm kìm nén, chờ đợi khắc khoải. Đó cũng là cái tiếng ba mà anh Sáu đã chờ đợi suốt tám năm trời xa con, đã chờ đợi suốt mấy ngày về bên con, ông đã tưởng chẳng thể còn được nghe thì bất ngờ nó thét lên. Nó vỡ ra còn lòng người đọc thì nghẹn lại. Người cha không cầm nổi nước mắt vì bất ngờ, vì sung sướng, vì thương yêu và vì cả sự éo le của tình cảm nữa. Cùng với cử chỉ “vừa kêu vừa chạy xô tới nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó, làn tóc tơ sau ót nó dựng đứng lên”. “Vừa ôm chặt lấy cổ ba, nó vừa nói trong tiếng khóc “Ba…ba…không cho ba đi nữa, ba ở nhà với con”. Nó ôm hôn anh Sáu và “hôn cả vết thẹo dài trên má của ba”, biểu hiện một tình yêu ruột thịt nồng nàn của đứa con đối với ba. Và khi nghe anh Sáu nói “Ba đi rồi ba về với con”, cô bé hét lên “không”, rồi hai tay siết chặt cổ, dang cả hai chân quặp chặt lấy ba, đôi vai nhỏ run run! Chắc cô bé khóc.
Phải chăng lúc ấy Thu thật sự thấy xót xa, ân hận về lỗi lầm của mình, thật sự thấy xót thương người cha đau khổ? Nó mếu máo “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba…”. Tất cả lời nói thể hiện rõ tính cách của một cô bé bồng bột thơ ngây và chứng tỏ lòng yêu thương vô bờ của em đối với ba. Thật sâu sắc và cao đẹp biết bao. Có lẽ lúc này bé Thu đã trở thành một người lớn thực sự. Tất cả sự dỗi hờn của bé Thu lúc này đều chuyển thành lòng yêu thương sâu sắc ba nó. Trong cái ương ngạnh, bướng bỉnh, trong cái giận dỗi và cả sự hối hận của Thu, ta vẫn thấy bé thật thơ ngây, thật đáng yêu. Về phần anh Sáu hạnh phúc đến với anh quá đột ngột khiến cổ anh nghẹn lại. Không kìm được xúc động, anh Sáu đã khóc. Giọt nước mắt của anh là giọt nước mắt của vui sướng, hạnh phúc. Và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con…Thế là con bé đã gọi anh bằng ba. Ai có thể ngờ được một người lính đã dày dạn nơi chiến trường và quen với cái chết cận kề lại là người vô cùng mềm yếu trong tình cảm cha con. Sau bao năm tháng mong chờ, đau khổ, anh Sáu đã được đón nhận một niềm vui vô bờ. Bây giờ anh có thể ra đi với một yên tâm lớn rằng ở quê nhà có một đứa con gái thân yêu luôn chờ đợi anh, từng giây từng phút mong anh quay về.
Tình cảm của anh Sáu dành cho bé thu trở nên mãnh liệt hơn, cao cả, thiêng liêng và cảm động hơn bao giờ hết là việc anh tự tay làm chiếc lược nhà cho con gái. “Ba về! Ba mua cho con một cái lược nghe ba!”, đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt. Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước đầu tiên và cũng là duy nhất cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng. Kiếm cho con cây lược trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng. Anh bật dậy như bỗng lóe lên một sáng kiến lớn: làm lược cho con bằng ngà voi. Có lẽ không đơn thuần vì ở rừng rú chiến khu, anh không thể mua được cây lược nên làm lược từ ngà voi là một cách khắc phục khó khăn. Mà cao hơn thế, sâu hơn thế, ngà voi là thứ quí hiếm – chiếc lược cho con của anh phải được làm bằng thứ quý giá ấy. Và anh không muốn mua, mà muốn tự tay mình làm ra. Anh sẽ đặt và trong đấy tất cả tình cha con của mình. Kiếm được ngà voi, mặt anh “hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta hoá thành con trẻ lại chính là lúc người ta đang hiện lên cái tư cách người cha cao quý của mình. Rồi anh “ngồi cưa từng chiếc răng lược, thận trọng tỉ mỉ và khổ công như người thợ bạc “, “gò lưng tẩn mẩn khắc từng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Anh thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời cho nên chiếc lược ngà đã kết tinh trong nó tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kỳ diệu làm sao!
Nhưng ngày ấy đã vĩnh viễn không bao giờ đến nữa. Anh không kịp đưa chiếc lược ngà đến tận tay cho con thì người cha ấy đã hi sinh trong một trận đánh lớn của giặc. Nhưng “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Không còn đủ sức trăn trối điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc “đưa tay vào túi, móc cây lược” đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cứ nhìn bạn hồi lâu. Nhưng đó là điều trăn trối không lời, nó rõ ràng là thiêng liêng hơn cả một lời di chúc, bởi đó là sự uỷ thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân, ước nguyện của tình phụ tử! Bắt đầu từ giây phút ấy, chiếc lược ngà của tình phụ tử đã biến người đồng đội thành một người cha – người cha thứ hai của cô bé Thu.
Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật cũng đã đành một lẽ còn người chết cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không thể đắp cao lên được, vì tìm thấy mồ mả bọn chúng sẽ đào lên và tìm ra dấu vết, cho nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy. Bác Ba bạn của anh đã lấy dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ. Sống như thế và chết như thế hỏi vậy làm sao mà chịu được. Chúng ta buộc phải cầm súng. Và bé Thu không còn là cô bé ngày xưa nữa mà là một cô giao liên thông minh, quả cảm. Thu đi theo con đường mà ba cô đã chọn. Thu đi để trả thù cho quê hương, cho cha mình đã bị bọn giặc giết hại.
Tuy anh Sáu đã hi sinh nhưng câu chuyện về hai cha con anh sẽ còn sống mãi. Hình ảnh chiếc lược ngà với dòng chữ sẽ mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, bi kịch của chiến tranh. Cảm ơn nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa rõ nét tâm hồn, tình cảm của anh Sáu và bé Thu. Truyện dẫn người đọc dõi theo số phận và lòng quả cảm, dõi theo tâm tình của cha con một người chiến sĩ diễn ra hàng chục năm trời đi qua hai cuộc chiến tranh. Người còn, người mất nhưng kỉ vật, gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại của chiếc lược ngà vẫn còn đây. Đây là minh chứng đối với chúng ta “cái mất mát lớn nhất mà thiên truyện ngắn đề cập đến là người đã khuất, là tổ ấm gia đình không còn tồn tại trọn vẹn trong thực tại. Đó là tội ác, là những đau thương, mất mát của chiến tranh xâm lược mà các thế hệ bạo tàn gây ra cho chúng ta. Song cái được mà chúng ta nhìn thấy là không có sự bi luỵ xảy ra, sức mạnh của lòng căm thù đã biến cô bé Thu trở thành một người chiến sĩ thông minh, dũng cảm, đã gắn bó cuộc đời con người có ít nhiều mất mát xich lại gần nhau để cùng đứng lên viết tiếp bản ca chiến thắng.
Gấp sách lại, chia tay với ông Ba, câu chuyện về “Chiếc lược ngà” với lời nói cuối cùng của ông – giọng trầm ấm khoan thai – cứ âm vang mãi trong bạn đọc chúng ta, như sự âm vang của một truyện cổ tích. Truyện cổ tích hiện đại đó đã thành công trong việc tạo tình huống truyện, miêu tả tâm lý, tình cảm nhân vật và giọng kể nhẹ nhàng, thấm thía truyền cảm. Ông Ba – người kể chuyện – hay chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng? Phải là người từng trải sống hết mình vì công cuộc kháng chiến của quê hương, gắn bó máu thịt với những con người quê hương giàu tình nghĩa, rất nhân hậu mà kiên cường, bất khuất, bất diệt, nhà văn mới nhập được vào các nhân vật, sáng tạo được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động, bất ngờ, có được giọng văn dung dị và cảm động như vậy. Đồng thời truyện đã làm sống lại quãng thời gian giữ nước để thông qua đó tác giả muốn người đọc phải suy nghĩ và thấm thía nỗi đau, sự mất mát mà chiến tranh mang đến. Tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu đã vượt qua bom đạn của chiến tranh để ngày càng thiêng liêng, ngời sáng và gắn bó chặt chẽ với tình yêu quê hương, đất nước.
Qua cuộc đời nhân vật, từ cô bé Thu đến ông Sáu, ông Ba, Nguyễn Quang Sáng như muốn nói rằng trong cuộc kháng chiến gian khổ chống ngoại xâm vừa qua của dân tộc ta, tình nghĩa con người Việt Nam, nhất là tình cha con, đồng đội, sự gắn bó thế hệ già với thế hệ trẻ, người chết và người sống… mãi mãi bất diệt. Như chiếc lược ngà ba tặng lại không bao giờ có thể mất, tình cha con của bé Thu cũng sẽ mãi mãi bất diệt!
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 5
“Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn hay viết về đề tài tình phụ tử. Đọc tác phẩm, điều khiến người đọc cảm động nhất chính là tình cảm mà cha con ông Sáu và bé Thu dành cho nhau. Câu chuyện về tình cảm gia đình thiêng liêng, sâu sắc trong kháng chiến đã đọng lại trong lòng người những suy nghĩ những bài học bổ ích.
Tác phẩm ra đời năm 1966, lấy bối cảnh là cuộc kháng chiến chống Mĩ của đồng bào Nam Bộ. Chính trong hoàn cảnh bom rơi, đạn nổ, kẻ thù không chỉ chia lìa đất nước mà còn chia lìa từng gia đình ấy, tình cảm gia đình lại được thể hiện đậm nét, cảm động hơn bao giờ hết.
Ông Sáu khi đi kháng chiến có một đứa con gái đầu lòng chưa đầy một tuổi. Trong những năm tháng kháng chiến, vì cô bé còn nhỏ nên đi thăm chồng, vợ của ông không mang theo con. Bởi vậy, ông chỉ được nhìn con qua những tấm ảnh nhỏ mà thôi. Và giờ đây, khi trở về thì tình cha con ấy lại trỗi dậy trong lòng, ông cảm thấy nôn nao. Ngay lập tức, khi xuống thuyền, thấy một đứa bé chừng bảy, tám tuổi, tóc ngang vai thì ông Sáu biết ngay đó là con mình. Không chờ xuồng cập bến, ông đã nhún chân nhảy thót lên bờ, vội vàng bước những bước dài rồi kêu: “Thu! Con!”. Điều đó thể hiện một tình cảm của người cha một cách tự nhiên, quá xúc động. Dường như chính lúc này đây, trái tim của người cha tội nghiệp reo lên đầy sung sướng khi sau tám năm trời mới được nhìn thấy mặt con và dường như ông cũng mong sự đáp lại tình cảm của con. Nhưng con bé lại đầy ngơ ngác, lạ lùng, không biết đó là ai. Còn ông Sáu thì vẫn đầy xúc động miệng nói không thành lời, giọng lặp bập: “Ba đây con”! Lúc đó chính là lúc cái tình của người cha lên đến đỉnh điểm và không thể toát ra bằng lời vì ông đã quá xúc động. Việc bé Thu sợ hãi chạy ào đi như một gáo nước lạnh dội mạnh vào trái tim đang nóng bỏng của ông Sáu. Ông đứng sững lại đầy sững sờ, thảng thốt.
Những ngày sau đó, ông Sáu vẫn cố gắng để con nhận ra mình là cha. Cả ngày ông chẳng đi đâu xa, suốt ngày ở bên con, săn sóc, vỗ về con. Song càng vỗ về bao nhiêu con bé lại càng đẩy ông ra bấy nhiêu. Ông chỉ mong có một điều là được gọi mình một tiếng “ba”. Chỉ một tiếng “ba” mà thôi! Nhưng chẳng có điều gì khác ở con gái ông ngoài sự thờ ơ, lạnh lùng thậm chí thù ghét. Những hành động của ông Sáu giúp đỡ con hay vỗ về nó đều bị con bé phản ứng lại. Chỉ có tình cha sâu nặng mới giúp ông kiên trì vượt qua điều đó. Đến một bữa cơm, khi ông gắp cái trứng cá to, vàng bỏ vào bát nó thì bất thần con bé hất ra, cơm văng tung toé và không kịp suy nghĩ gì ông đã đánh một cái vào mông nó. Ông Sáu hẳn đã vô cùng ân hận vì giây phút nóng nảy đó của mình.
Trong ba ngày nghỉ ngắn ngủi, ông đã ở bên con nhưng con không nhận. Giờ đây ngày chia tay bà con làng xóm ông định mang theo nỗi buồn đó. Nhưng trong lúc không ai ngờ đến đó, một tiếng kêu đã xé lòng ông: “Ba… a…a… ba”. Tiếng “Ba” đó là sự dồn nén trong Thu tám năm nay và bây giờ nó vỡ tung ra từ ngay trong sâu thẳm đáy lòng con bé. Tiếng “Ba” với nó là điều khát khao hơn mọi đứa trẻ khác vì ngay từ nhỏ nó đã không có tình yêu thương của cha. Giờ đây tiếng “Ba” vang lên đầy tự nhiên, ngỡ ngàng trong giây phút cuối cha con chia tay. Và bây giờ nó muốn có ba, nó bật khóc vì hạnh phúc, nó hôn tóc, hôn cổ và hôn với vết thẹo dài trên má của ba nó nữa. Hoá ra, lí do nó không nhận ba là do vết thẹo oan nghiệt đó – vết thẹo do kẻ thù của gia đình đó, của đất nước đau thương này gây ra. Nhưng vừa nhận ra thì cũng là lúc phải chia tay. Sung sướng và có lẫn sự xúc động ông ôm con và tạm biệt nhưng con bé không muốn ba phải đi. Cho đến khi ông hứa mua cho nó một chiếc lược thì nó mới để cho ba nó đi.
Ở chiến trường tuy chiến tranh đầy ác liệt nhưng ông vẫn cố công làm bằng được chiếc lược ngà. Trong khi làm, ông Sáu cảm thấy vui như đứa trẻ nhận được quà. Ông cố gắng làm tỉ mỉ, thận trọng có công như người thợ bạc. Khi chiếc lược được làm xong ông cảm thấy sung sướng vì mình như đã thực hiện được phần nào lời hứa. Sau đó ông lại khắc trên sống lưng chiếc lược “Yêu nhớ tặng con, Thu của ba”. Hàng đêm nhớ con ông lại đem lược ra ngắm chải lên đầu cho lược thêm bóng, mượt… Trong giờ phút cuối cùng, tuy không đủ sức trăng trối, nhưng tình cha con vẫn sống và trỗi dậy trong con người ông. Ông đưa chiếc lược cho Ba – một người đồng đội thân thiết và nhìn Ba hồi lâu như trăng trối rằng: “Hãy đưa chiếc lược này đến cho Thu”. Cái nhìn đó có thể nói rằng đó là cái nhìn của sự nhờ cậy, tin cậy, gửi gắm cả tâm hồn ông qua đó. Tình cha con đầy thiêng liêng, cao quý trỗi dậy ngay cả khi con người ta đang đối mặt giữa sự sống và cái chết. Khi Ba nhận lời thì ông mới nhắm mắt. Sau này, bác Ba đã gặp Thu – giờ đây là cô gái giao liên dũng cảm và bác đã trao lại kỉ vật đó cho Thu.
Tình cảm ông Sáu dành cho con sâu nặng bao nhiêu, tình cảm Thu dành cho ba cũng nồng nàn bỏng cháy bấy nhiêu. Cô bé không nhận ba bởi cô hiểu nhầm về vết sẹo trên mặt ba. Bức ảnh cha cô mà cô khắc ghi bấy lâu trong tâm khảm không có vết thẹo trên mặt như ông Sáu – người cứ nhận mình là cha bé! Và vì thế, Thu càng phản đối quyết liệt con người ấy bao nhiêu càng thể hiện cô bé yêu ba mình bấy nhiêu. Cái tình yêu ấy thật sâu sắc: nó chỉ có một, không thể chia sẻ cho bất kì ai khác, ngay cả khi đó là người được tất cả mọi người thừa nhận là ba của nó, là người yêu thương và quan tâm đến nó rất chân thành.
Đến lượt mình, Thu cũng đáp lại tình cảm của ba một cách cảm động. Khi biết rằng ông Sáu là ba thật của mình, và vết sẹo trên mặt ông là do thằng Mĩ gây nên, buổi sáng cuối cùng trong những ngày phép của ba “Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.” Không hiểu con bé “nghĩ ngợi sâu xa” điều gì, chỉ biết rằng khi ông Sáu buồn rầu quay lại nhìn nó – không dám lại gần sợ nó lại bỏ chạy như lần trước – nói: “Ba đi nghe con” thì nó bất ngờ lao đến thét lên: Ba, a… a…ba!”. Rồi ôm chặt lấy ông nức nở “Con không cho ba đi”. Đến đây, người đọc mới vỡ lẽ ra rằng Thu thèm được gọi ba như thế nào. “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”. Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba bây giờ trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà. Song, trái ngược mà vẫn nhất quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát được có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi “ba” lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như xé kia cất lên ta thấy nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, thương yêu con vô hạn của người cha.
Sau này, thấu hiểu sâu sắc nguyên nhân gây ra vết thẹo trên mặt cha, Thu đã trở thành một nữ giao liên dũng cảm, can đảm. Cô quyết tâm tiếp bước con đường cha cô đã đi để đánh đuổi kẻ thù của gia đình, kẻ thù của dân tộc.
Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công khi xây dựng tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Đọc thiên truyện, người đọc hẳn đã có lần rơi lệ vì cảm động. Và còn vì thấy trong đó thấp thoáng đâu đây bóng dáng bản thân, của người cha thân yêu của mình nữa. Tình phụ tử đó chính là một trong những thứ tình cảm thiêng liêng nhất trong cõi đời này. Và bởi thế, đọc “Chiếc lược ngà” để ta trân trọng hơn những người thân yêu ruột thịt quanh mình, trân trọng hơn những tình cảm sâu sắc ta đang được nhận. Và hơn hết, đọc thiên truyện ngắn này, ta biết yêu thương, sẻ chia và sống xứng đáng với những đấng sinh thành của bản thân.
Không chỉ gợi những tình cảm trong sáng, cao quý, “Chiếc lược ngà” còn mang đến cho người đọc những bài học nhân sinh đầy nhân ái. Và vì thế, đây thực sự là một thiên truyện hay trong hành trang của những người Việt trẻ!
Phân tích tình cảm cao đẹp của ông Sáu với con trong Chiếc lược ngà
Tình cảm của ông Sáu với con thể hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà nhưng được biểu hiện tập trung, sâu sắc ở phần cuối truyện khi ông Sáu ở trong rừng, tại khu căn cứ.
Nỗi ân hận, day dứt cứ ám ảnh ông nhiều ngày vì ông đã nóng giận đánh con trong những ngày nghỉ phép.
Lời dặn dò của con gái: “Ba về! Ba mua cho con một cây lược ngà nghe ba” đã thôi thúc ông nghĩ đến việc làm một cây lược ngà cho con.
Khi kiếm được khúc ngà voi, ông mừng vô cùng, ông dành hết tâm trí, công sức vào làm một cây lược: “Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, “Tròn sống lưng lược có khắc một làng chữ nhỏ mà ông đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: Yêu nhớ tặng Thu, con của ba”. Chiếc lược ngà đã trở thành một báu vật đối với ông. Nó làm dịu đi nỗi ân hận day dứt. Nó chứa đựng bao tình cảm yêu mến, nhớ hương, mong đợi của người cha trong những ngày xa cách. Nhưng rồi tình cảnh đau thương lại đến với cha con ông Sáu. Ông Sáu hi sinh khi chưa kịp gặp lại con. Chiếc lược ngà chưa tới được tay bé Thu.
Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình yêu thương thắm thiết, sâu nặng muôn đời của cha con ông Sáu mà còn gợi cho ta nghĩ đến nỗi đau của chiến tranh. Chiến tranh gây đau thương mất mát cho biết bao con người, biết bao gia đình.
Phân tích tình cha con trong Chiếc lược ngà
Đại văn hào Andersen từng nói: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng chính cuộc sống vẽ nên.” Dù hiện thực đau khổ đến đâu, vẫn le lói những ánh sáng trong trẻo, ấm áp đong đầy. Đó là thứ ánh sáng diệu kỳ từ “hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người” mà các nhà văn luôn mải miết đi tìm. Và Nguyễn Quang Sáng là một người đi tìm miệt mài như thế. Giữa tháng ngày gian khổ, tối tăm nhất của kháng chiến chống Mỹ, ông vẫn thấy tia sáng xanh ngời từ tình cảm chân thành trong những người dân, người lính. Để rồi, tất cả đã được nhà văn soi chiếu vào tình cha con sâu nặng trong tác phẩm “Chiếc lược ngà”.
Nguyễn Quang Sáng là nhà văn trưởng thành gắn liền với cả hai cuộc kháng chiến, là một cây đại thụ của văn học cách mạng Việt Nam. Tác phẩm của ông như thâu tóm được cả hồn cốt Nam Bộ, có cái hơi thở đồng bằng, phù sa dòng sông, cái khoáng đạt giản đơn của người dân miền sông nước. Cùng với Cánh đồng hoang, Mùa gió chướng,… “Chiếc lược ngà” cũng nằm trong mạch nguồn ấy. Được viết năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt nhất, truyện ngắn tuy viết về chiến tranh nhưng lại tập trung làm nổi bật tình phụ tử thiêng liêng cao quý. Tựa như câu chuyện cổ tích thời hiện đại, tác phẩm đã làm rung động trái tim bạn đọc bao thế hệ bởi tình yêu thương con thắm thiết bất diệt của Ông Sáu, tình yêu ba sâu nặng đầy kiêu hãnh của bé Thu…..
Tựa như mặt nước ngọt lành và trong veo đến lạ, văn chương luôn phản chiếu nội tâm con người. Bởi thế mà lật giở từng trang sách “Chiếc lược ngà” ta như mở từng cánh cửa, từng bước khám phá tình yêu thương da diết, chân thành dành cho con sâu trong lòng một người cha, người lính.
Là một người con Nam Bộ, ông Sáu chẳng thể làm ngơ khi mảnh đất quê hương bị lũ mọi rợ giày xéo. Nghe tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, ông lên đường cùng dân tộc bước vào cuộc trường chinh. Hạnh phúc gia đình ông xếp lại ngăn nắp trong tim, ông đi kháng chiến khi đứa con gái đâu lòng còn chưa đầy một tuổi. Nỗi nhớ thương con, khao khát gặp con lúc nào cũng thường trực như con sóng cuộn trào nơi tấm lòng người ba ấy. Không giây phút nào ông nguôi nhớ đến con, tình yêu con trở thành động lực, sức mạnh tinh thần vô giá giúp ông thêm chắc tay súng diệt sạch bóng thù để sớm có ngày đoàn tụ.
Và ước muốn cháy bỏng của ông cuối cùng cũng đã thành sự thực. Sau tám năm xa cách ông có dịp về thăm nhà ba ngày. Trên đường trở về “cái tình người cha đã và cứ nôn nao trong dạ”. Thế nên thuyền vừa vào đến, thấy đứa trẻ trạc độ lên chín lên mười tóc ngắn ngang vai, mặc áo bông đỏ đang mải mê chơi nhà chòi dưới gốc xoài ông đã đoán biết đấy là con mình. Phải chăng đó là sức mạnh diệu kỳ của tình máu mủ? Phải chăng từng ngày nơi quân ngũ, người cha ấy đã luôn mường tượng dáng hình của con, hằng khát khao ôm ấp, vỗ về. Cho nên linh cảm ruột thịt đó mới chuẩn xác đến vậy. Nó bồn chồn xao động, nó da diết khôn nguôi, nó như những tế bào hồng cầu trong từng tơ máu, máu còn chảy, tim còn đập thì lòng người không thể nào nguôi ngoai. Và nó làm lý trí trở thành công cụ của con tim. Không thể chờ xuồng cập bến, ông nhón chân nhảy thót lên bờ vội vàng với những bước dài,vừa đi vừa kêu to “thu,con”! Những bước chân như chiếc bản lề cửa, tạm khép lại cuộc đời “người lính” để mở ra cơ hội làm trọn một “người cha” cho ông Sáu. Với ông, chờ đợi thêm một phút một giây nào nữa thôi, có lẽ cũng đủ bóp nghẹt trái tim. từ nôn nao tâm trạng ông Sáu đã chuyển sang nôn nóng. Có lẽ bởi: “Có hai điều không thể bỏ lỡ trong cuộc sống, đó là chuyến xe cuối cùng về nhà và người ta yêu thật lòng” (Nguyễn Nhật Ánh). Đây là lần trở về đầu tiên sau tám năm xa cách và cũng có thể là sau cuối của ông, là cơ hội hiếm hoi để ôm con vào lòng, sống trong tình cha con ấm áp mà ông chưa từng được hưởng. Vậy mà mọi chuyện diễn ra thật éo le. Trong khi ông vừa bước tới vừa dang tay đón chờ thì con bé lại ” giật mình tròn mắt nhìn” , cái nhìn vừa lạ lùng vừa ngơ ngác. Không ghìm nổi xúc động, vết thẹo trên má ông đỏ ửng lên, hai tay vẫn đưa về phía trước “ba đây con, ba đây con”. Người đọc cảm nhận trong giọng nói “lặp bặp run run” ấy, là cả tiếng lòng, cả tâm hồn người cha đang reo lên vì hạnh phúc. Một hạnh phúc vô bờ khi hội ngộ khiến người đàn ông từng vào sinh ra tử chợt nghẹn ngào khôn xiết, tưởng như tất cả là một giấc mơ và chỉ có thể cất tiếng “run run” , khẽ khàng để không thức dậy. Song, với một đứa trẻ chỉ mới tám tuổi, tất cả lại trở thành sự vồ vập thái quá, nôn nóng thái quá,đặc biệt khi vết thẹo trên má ông đỏ ửng lên,dần dật trông rất dễ sợ càng làm con bé nghi ngại. Nó mặt tái đi,vụt chạy , vừa chạy vừa kêu thét “má má”. Phản ứng sợ hãi của bé thu khiến ông Sáu đau đớn hụt hẫng. “Đau đớn khiến mặt anh sầm lại, hai tay buông thõng như bị gãy” ở đây nỗi đau tinh thần được cảm nhận bằng nỗi đau thể xác. Thì ra có một nỗi đau chẳng kém gì súng mìn đạn dược, thì ra sự quay lưng từ chính người thân yêu ruột thịt có thể kéo người ta từ bầu trời hạnh phúc, hi vọng xuống thung lũng đau thương như vậy. Đôi tay dang rộng để chào đón con nhưng nhận lại chỉ là một khoảng trống. Một khoảng trống vô hình mà lại trĩu nặng ngàn cân, làm cánh tay từng gánh vác bao đầu súng, tiêu diệt kẻ thù giờ đây mất hết sức lực và đôi chân từng vượt mọi hang sâu hốc đổ cheo leo chỉ có thể “đứng sững lại”. Phải chăng vì cả cõi lòng người cha ấy đã bị vùi trong thất vọng ập đến quá đỗi bất ngờ? Ngược lại với những mong đợi của ông, ngược lại với khung cảnh thường thấy của những cuộc đoàn viên, hành động bỏ chạy đi của bé Thu còn khiến người cha ấy tan vỡ hơn cả một cuộc chia ly.
Nhưng tình phụ tử sâu nặng nào dễ lụi tàn, ông Sáu vẫn kiên trì dùng tấm lòng chân thành của mình làm chất củi, đốt lên ngọn lửa yêu thương ấm áp để truyền đến,sưởi ấm cho con. Hai ngày ở nhà ông chả dám đi đâu xa chỉ quanh quẩn dỗ dành con. nhưng mọi cố gắng đều vô ích. Mặc kệ những lời nói cử chỉ vỗ về làm thân bé Thu vẫn một mực tỏ ra thờ ơ lạnh lùng. Ông càng xích lại con bé lại càng lùi xa, ông càng yêu thương con bé lại càng lảng tránh. Ông thèm ước được nghe một tiếng “ba” nhưng gọi ông vào ăn cơm con bé cũng nói cộc lốc, phải chắt nước nồi cơm đang sôi nó cũng nhất quyết ko chịu nhờ ông. Bao tiếng đạn nổ bom rơi khốc liệt, ám ảnh người chiến sĩ ấy gắng vượt qua chỉ mong ngày trở về đổi lấy tiếng “ba” từ đứa con thân yêu nhất. Nhưng giờ đây, con gọi cha là “người ta”, chẳng hơn chẳng kém gì người dưng nước lã! Cách cư xử ấy, thái độ ấy của bé Thu, hẳn là đã cứa sâu vào lòng ông Sáu , để lại vết xước lớn, nhức nhói hơn cả vết thẹo trên gương mặt. Khổ tâm hết sức, song ông chỉ biết lắc đầu khe khẽ cười. Quả thực: “Có lẽ vì khổ tâm đến mức không khóc được nên đành phải cười vậy thôi.” Tiếng cười nhưng lại mang thanh âm tiếng khóc, lại là giọt nước mắt dồn nén, theo đường chảy ngược vào trong. Phải chăng đúng như Nguyễn Ngọc Tư từng chiêm nghiệm: “ Nước mắt chảy từ con mắt là thứ thường thôi, có thứ nước mắt không chảy ra kiểu như vậy.” Đó mới là đau đớn tận cùng, gắng gượng dùng nụ cười trên môi che đậy vết nứt trong lòng. cũng từng vì thương con mà Lão Hạc “cười như mếu”, bà cụ Tứ qua ngòi bút Kim Lân cố “tươi cười, đon đả”, không dám để con nhìn thấy bà khóc”. Nhưng khi khổ tâm chất chồng, cuối cùng sẽ đến lúc không thể kìm nén nổi. Trong bữa cơm trưa, có miếng trứng cá ngon, ông Sáu gắp vào bát Thu nhưng con bé lại hất miếng trứng cá đi,như hắt hủi một cách phũ phàng nhất tình cảm của cha. giọt nước tràn ly, vào phút giây tức giận ông vung tay đánh con một cái. Nhưng đó đâu phải hành động bạo lực đáng lên án như người cha vũ phu, đánh con mình trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, người cha “dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát…” Bởi trong lời trách mắng: “Sao mày cứng đầu quá vậy hả” ta còn thấy xen lẫn trong cảm xúc tức giận không sao kìm nén đc là băn khoăn, thất vọng, đau khổ rồi lực bất tòng tâm. Tất cả hiển hiện, sưng tấy trên trang viết, tất cả xé toạc thành vết thương không thể khép miệng trong lòng người cha rất mực thương con nhưng lại bị con kiên quyết chối từ. Ngọn lửa yêu thương mỗi lần bền bỉ thắp sáng lên lần nữa lại tiếp tục bị dòng nước băng giá một mực vùi lấp. Cô bé nào hiểu cho những nỗi niềm giấu kín đang dồn nén trong lòng cha,những nỗi niềm đang bắt buộc phải được trút xuống, được thoát ra. Lúc này, Thu vẫn tỏ ra lì lợm “ngồi im, đầu cúi gằm” sau đó lặng lẽ đứng dậy đi ra xuồng chèo một mạch sang nhà bà ngoại. Tác giả không miêu tả tâm trạng của ông Sáu trước hành động quyết liệt cuối cùng này nhưng chính khoảng lặng đó cũng đủ lắng sâu vào lòng độc giả, đọng lại một nỗi lòng khắc khoải vì con. Yêu chiều không được, cứng rắn cũng không xong, ông Sáu phải làm sao đây? Người cha, người lính trên trang viết Nguyễn Quang Sáng tìm mọi cách làm đủ mọi điều để có được tình cảm từ con, đối lập với bậc sinh thành của chị em Điền trong “ Cánh đồng bất tận” – 1 người cha đối với con “ơ thờ, lạt lẽo, chuyện gì cần nói thì nói vài câu nhát gừng”, 1 người cha “ giống như đồ vật bằng gốm vừa qua cơn lửa lớn, vẫn hình dáng ấy nhưng đã rạn nứt, nên chúng tôi chỉ dám đứng xa mà nhìn, mủ mỉ nâng niu, nếu không thì vỡ mất.”
Đến lúc chia tay, tình phụ tử không chỉ là khoảng lặng nữa, mà thể hiện bằng một nốt giáng trầm hơn qua “đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu” ông sáu nhìn con.Ông muốn mà không dám đến ôm Thu, sợ nó giãy lên bỏ chạy nên chỉ dám nhờ ánh nhìn bộc bạch hộ tâm tư. Đôi mắt như mặt hồ, yên ả, dịu dàng ăm ắp tình thương cho con; nhưng cũng mang nỗi buồn ko ngớt tựa những gợn sóng lăn tăn cứ nối tiếp nhau trải mãi. Ba ngày quý giá sắp trôi qua mất rồi, chưa kịp nghe tiếng ba, đã phải trở lại cùng tiếng súng… Trước lúc lên đường ông chỉ chào nhỏ với giọng buồn buồn ” thôi ba đi nghe con”.ai cũng nghĩ Thu chỉ đứng nhìn như thế,nhưng bất ngờ nó lại kêu lên một tiếng “ba” tức tưởi, vỡ òa. Ông Sáu trong giây phút sững sờ một lần nữa không ghìm nổi xúc động . Người đàn ông bao phen xông pha trận mạc ấy tay ôm con, tay lau nước mắt. Đến đây ta mới thực sự hiểu vì sao giọt nước mắt là “giọt châu của loài người”, là miếng kính biến hình của vũ trụ” (Nam Cao). Giọt nước mắt của ông Sáu rơi xuống, đã ngân vang sự bất ngờ đang reo lên thánh thót, đã lấp lánh niềm hạnh phúc vô bờ của một người cha lần đầu được nghe con gọi ba sau bao nhiêu mong mỏi. Giọt nước mắt đã gột rửa đi mọi buồn khổ để nhường chỗ cho một niềm vui tươi sáng. Nhưng thực cảnh miền Nam thân yêu bấy giờ vẫn còn rất tối tăm. đây cũng có thể là giây phút cuối cùng cha con đc ở cạnh nhau. Vì vậy trong giọt lệ ấy vẫn có cả nỗi nghẹn ngào, tiếc nuối. Và ông Sáu vẫn phải tạm biệt con, lên đường đánh giặc.
Hành trang quan trọng nhất người cha ấy mang tới chiến trường có lẽ là tình phụ tử sâu sắc, là nỗi ân hận vì lỡ đánh con,là lời dặn của con ” ba về ba mua cho con cây lược nghe ba”. Ông quyết định tự làm 1 chiếc lược ngà tặng Thu. Kiếm đc khúc ngà, ông ” hớn hở như một đứa trẻ đc quà ” rồi ” ngồi cưa từng chiếc răng lược tỉ mỉ và cố công như một người thợ bạc”, ” gò lưng tỉ mẩn khắc từng chữ yêu nhớ tặng Thu con của ba” . Tình yêu con đã biến người chiến sĩ ấy trở thành một nghệ nhân – người nghệ nhân chỉ làm một tác phẩm duy nhất trong đời. Tình yêu là con trở thành nét hoa tay đặc biệt nhất để người lính vốn quen với súng đạn, khói bom đã khéo léo hơn bội phần. Lời nói yêu, nhớ Thu nào chỉ khắc lên chiếc lược, mà vốn còn khắc sâu vào lòng ông Sáu từ lâu. Chỉ cần khoảnh khắc con gọi “ba” , với vòng tay ôm và cái hôn thắm thiết đã đủ trở thành động lực lớn lao nhất để người cha ấy cầm súng chiến đấu. Đúng như Haruki Murakami từng nói:”Hạnh phúc luôn ngắn ngủi, nhưng trong những ngày tháng mệt mỏi của cuộc đời , chỉ cần nhớ về một khoảnh khắc hạnh phúc đã từng có, người ta lại có can đảm để sống.” (Ký ức được đánh số). Mỗi đêm nhớ con ông lại mang cây lược ra ngắm rồi mài lên tóc mình cho thêm bóng. Chiếc lược chưa chải được mái tóc Thu lần nào nhưng đã gỡ rối được một phần những tâm trạng ngổn ngang của ông. Nó trở thành cầu nối giữa cha con ông, thay cho lời xin lỗi lúc ông đánh con. Chiếc lược ấy là kết tinh của tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kì diệu thiêng liêng. Cũng kết đọng cả tấm lòng người cha dành cho con là những bức thư tay nhân vật bố của cậu bé Enricô trong “Những tấm lòng cao cả” viết gửi con mình. Bao nhắn nhủ chân thành về lẽ sống, cách làm người, bao yêu thương bày tỏ nơi câu chữ: “Bố rất yêu con, con ạ.” Nhưng nếu Enrico nhận được thư từ cha đều đặn mỗi tháng 1 lần thì bé Thu không được may mắn như vậy.
Ông Sáu ao ước đến ngày gặp lại con, trao cho con cây lược nhưng lại ngã xuống trong một trận càn của giặc. Không còn đủ sức trăn trối điều gì, ông thu tất cả tàn lực lấy cây lược trong túi đưa cho ông Ba và nhìn ông Ba hồi lâu. Ánh nhìn ấy trước lúc hi sinh còn thiêng liêng hơn cả những lời di chúc bởi đó là một sự ủy thác , là ước nguyện cuối cùng của ông, ước nguyện của tình phụ tử. Nếu Voltaire từng quan niệm: “chân lý cuối cùng trên cõi đời này vẫn chỉ là yêu. yêu là sống và còn sống là còn yêu” thì tình phụ tử giữa ông Sáu và bé Thu dường như đã vượt qua giới hạn của thế gian, đời người : “chỉ có tình cha con là kh thể chết đc”. Chiến tranh có thể lấy đi tất cả nhưng không thể giết chết được tình cha con trong trái tim người chiến sĩ bộ đội cụ hồ ấy.
Nếu ví tình cha của ông Sáu như ánh nắng trưa hè rực rỡ, chói ngời tâm trí độc giả thì tình cảm Thu dành cho cha sẽ là ánh nắng ban mai.ban đầu phải để ý kĩ mới thấy lấp ló qua tán lá, và đúng lúc vầng dương lên hẳn, ta mới bất ngờ, ấn tượng vì sức tỏa sáng khắp không gian của nó. Thu sinh ra trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Ông Sáu phải rời nhà đi kháng chiến từ lúc em chưa đầy một tuổi. Lớn lên mà chưa 1 lần đc cảm nhận hơi ấm của tình cha, em chỉ có thể nhìn ba qua tấm ảnh chụp chung với má. Thương nhớ bao nhiêu em cũng chỉ biết mang tấm hình ra ngắm. Hình ảnh cha đẹp đẽ hiền từ luôn in sâu trong tâm trí Thu, dù mới chỉ nhìn qua khung ảnh nhỏ ấy. Tận sâu trái tim cô bé ấy là khao khát cháy bỏng được gặp ba. Sau tám năm xa cách mới được gặp ba lần đầu- người cha bằng xương bằng thịt vậy mà em lại không nhận ra. Với 1 đứa trẻ chưa đầy mười tuổi, một người đàn ông lạ tiến đến đường đột và vồ vập quá mức, ngay lập tức gọi mình là ‘con’ xưng ‘ba’, phản ứng của Thu “giật mình tròn mắt nhìn”, rồi sợ hãi chạy vụt đi cũng dễ hiểu. Đặc biệt khi hình ảnh ba trong tâm trí em vô cùng hiền hậu đẹp đẽ, không hề mang vết thẹo dài trên mặt, lại đỏ ửng, dần dật dễ sợ như vậy.
Yêu cha hết mực nên dù thiếu thốn, khao khát tình cha nhưng em vẫn cự tuyệt mọi dỗ dành. Với em đó là ng đàn ông lạ, không phải ba, em đã tin là như vậy thì không vì đòn roi đe nạt hay lời ngon tiếng ngọt mà thay đổi. Em tìm mọi cách để chối từ ông Sáu: luôn nói trổng hoặc gọi ông là “người ta”. Thử thách lớn nhất là khi phải chắt nước ra khỏi nồi cơm to đang sôi, nó “nhăn nhó”, “luýnh quýnh”, “loay hoay”, tâm lý bối rối của một đứa trẻ tám tuổi hiện lên mồn một. Một là phải chịu khuất phục và gọi ông Sáu là “ba” để được giúp đỡ, hai là nó phải tìm cách làm một mình, sẽ rất khó khăn và nguy hiểm. Chao ôi, trên đời làm gì có ai thích chọn những thứ trắc trở hơn những thứ đơn giản, dễ dàng, trừ khi họ có thứ quý giá hơn cần phải bảo vệ, không thể đánh đổi. Và với bé Thu, một cô bé mới tám tuổi, tiếng “ba” nó cất giữ trân trọng ấy là điều đắt giá nó không thể tùy tiện gọi một người lạ chỉ đột nhiên xuất hiện trong đời nó. Vì yêu, vì kính trọng nên càng không thể đem ra để đổi lấy sự giúp đỡ. Nó phải giữ gìn tiếng gọi thiêng liêng ấy cho người ba thực sự mà nó được biết tới. Dù sẽ nguy hiểm, sẽ khó khăn, nó vẫn dùng cái vá để múc từng vá nước ra ngoài. Sự kiên quyết, thông minh của nó cũng khiến bác Ba, ông Sáu và cả người đọc đôi phần ngỡ ngàng. Không chỉ không muốn trao cho ông Sáu tiếng gọi “ba” mà nó còn một mực cứng rắn, không tiếp nhận tình cảm ông dành cho nó. Trong bữa cơm có miếng trứng cá ngon, ông Sáu lựa ra gắp vài bát Thu thế mà em lại hắt ra, cơm văng tung tóe khắp mâm. rồi vừa bị đánh vừa bị mắng nhưng con bé ko hề tỏ ra hối hận thậm chí còn lì lợm, lặng lẽ gắp miếng trứng vào bát rồi bỏ ra xuồng, còn cố ý khua dậy cột rổn rảng như khiêu khích. phản ứng có phần thái quá ấy như thách thức giới hạn của ông Sáu – người vốn vì thương con nên đã rất bao dung, nhẫn nại và cả người đọc. Nhưng như Nguyên Ngọc từng nói: “ nếu đọc bằng mắt thì chỉ thấy được hình dáng bên ngoài, đọc bằng tâm thì mới thấy được da thịt, đọc bằng hồn thì thấy được cốt tủy”, khi đọc hết tác phẩm và thực sự đặt mình vào vị trí của một cô bé tám tuổi, ta mới hiểu và cảm thông với những gì Thu hành xử. Cách biểu hiện tình cảm và bảo vệ hình tượng người cha trong lòng của em chỉ thật bộc trực, thậm chí là hồn nhiên đến mức đáng giận. Đối với cô bé, sự xuất hiện của ông Sáu như đang đe dọa đến hình tượng của người ba trong bức ảnh mà nó vẫn luôn ấp ủ trong lòng bấy lâu, một đứa trẻ tám tuổi sao có thể kịp thích nghi với những thay đổi bất thường lớn như thế trong cuộc đời chúng? Càng giữ khoảng cách với ông Sáu tức là càng giữ được nguyên vẹn hình ảnh người cha trong tâm trí nó, và đó cũng là cách duy nhất. Sự cương quyết, dữ dội kia thực chất chỉ là hình hài khác của một tình yêu cha vô cùng mãnh liệt, nào phải là thói xấu của một cô bé đỏng đảnh nhiều sách nhiễu, mà đó là sự kiên định, quyết liệt của một người có lập trường mạnh mẽ và yêu ba hết mực.
Nguyễn Quang Sáng đã làm rõ điều đó ở liền sau tác phẩm, rằng Thu thực sự là cây xương rồng bé nhỏ khoác lên lớp vỏ xù xì, gai góc nhưng trong lòng luôn dào dạt mạch nguồn yêu thương với cha. Khi được bà ngoại giải thích về lai lịch của vết sẹo trên má ông Sáu, em mới vỡ lẽ ông thực sự là bậc sinh thành đáng kính của mình. Lời của bà về chuyện ba nó đi đánh Tây bị Tây bắn bị thương,về
tội ác mấy thằng Tây ở đồn đầu vàm đủ tỏ tường tất cả, cũng giống như lời ông Kamaji làm cô bé Chihiro chợt hiểu: “Có 1 thứ mà cháu khó có thể nhận ra. Đó là tình yêu” (phim Vùng đất linh hồn). Tình yêu thiêng liêng từ người cha ruột thịt đã bị vết thẹo dần dật dễ sợ che dấu mất trong hai ngày qua,khiến Thu nhận nhầm đó là sự dỗ dành từ 1 ai đó xa lạ . Ròng rã tám năm, không đủ để đứa con quên đi hình ảnh người cha, nhưng đủ để chiến tranh tàn phá hình dáng một con người. Tâm trí non nớt của em có lẽ chẳng thể tưởng tượng nổi nơi chiến trường có thể khắc lên con người ta những vết thương đau đớn đến thế. Vậy nên khi vỡ lẽ ra tất cả, ” Nó nằm im lăn lộn thở dài như ng lớn”. Thu lúc này có sự khác biệt với những Thiều, những Tường, những Mận rất đỗi vô tư trên trang sách Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh: “trẻ con thì ko biết cách nuôi nấng nỗi buồn dài lâu như người lớn.” Là tình yêu cha đang lớn thêm gấp bội cũng khiến cho tâm hồn em thêm trưởng thành? Để rồi theo tiếng thở dài là hình ảnh mình cư xử lạnh lùng với ba ùa về, như cơn sóng cứ cuộn trào không yên trong tâm trí Thu. Ở ngoài mặt trận cha đã chịu bao đau đớn vậy mà trong mấy ngày nghỉ phép, vì em, ông lại buồn lòng nhiều hơn. Ân hận, rồi tiếc nuối do thời gian ở bên cha không còn bao lâu nữa. Chiến tranh chưa biết bao giờ kết thúc, ngày mai cha đi rồi, biết khi nào mới trở lại để em được sống trong tình phụ tử ấm áp, được chuộc lại lỗi lầm hôm nay?
Buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu lên đường, thái độ của Thu thay đổi đột ngột và cảm động. Nguyễn Quang Sáng đã bắt trọn những chuyển biến ấy và miêu tả nó một cách tinh tế. Bởi những phản ứng quyết liệt trước đây mà giờ đây nó ngại ngần, xấu hổ, chỉ dám đứng tựa cửa nhìn mọi người vây xung quanh ba. Vẻ mặt có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa,” mà sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ.Những trầm tư vương trên nét mặt rồi đọng lại sâu lắng nhất vào đôi mắt: “đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.” Nơi cửa sổ tâm hồn ấy của Thu không còn đóng chặt lại với sự kinh ngạc đến e sợ như lần đầu gặp ông sáu, mà đã rộng mở để thấy bầu trời yêu thương từ cha vời vợi nhường nào và hành động của mình đáng trách đến bao nhiêu. Để rồi biết đăm chiêu hơn, “nghĩ ngợi sâu xa”. Phải chăng Thu đang suy nghĩ, xin lỗi cha như thế nào đây, rồi làm sao để bồi đắp những yêu thương đã lỡ ? Nhưng em đã quên mất đâu có cách nào ngăn thời gian ngừng lại cho mình hoài suy tính,đã đến lúc chia tay. Lời chào của ông sáu cất lên khe khẽ mà như làm chấn động cả mảnh hồn bé nhỏ, “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”. Quả thực Nguyễn Quang Sáng cũng có chung quan điểm sáng tác như Maiacopxki: “Phải tốn cả nghìn cân quặng chữ chỉ để thu về một chữ mà thôi”. Từ “xôn xao” thật đắc địa, vốn là từ tượng thanh nay được nhà văn tinh tế dùng để miêu tả khoảng không gian bất tận trong đôi mắt của Thu. Nó bao la, bâng khuâng và lẻ loi kỳ lạ so với một đứa trẻ mới chỉ tám tuổi. Có lẽ đó là nỗi niềm tích tụ trong tám năm thiếu vắng hình bóng người cha, là nỗi sợ thêm một lần chia ly mà mình con bé không tài nào che giấu nổi nữa. Thế nên nó vỡ òa. Tiếng gọi “ba” xé toạc thinh không, xé toạc cả những ngăn cách ngại ngùng, xấu hổ mà con bé ngần ngừ trước đó. Tiếng gọi ấy tưởng chừng rất quen thuộc, gần gũi, có khi là lời nói đầu tiên của con người trong cuộc đời. Vậy nhưng với bé Thu nó lại là âm thanh đã phải dồn nén bao lâu nay, chứa chan biết bao nhớ nhung mong đợi.Nhưng cũng chính vì thế mà tiếng gọi ấy trở nên thiêng liêng và đong đầy cảm xúc hơn bao giờ hết. “Nó nhanh như một con sóc chạy tót lên và dang 2 tay ôm cổ ba nó. Nó vừa ôm vừa nói trong tiếng khóc. Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!” Đọc đến đây , ta nhớ đến cảnh gặp lại đầy xúc động của bé Hồng với mẹ trên trang viết “Trong lòng mẹ”, khi cậu bé cũng “òa lên khóc rồi cứ thế nức nở.” Có lẽ, với những đứa trẻ thiếu thốn tình cảm từ cha, hoặc mẹ, giây phút đoàn tụ thật sự là “một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc.” (Nguyên Hồng). Bởi thế nên bé Thu vội vã hôn ba nó: “hôn tóc, hôn vai, hôn cả lên vết thẹo dài”. Vết thẹo từng là thứ chia cắt cha con , giờ lại là thứ nó tự hào nhất, thứ hiện thân cho sự dũng cảm và can trường của cha nó, như một huy chương cho tấm lòng nhiệt thành đã xả thân vì tổ quốc mà nó sẽ trân trọng, kiêu hãnh hết đời này. Con bé vồ vập như vậy vì muốn được cảm nhận tình cảm của cha cho bằng hết trước khi ông Sáu lại phải đi xa. Cách bộc lộ tình cảm có phần tham lam này đã thể hiện rõ tấm lòng muốn bù đắp lại sự lạnh nhạt trong những ngày qua, và còn xuất phát từ nỗi sợ rằng sẽ còn rất lâu nữa, thậm chí ko bao giờ em được gặp ông Sáu lần thứ hai. Tình yêu Thu dành cho ba qua cách thể hiện ngây ngô, vụng về lại càng đáng quý, xúc động hơn. Và nhờ đó ta hiểu vì sao Colleen Oakland trong tác phẩm “Mạnh hơn cái chết” đã nói: “Tình yêu vốn xộc xệch. Nó không đến với chúng ta trong một chiếc hộp gói nơ hoàn hảo. Nó giống như món quà của một đứa bé, với những nét sáp màu nguệch ngoạc và móp méo. Không hoàn hảo. Nhưng vẫn cứ là một món quà.”
Trong cuốn sách “Yêu những gì không hoàn hảo”, Đại đức Haemin từng viết: “Con người ta chính là lò sưởi. Nhờ có nhau mà chúng ta có thể sưởi ấm cả thể xác lẫn tâm hồn.” Có lẽ vì vậy mà đọc những câu văn mộc mạc trên trang sách Chiếc lược ngà mà sao ta cứ cảm thấy có gì đó thật ấm áp trong lòng. Tình cha con giữa bé Thu và ông Sáu đã đốt lên một ngọn lửa nồng ấm, xua tan bao giá lạnh của thời chiến tranh khắc khổ. Và chất củi nhen lên ánh sáng yêu thương ấy chính là nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, đặc biệt là tâm lý của nhân vật trẻ em rất tinh tế; một tình huống hết sức chặt chẽ, hấp dẫn xoay quanh những tình huống bất ngờ nhưng tự nhiên và hợp lý; cách kể chuyện của tự nhiên và ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ. Tài năng của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, tình phụ tử thiêng liêng giữa ông Sáu và bé Thu bởi thế sẽ sáng mãi trên bầu trời văn học và trong trái tim độc giả muôn đời.

Xem thêm:  Cách nấu bún Thái ngon nhất chuẩn vị xứ chùa vàng

#Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #tình #cảm #cha #con #trong #Chiếc #lược #ngà

Truyện ngắn Chiếc lược ngà mang tới cho người đọc câu chuyện cảm động về tình cha con sâu nặng, thiêng liêng. Với 8 bài Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng sẽ giúp các em hiểu sâu sắc hơn.

Sau khi đọc xong Chiếc lược ngà, người đọc không chỉ cảm nhận được tình cảm cha con sâu nặng, mà còn thấm thía những mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra, khiến gia đình li tán. Chi tiết mời các em cùng theo dõi bài viết để ngày càng học tốt môn Văn 9.
Đề bài: Phân tích tình cảm cha con trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
Dàn ý phân tích tình cảm cha con trong truyện Chiếc lược ngà
Dàn ý 1
I. Mở bài
– Giới thiệu tác giả: Nguyễn Quang Sáng: Nguyễn Quang Sáng là nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam.
– Giới thiệu tác phẩm: Chiếc lược ngà
Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” ra đời năm 1966, những năm tháng gian khổ, đau thương nhất của đồng bào Nam Bộ trong 30 năm chiến tranh.
Truyện thể hiện cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.
– Giới thiệu khái quát về tình cảm cha con của ông Sáu
II. Thân bài
1. Tóm tắt truyện
Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” xoay quanh tình huống gặp mặt của bé Thu và ông Sáu.
Khi ông Sáu đi kháng chiến, bé Thu chưa đầy một tuổi. Tám năm trời cha con em chỉ biết nhau thông qua 2 tấm ảnh. Lần nghỉ phép ba ngày của ông Sáu là cơ hội hiếm hoi để ba con Thu gặp gỡ, bày tỏ tình phụ tử. Nhưng bé Thu lại không chịu nhận cha vì vết thẹo trên má làm ông Sáu không giống như trong tấm ảnh. Đến lúc Thu nhận ra thì cũng là giây phút ba em lên đường tiếp tục đi chiến đấu. Và lần gặp mặt ấy là lần đầu tiên, duy nhất, cuối cùng của cha con Thu.
2. Phân tích
* Tình cảm của ông Sáu đối với con gái nhỏ được biểu hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà.
a. Trên đường về thăm nhà
Trong lòng ông bồi hồi xúc động: cái tình người cha cứ nôn nao trong lòng ông. Người cha được về thăm nhà sau bao nhiêu năm ở chiến khu.
Khao khát đốt lòng ông là được gặp con, là được nghe con gọi tiếng ba, để được sống trong tình cảm cha con, mà lâu nay ông chưa từng được sống, bấy lâu ông mong đợi.
Khi trông thấy đứa trẻ chơi trước sân nhà, ông đã cất tiếng gọi con thân thương trìu mến bằng tất cả tấm lòng mình: Thu con! Ba đây con! Ba đây con”.
=> Tiếng gọi thổn thức của người cha cất lên từ sâu thẳm trái tim của người lính sau bao năm xa cách làm xao động tâm hồn người đọc. Nhưng trái với niềm mong đợi của ông, những tưởng bé Thu sẽ ào tới, ôm lấy thoả những tháng ngày xa cách. Nhưng không , ông hẫng hụt bất ngờ khi thấy: “Bé tròn mắt ngơ ngác nhìn rồi sợ hãi bỏ chạy” khiến ông Sáu sững sờ, thất vọng, rơi vào tâm trạng hụt hẫng.
b. Những ngày ở bên con
– Trong ba ngày phép ngắn ngủi, ông luôn ở bên con không đi đâu xa, suốt ngày chỉ tìm cách an ủi vỗ về nó.
Ông tìm mọi cách để mong được nghe một tiếng ba” nhưng đều thất bại. Khi má bảo Thu kêu ba vô ăn cơm, dọa đánh để cô bé gọi ba một tiếng. Thu nói trống không: “Con kêu rồi người ta không nghe”. Hai từ “người ta” mà Thu kêu làm ông đau lòng, khổ tâm.
Trong bữa cơm, bằng lòng thương của người cha ông Sáu gắp cho con cái trứng cá to và vàng ươm, ông tưởng con sẽ đón nhận vậy mà nó bất thần hắt cái trứng cá ra khỏi chén. Nỗi đau khổ trong ba ngày nén chịu trào lên, ông giận quá đánh con đã làm mất tia hy vọng cuối cùng về tình phụ tử.
c. Trong những ngày ở khu căn cứ
Anh ân hận vì đã trót đánh con. Nhớ lời con dặn “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt.
Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước đầu tiên mà cũng là duy nhất.
=> Cho nên, nó cứ thôi thúc trong lòng. Kiếm cho con cây lược, trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng.
Trước lúc hy sinh, “dường như chi có tình cha con là không thể chết”, không còn đủ sức trăng trôi điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc đưa tay vào túi, móc cái lược đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cử nhìn bạn hồi lâu.
=> Nhưng đó là điều trăng trối không lời, nó rõ ràng và thiêng liêng hơn cả một lời di chúc. Bởi đó là sự ủy thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân: ước nguyện của tình phụ tử! Từ lúc ấy, cây lược bằng ngà đã trở thành kỷ vật, thành biểu tượng thiêng liêng của tình phụ tử. Những dòng cuối cùng của truyện khép lại trong nỗi buồn mênh mông mà chứa chan ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
III. Kết bài
Khẳng định giá trị của tác phẩm.
Tình cảm của em dành cho tác phẩm cũng như bài văn: Sau khi học xong truyện Chiếc lược ngà, em thấy tình cảm cha con nói riêng, tình cảm gia đình nói chung là tình cảm cao quý. Lớp trẻ chúng ta hôm nay được sống trong hòa bình không thể không nhớ đến sự hi sinh của những người như ông Sáu. Mọi người phải sống và làm việc sao cho xứng đáng với các tình cảm cao quý đó. Đây cũng là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn” cần kế thừa và gìn giữ, phát huy.
Dàn ý 2
I. Mở bài
Giới thiệu tác giả: Nguyễn Quang Sáng là nhà văn gắn liền với miền đất Nam Bộ, văn ông có giọng điệu tự nhiên, thân mật, dân dã, ngôn ngữ gần với khẩu ngữ, lời ăn tiếng nói của nhân dân Nam Bộ.
Truyện ngắn Chiếc lược ngà được sáng tác năm 1966 đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.
II. Thân bài
* Tình cảm cha con trong truyện ngắn này được thể hiện từ hai phía: tình cảm của con dành cho cha và tình cảm của cha dành cho con.
1. Tình cảm của bé Thu dành cho ông Sáu
– Khi chưa nhận ra ông Sáu với vết thẹo dài trên mặt, bé Thu đã có thái độ xa lánh, hành động cự tuyệt và những lời nói cử chỉ khiến ông Sáu phải đau lòng: (hét toáng lên khi nhìn thấy ba, toàn nói lời trống không, nhất định không chịu nhờ ông Sáu chắt nước cơm cho, hất cái trứng cá…).
=> Tất cả những hành động ấy đã thể hiện được cá tính mạnh mẽ và tình cảm yêu thương rạch ròi của cô bé.
– Khi nhận ra ông Sáu là cha mình, trong buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu phải lên đường, thái độ, hành động của bé Thu đột ngột thay đổi:
Nó bỗng kêu thét lên “ba” – tiếng kêu như xé tan sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người.
Cô bé chạy xô tới, dang hai tay ôm lấy cổ ba, hôn ba cùng khắp (hôn tóc, hôn cổ, hôn vai, hôn vết thẹo), dang cả hai chân để câu chặt lấy ba, đôi vai nhỏ bé run run. Tình yêu thương ba được bộc lộ một cách mãnh liệt, dâng trào, không thể kìm nén nổi. Em yêu ba, nhớ ba, mong ba. Nay tình cảm ấy mới có dịp vỡ òa ra nên vô cùng mạnh mẽ, hối hả, cuống quýt.
2. Tình cảm của ông Sáu dành cho con
Khi bị con từ chối, ông cảm thấy vô cùng hụt hẫng, đau khổ, cáu giận, không thể kìm chế nổi. Ông đã đánh con vì nó không chịu nhận mình. Đây là biểu hiện đau khổ tột cùng của người cha khi bị con khước từ.
Về đơn vị, ông day dứt, ân hận vì trong lúc nóng giận đã đánh con. Chi tiết này thể hiện tình yêu con tha thiết.
Khi kiếm được khúc ngà voi, ông vô cùng vui mừng sung sướng, dành hết tâm trí, công sức vào việc làm cây lược. Chiếc lược đã trở thành vật báu thiêng liêng đối với ông Sáu. Nó làm dịu đi những ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến của ông với đứa con xa cách nơi quê nhà.
Trước lúc hi sinh, lời trăng trối sau cùng, ông muốn nhờ bạn trao tận tay chiếc lược ngà cho con.
III. Kết bài
Truyện ngắn Chiếc lược ngà đã khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc. Tình cảm ấy càng trở nên cao đẹp, thiêng liêng hơn trong những cảnh ngộ éo le của cuộc chiến tranh tàn khốc.
Phân tích tình cha con trong Chiếc lược ngà
Nguyễn Quang Sáng là nhà văn gốc An Giang, những tác phẩm của ông gắn liền với vùng đất và con người miền Tây Nam Bộ. “Chiếc lược ngà” là một tác phẩm hay và tiêu biểu của ông. Bằng việc sáng tạo tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lý cùng nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật, truyện đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp của cha con ông Sáu trong cảnh ngộ éo le của cuộc chiến tranh.
Trong chiến tranh, sự mất mát, thiệt thòi, hy sinh về tình cảm gia đình là điều tất nhiên. Ông Sáu xa nhà đi theo tiếng gọi của kháng chiến khi con gái đầu lòng mới tròn một tuổi. Ông trở về thăm nhà sau tám năm xa cách gia đình, nhưng trớ trêu thay, bé Thu không nhận ra ông là ba. Khi vừa gặp gỡ, Thu ngờ vực, lảng tránh, thậm chí còn bỏ chạy vì sợ hãi bởi “vết thẹo bên má phải cứ mỗi khi anh xúc động lại đỏ ửng lên, giật giật trông rất dễ sợ”.
Trong những ngày ông ở nhà, Thu kiên quyết không nhận ông là ba mặc dù ông đã tìm mọi cách để gắn kết tình cha con với cô bé. Sự cương ngạnh của cô bé không đáng trách vì em còn quá nhỏ để có thể hiểu được những khó khăn, mất mát và xa cách mà chiến tranh mang lại và em cũng chưa thể sẵn sàng để đón nhận người ba sau một khoảng thời gian dài như thế.
Em không nhận ông Sáu là cha vì sau nhiều năm, chiến tranh đã khiến ông có vết thẹo dài trên má không giống bức hình chụp chung với má mà em biết. Điều đó chứng tỏ Thu có tình cảm dành cho ba nhưng chỉ là do em chưa sẵn sàng. Em chưa biết chắc đó là ba nên không thể biểu lộ tình cảm một cách tự nhiên được.
Buổi sáng sớm cuối cùng trước khi ông Sáu lên đường trở lại chiến khu, thái độ của Thu đột nhiên thay đổi. Trong đêm bỏ về nhà ngoại Thu đã được bà giải thích về vết sẹo trên má của ba. Bé hiểu ra, cảm thấy ân hận và hối tiếc vô cùng: “nghe bà kể, nó nằm im lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Lúc chia tay “vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của bé thật dễ thương”.
Khi ông Sáu ngậm ngùi nhìn con để chào từ biệt, “đôi mắt mênh mông của con bé xôn xao” tình cha con đã dồn nén bấy lâu nay chợt vùng lên mạnh mẽ, vô cùng hối hả, cuống quýt. Thu thét lên gọi ba “tiếng kêu của nó như tiếng xé”, “xé tan sự im lặng và xé cả ruột gan của mọi người, nghe thật xót xa”. Hành động của cô bé cũng thay đổi “nó nhảy thót lên, dang cả hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó hôn ba nó cùng khắp, hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”…
Tất cả những biểu hiện đó của bé Thu đều bắt nguồn từ tình cảm thương yêu và nhớ mong dành cho người ba mà nó hằng tôn kính, tôn thờ và không ai có thể thay thế được. Ở Thu sự ương bướng và mạnh mẽ nhưng vẫn có nét ngây thơ, hồn nhiên của con trẻ. Bằng tâm hồn tinh tế, một trái tim nhân hậu và chứa chan tình yêu thương đối với tình cảm gia đình, Nguyễn Quang Sáng dường như đã cảm nhận đến sâu sắc nhất những biểu hiện tình cảm của nhân vật để miêu tả một cách sinh động và tinh tế.
Tình cảm của ông Sáu đối với bé Thu được biểu hiện qua chuyến về thăm nhà sau tám năm xa cách. Khi xuồng còn chưa kịp cập bến, nhìn thấy con gái ông đã vội vàng “nhảy thót lên, khom người, hai tay đưa về phía trước, miệng lắp bắp: “ba đây con! ba đây con””. Ông cứ tưởng sẽ ào tới, ôm lấy cổ ba cho thỏa những ngày tháng xa rời. Nhưng không, ông hụt hẫng khi “bé tròn mắt ngơ ngác nhìn rồi sợ hãi bỏ chạy”.
Thời gian ở nhà không nhiều nên ông Sáu chỉ ở nhà tìm cách gần gũi, gắn kết với con, chỉ mong nghe một tiếng “ba” từ con gái mà không được. Có lúc giận quá ông đã không kiềm chế mà đánh con. Lúc chia tay, tình yêu mãnh liệt của bé Thu khiến ông “một tay ôm con, tay kia lấy khăn chấm nước mắt”.
Càng cảm động và đau đớn hơn khi biết rằng lần đầu tiên này cũng chính là lần cuối cùng anh được nghe tiếng gọi ba thân thương từ bé Thu, bởi vì sau đó, anh đã không thể trở về một lần nào nữa!. Trong những ngày ở chiến khu, anh ân hận vì những lần đã trót đánh con. Khi nhặt được một khúc ngà voi anh vui mừng như trẻ nhỏ “mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”.
Những ngày sau đó tất cả tình cảm yêu quý, nhớ thương con anh đều dồn vô việc làm cây lược. Anh “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng và tỉ mỉ”, anh còn khắc lên “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”… Những lúc nhớ con anh mang cây lược ra chải lên tóc mình cho cây lược thêm óng mượt.
Những lúc ấy anh tha thiết mong có một lần về phép thăm nhà để anh tự tay mình cầm cây lược chải lên mái tóc cho con… Nhưng chiến tranh tàn khốc đã cướp mất giấc mơ đó, khiến anh chẳng bao giờ có thể trở về bên con gái mình được nữa. Anh đã hy sinh trong một trận càn quét lớn của địch. Những lời trăn trối cuối cùng “dường như chỉ có tình cha con là không thể chết”, anh cầm cây lược trao cho anh Ba với niềm mong mỏi không còn có thể cất được thành lời.
Từ lúc ấy, cây lược bằng ngà đã trở thành một kỷ vật tình cha con, thành biểu tượng thiêng liêng của tình phụ tử. Những dòng cuối cùng của truyện khép lại trong nỗi buồn như cắt vào tim mà chứa chan ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Câu chuyện cảm động của cha con ông Sáu đã phản ánh giá trị hiện thực trong chiến tranh. Chiến tranh ác liệt và phi nghĩa đã cướp mất đi hạnh phúc gia đình của bao nhiêu cuộc đời. Tác giả đã xây dựng một tình huống truyện độc đáo và miêu tả tâm lý nhân vật rất thực và hợp lý, chỉ có trong chiến tranh và nhờ tình huống này mà tình phụ tử được khắc sâu tô đậm như một lẽ sống. Qua đó, Nguyễn Quang Sáng cũng bộc lộ thái độ căm ghét với chiến tranh. Và vì vậy, giá trị nhân đạo của tác phẩm càng nâng cao.
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 1
Trong khói lửa chiến tranh, người ta cứ ngỡ tưởng rằng, trong các tác phẩm văn học thời kì đó, chỉ có bom mìn, lửa đạn, chỉ có đau thương và mất mát, chỉ có máu và nước mắt chan hòa cùng với nhau… nhưng có một tác phẩm viết về tình cha con thật nhẹ nhàng, sâu lặng, thấm thía và cảm động vẫn cứ lặng lẽ xuất hiện ngay giữa trận địa chiến đấu chống quân thù, đó là truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” là một trong các truyện ngắn thành công nhất trong sự nghiệp cầm bút của ông. Tác phẩm được sáng tác năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc đang diễn ra rất quyết liệt. Qua tác phẩm, người đọc thấy được tình cảm cha con thật đẹp, thiêng liêng, cao cả trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.
Sau tám năm ròng đi lính xa cách gia đình, anh Sáu được phép về thăm nhà, thăm con, trong lòng anh nôn nao, mong ngóng muốn được gặp con và ôm con vào lòng ngay tức khắc. Vì thế, không đợi thuyền cập bến, anh Sáu đã “nhón chân nhảy thót lên bờ, xô chiếc xuồng tạt ra” rồi “bước vội vàng với những bước dài”, “miệng kêu to tên con, vừa bước vừa khom người đưa tay đón chờ con”. “Anh không kìm nổi nỗi xúc động” khi gặp lại con, vết sẹo dài bên má lại đỏ ửng, giần giật trông dễ sợ. Giọng lắp bắp, run run: “Ba đây con!, Ba đây con!”. Nhưng trái lại với cảm xúc đó của anh, bé Thu sợ hãi, bỏ chạy, không nhận ra cha mình. “Anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”. Tâm trạng anh Sáu đau khổ tột cùng, anh mong ngóng được con chạy lại ôm mình nhưng đứa con bé bỏng, ngây thơ lại xa lánh, hoảng sợ khiến anh hụt hẫng, đau đớn và thất vọng.
Trong ba ngày nghỉ phép ở nhà, anh tìm mọi cách để được bé Thu gọi một tiếng “ba”. Nhưng dường như mọi sự cố gắng của anh đều thất bại, từ việc anh “giả vờ không nghe” lúc bé mời ăn cơm, cho đến việc “dồn nó vào thế bí” khi chắt nước cơm đều không có kết quả. Trong bữa ăn, anh gắp cái trứng cá vào chén của bé, bé đã hất cái trứng cá ra ngoài làm cơm văng tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh con, con bé bỏ sang nhà ngoại. Anh khao khát tình cảm của con bao nhiêu thì con bé lại hoàn toàn lạnh lùng trước mọi tình cảm vồ vập của cha bấy nhiêu. Anh càng muốn xích gần nó, nó lại càng lùi xa; anh càng chiều thương nó, nó lại càng lẩn tránh; anh càng mong được nghe tiếng ba thì nó lại càng không gọi. Anh kiên nhẫn, đợi chờ tình cảm của con “suốt mấy ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con”, “anh quay lại nhìn con vừa khẽ lắc đầu, vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được nên anh phải cười vậy thôi”.
Sáng hôm sau, khi chuẩn bị phải xa gia đình, tiếp tục tham gia chiến đấu, anh Sáu rất muốn được ôm con và hôn con nhưng lại sợ nó giãy lên lại bỏ chạy, nên “anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi ấy, bé Thu đứng vào một góc nhà, tựa cửa và nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Nhưng thái độ và hành động của bé khác hoàn toàn mọi khi: “nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu”, “đôi mắt mông mông của con bé bỗng xôn xao”, “tình cảm cha con như bỗng trỗi dậy trong người nó”, “nó kêu thét lên: “Ba…a…a…ba!”. Sự khao khát tình cảm cha bị kìm nén suốt mấy năm, nay bỗng bật lên xé tan cả sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, “nghe thật xót xa”. Thế rồi, nó vừa kêu, vừa chạy tới, nhanh như một con sóc, “nó chạy thót lên và dang hai tay ôm lấy cổ ba nó”. Sự xúc động ngẹn ngào đã khiến “làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên”. Nó hôn khắp người anh Sáu, “hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”. Anh Sáu “không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con”. Đó là giọt nước mắt của hạnh phúc, của tình thương yêu mà người cha dành cho con sau tám năm ròng xa cách.
Sợ cha đi mất, “chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân câu lấy ba nó và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Sau khi nghe ông Sáu nói: “Ba đi rồi ba về với con”, bé Thu thét lên: “không!”. Vừa khóc vừa không cho cha đi. Giọt nước mắt ấy là biểu hiện của tình cha con ấm áp, của sự hạnh phúc vỡ òa khi nhận ra cha sau tám năm xa cách, lại vừa xen lẫn cả sự ăn năn, hối hận vì không kịp nhận ra cha sớm hơn chút nữa…Chứng kiến cảnh ngộ ấy, có người đã không cầm được nước mắt, còn bác Ba thì cảm thấy như có bàn tay nắm lấy trái tim mình mà bóp thắt lại…
Qua thái độ và hành động của bé Thu trước và sau khi nhận ra ông Sáu là cha mình, người đọc thấy được đằng sau sự hồn nhiên, ngây thơ và cứng đầu, bướng bỉnh của bé là tình cảm cha con sâu nặng, bền chặt, thiêng liêng. Trước đó, bé không chịu nhận cha, bởi đơn giản là vì bé thấy người cha của hiện tại trước mắt khác với tấm hình chụp chung với má của bé quá. Vả lại Thu còn quá bé bỏng để có thể thấu hiểu được sự khắc nghiệt của cuộc sống, của chiến tranh và người lớn cũng chưa kịp giải thích cho bé hiểu nên bé không tin là người có vết sẹo trên mặt kia là ba của mình. Đồng thời, điều đó cũng chứng tỏ tình cảm sâu sắc của bé dành cho ba. Bé chỉ yêu, chỉ nhận ba khi biết chính xác đó là ba của bé mà thôi. Cho nên, những phản ứng sau này trước khi anh Sáu lên đường của bé Thu đã dâng đầy lên rồi vỡ òa ra thành tiếng khóc, tiếng nấc đến nghẹn ngào, chứng tỏ được tình cảm mà bé dành cho cha cũng mãnh liệt, cũng khát khao giống như anh Sáu dành cho bé Thu vậy.
Không dừng lại ở đó, tình cha con anh Sáu sâu nặng, bền chặt và thiêng liêng còn được thể hiện khi anh trở về đơn vị mặt trận. Anh day dứt, ân hận vì đã nóng giận đánh con. Và anh đã dồn tất cả tình thương, nỗi nhớ con bằng việc làm một cây lược ngà – lời hứa với con trước lúc chia tay. Vì thế, khi kiếm được khúc ngà voi, lòng anh “hớn hở như một đứa trẻ được quà”, rồi dành hết tâm trí, tình cảm vào làm một cây lược. “Anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Trên sống lưng của chiếc lược có khắc dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” mà ông gò lưng, khắc từng nét một. Chiếc lược ngà phần nào gỡ rối được tâm trạng của người cha. Chiếc lược trở thành vật quý giá mà ông dồn tất cả tình cảm yêu thương con của người cha sau tám năm ròng xa cách. Vì thế, mỗi khi nhớ con, ông lại mang chiếc lược ra ngắm và chải lên tóc mình cho thêm bóng, thêm mượt.
Nhưng rồi anh Sáu đã hi sinh trong một trận càn của giặc, khi còn chưa kịp trao cây lược cho con gái. Trước lúc tắt thở, không còn sức trăng trối lại điều gì, “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”, anh đã lấy cây lược mà anh thường mang theo bên mình rồi trao cho bác Ba – người bạn đồng đội của mình và nhìn người bạn một hồi lâu, cái nhìn như gửi gắm sự ủy thác thiêng liêng. Chỉ khi nhận được lời hứa của bác Ba, “mang về tận tay trao cho cháu” thì người cha mới nhắm mắt, xuôi tay. Điều đó cho ta thấy tình cha con mãnh liệt và tha thiết của anh Sáu dành cho con gái yêu bé bỏng của mình.
Để rồi sau này, bé Thu lớn lên, trở thành cô giao liên xinh đẹp, dũng cảm, bước tiếp con đường cách mạng mà cha cô đã từng đi. Sau ba năm ngày mất của anh Sáu, cô nhận được chiếc lược ngà mà bác Ba gửi, nhìn dòng chữ khắc ghi “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”, cô cảm thấy như được gặp lại chính bóng hình người cha thân yêu. Cô đã không kìm được lòng mình, “hai giọt lệ sắp rơi xuống bỗng vỡ ra tràn đầy qua đôi mắt”. Và giọt nước mắt của Thu chính là giọt nước mắt của tình phụ tử sâu lặng, vĩnh hằng, bất biến!.
Tóm lại, qua câu chuyện, người đọc không chỉ cảm nhận được tình cảm cha con sâu nặng của anh Sáu mà còn thấm thía về những đau thương, mất mát, éo le mà chiến tranh đã gây ra, khiến cho gia đình phải li tán, vợ xa chồng, con xa cha. Đồng thời qua truyện, người đọc cũng thấy được những hi sinh thầm lặng mà cao cả của những người lính trong chiến tranh đối với quê hương, đất nước, vì hòa bình dân tộc. Từ đó, ta càng cảm thấy trân trọng hơn nền hòa bình dân tộc và càng quí trọng hơn tình cảm gia đình mà mở rộng ra là tình yêu quê hương đất nước.
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 2
Trong mỗi chúng ta, ai mà chẳng được sống trong những giây phút xúc động của tình cảm gia đình. Đến với văn học ta càng cảm nhận rõ nét hơn sự rung cảm đến tột cùng đó. Nếu đến với ” Bếp lửa” của Bằng Việt ta được sống lại cuộc sống êm đềm bên người bà… Đến với ” Tắt đèn” của Ngô Tất Tố ta được chìm ngập trong tình mẹ con sâu nặng…Thì đến với tác phẩm ” Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện thật cảm động tình cảm cha con của ông Sáu và bé Thu.
Dưới cây bút tài ba của nhà văn ta được đến với những tình huống vô cùng độc đáo và bất ngờ, qua đó càng nhấn mạnh tình cảm cha con sâu sắc cao đẹp trong cảnh ngộ éo le. Cái cảnh ngộ đã làm bé Thu và ông Sáu trở nên xa cách và lạnh lùng.
Sau tám năm xa cách gia đình, vợ con để đi chiến đấu lúc nào ông Sáu cũng nuôi trong mình hy vọng là được về thăm nhà. Thế rồi cái ước mơ đó đã trở thành hiện thực, ông được về thăm nhà, thăm vợ con. Lúc về đến nhà ông vô cùng hồi hộp được nhìn thấy đứa con sau bao năm xa cách, nhưng ông càng hy vọng bao nhiêu thì càng thất vọng bấy nhiêu. Bé Thu – con gái ông đã không nhận ra cha bởi vì cái vết thẹo dài trên má. Đã làm cho ông Sáu đau lòng nhưng ông vẫn yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Chỉ vì cái vết thẹo mà chiến tranh tàn khốc đã gây nên đã tạo ra những bi kịch đáng buồn, là bức rào ngăn cản cha con.
Đọc tác phẩm, ta thấy trong mình sục sôi sự căm ghét chiến tranh, không những gây nên sự hy sinh đau khổ mà còn gây lên những trớ trêu mà ngay cả những đứa trẻ thơ ngây, hồn nhiên cũng phải gánh chịu. Hành động chạy vụt đi của bé Thu khi ấy cũng chỉ là xuất phát từ tình yêu mà bé dành cho cha, vì người cha trước mặt không giống với người cha trong ảnh mà mẹ đã chỉ. Bé cũng chỉ là nạn nhân của chiến tranh, không được sống gần gũi, yêu thương của cha mà phải xa cha từ nhỏ. Nhưng vết thẹo dài trên mặt ấy chỉ là bức cản tạm thời, nó đã không che lấp được tình cha con. Tình cha con sâu nặng đã vượt lên trên tất cả sự đau thương mất mát để được bên nhau. Tuy chỉ là nhưng giây phút ngắn ngủi nhưng chứa đựng là những kỷ niệm khó quên trong tâm hồn bé Thu và ông Sáu.
Mà có lẽ, ta không thể không xúc động trước tình cảm yêu thương tha thiết của ông Sáu dành cho đứa con gái.Ôi ! ta phải thốt lên trước những hành động suy nghĩ của ông Sáu khi ở căn cứ. Vì nỗi nhớ thương con da diết đã khiến ông dồn hết tâm trí và sức lực những lúc dỗi dãi ông chau chuốt làm cho con một chiếc lược thật đẹp bằng ngà voi. Cái hình ảnh ấy cứ thấp thoáng đâu đây: ” Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Chiếc lược đã trở thành vật thiêng liêng quý giá chứa đựng bao nỗi nhớ thương yêu con của ông Sáu. Ông đã từng tưởng tượng cái giây phút hạnh phúc khi được tận tay trao chiếc lược cho con nhưng tất cả đã trở thành kỷ niệm, ông Sáu đã hy sinh. Một lần nữa người đọc lại thấm thía về sự mất mát hy sinh của chiến tranh.
Tóm lại, khi đọc tác phẩm ” Chiếc lược ngà” với cốt truyện chặt chẽ, bất ngờ đã đưa người đọc đến với tình cảm cha con sâu nặng nhưng vô cùng éo le trong cảnh ngộ chiến tranh. Qua đó Nguyễn Quang Sáng muốn gửi đến bạn đọc rằng : tình cảm cha con là một tình cảm vô cùng thiêng liêng và cao quý đối với mỗi chúng ta. Vậy nên chúng ta hãy biết trân trọng tình cảm và quý mến tình cảm ấy.
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 3
Nguyễn Quang Sáng là một cây bút truyện ngắn nổi tiếng trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Tác phẩm của ông thường viết về cuộc sống và con người Nam Bộ cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Truyện ngắn “Chiếc lược Ngà” được viết năm 1966, lúc tác giả hoạt động cách mạng ở chiến trường Nam Bộ. Tác phẩm ngợi ca tình cha con thiêng liêng, sâu nặng của ông Sáu và bé Thu như một giá trị nhân bản sâu sắc. Tình cảm ấy càng cao đẹp trong hoàn cảnh chiến tranh.
Câu chuyện cảm động về tình cha con của ông Sáu và bé Thu. Vì chiến tranh, đã bảy tám tuổi mà Thu chỉ biết được mặt cha qua tấm ảnh. Vì chiến tranh, gương mặt ông sáu có một vết sẹo, không còn giống như gương mặt mình trong tấm ảnh, nên khi ông về nhà, Thu không nhận ra cha. Vì chiến tranh, ông lại tiếp tục đi chiến đấu; lúc chia tay, Thu nhận ra ông Sáu chính là cha mình. Vì chiến tranh, dù làm xong cho con chiếc lược bằng ngà voi, ông Sáu không kịp chải lên mái tóc con, chỉ kịp gửi lại cho người bạn mang về cho con. Vì chiến tranh, khi Thu đã là cô giao liên hai mươi tuổi, gan dạ, thông minh, trong một chuyến công tác bác Ba mới nhận ra con của người đồng đội đã hi sinh và trao lại chiếc lược ngà cho Thu.
Đọc “Chiếc lược ngà”, người dửng dưng nhất cũng không thể dửng dưng trước cảnh cha con sống chung một nhà, cha chờ con gọi tiếng “ba” mà con thì nhất quyết không trò chuyện với “ người ta”. Nếu đó là một người dưng thực sự thì sự thờ ơ của Thu là không đáng trách. Nhưng điều trớ trêu là chúng ta cũng không thể trách Thu khi người ấy là cha ruột của em. Chiến tranh đã làm gương mặt cha có một vết sẹo khiến Thu không nhận ra. Vết sẹo ấy như một con dao cắt lìa tình cha con. Bằng chi tiết này, Nguyễn Quang Sáng muốn nhắc nhở chúng ta rằng chiến tranh không chỉ gây ra những hi sinh, thương tật cho con người mà còn gây ra những nỗi đau chia cắt không gì bù đắp được.
Thu không nhận ra ba, hất bỏ cái trứng cá mà ông Sáu gắp cho là một sự bướng bỉnh nhưng đáng yêu. Có yêu người cha trong tấm ảnh một cách sâu sắc, Thu mới khó chịu trước sự ân cần của một người mà từ trong lòng em nghĩ đó không phải là cha mình. Đâu phải ai cho ta cái gì, dù đó là cái quý giá, cũng có thể nhận là tình cảm thiêng liêng được khi mà lòng ta chưa cảm được sự gần gũi và thiêng liêng thực sự.
Được bà ngoại giải thích, hiểu được nguyên cớ của vết sẹo, lúc chia tay, Thu bất ngờ ôm chầm lấy ông Sáu, gọi tiếng “Ba” và nũng nịu “Ba mua cho con cây lược nghen ba”. Tiếng gọi thiêng liêng ấy cất lên từ sâu thẳm trong lòng đứa con bé bỏng. Tiếng gọi ấy làm xao động trái tim người đọc để một lần nữa chúng ta cảm thấy uất hận kẻ đã gây ra “vết sẹo tình thương” cho bao gia đình miền Nam thời chiến tranh chia cắt. Chiến tranh làm cho vợ xa chồng, con phải xa cha. Chiến tranh làm cho những tình cảm tự nhiên của con người phải nghẹn ngào, uất ức. Và khi nghe tiếng nói dịu ngọt mà nghẹn ngào của con, ông sáu đã khóc. Đó là giọt nước mắt hạnh phúc của người cha khi nhận được tình ruột thịt từ con. Đó là giọt nước mắt mang thông điệp hãy nâng niu và giữ gìn tình phụ tử.
Những ngày ở chiến khu, cưa từng răng lược cho con, ông Sáu tự xoa dịu nỗi nhớ con, ân hận vì đã đánh. Có thể hình dung từng chiếc răng lược được thành hình là khối yêu thương trong lòng ông Sáu lớn dần, niềm mong mỏi được gặp lại con cũng thiết tha hơn. Tuy chưa chải được mái tóc con bằng chiếc lược do chính tay mình làm nhưng ông Sáu cũng phần nào gỡ được những mối rối trong tình cha con của mình.
Quả thực, ông là một người cha chịu nhiều thiệt thòi nhưng vô cùng độ lượng và tận tụy vì tình yêu thương con. Nếu có phép màu, xin được một lần, Thu ơi, bạn hãy lặng yên ngả vào lòng cha, để cha sẽ chải mái tóc thanh xuân của bạn bằng chiếc lược ngà thấm đẫm yêu thương. Và mỗi độc giả nhạy cảm sẽ nhận ra rằng trong lòng đất Mẹ, có bao nhiêu chiếc lược ngà như thế, những chiếc lược yêu thương chưa từng một lần được chải lên mái tóc người yêu thương…
Nhưng trong câu chuyện này, trái tim người cha đã đưa lối chỉ đường để người đồng đội mang lược về cho con. Bên sông, một người dưng nói với một người dưng: “ba đi nghe con”, vậy mà nghe sao thiết tha và ấm áp. Vì rằng, con đã đi tiếp con đường cha đi dang dở, con đã được gặp người đồng đội của cha; tình cha con, tình đồng đội, tình đồng chí đã hòa vào tình yêu đất nước. Câu chuyện nhằm ca ngợi tình cha con thiêng liêng, thắm thiết và sâu nặng dù trong hoàn cảnh éo le. Đồng thời, câu chuyện cũng nhằm khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Câu chuyện còn nhằm lên án kẻ thù đã gây ra bao đau thương, mất mát cho bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình Việt Nam.
Qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, người đọc không chỉ cảm nhận tình yêu con tha thiết sâu nặng của người cha chiến sĩ mà còn thấm thía bao đau thương mất mát đối với những em bé, những gia đình. Tình cảm cha con sâu đậm, thắm thiết của cha con anh Sáu khẳng định rằng bom đạn của kẻ thù chỉ có thể hủy diệt được sự sống của con người, còn tình cảm của con người – tình phụ tử thiêng liêng thì không bom đạn nào có thể giết chết được.
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 4
Chúng ta đang sống trong một đất nước hoà bình, được sự dìu dắt, yêu thương của cha mẹ, được đùa vui dưới mái trường đầy ắp tiếng ca. Chúng ta có thể quên được chăng những trang sử hào hùng ấy, ngày các lớp cha anh đi trước đã hi sinh cả tính mạng. Máu của các anh đã nhuộm màu phì nhiêu cho đất nước, sự hi sinh tươi đẹp cho thế hệ chúng ta ngày hôm nay. Các anh đã hi sinh cả thể xác lẫn tinh thần, hi sinh cả những hạnh phúc mà lẽ ra các anh phải được hưởng.
Chiến tranh, vùng trời của tang thương và chết chóc. Trong mưa bom lửa đạn, trong chất cay xè của mùi thuốc súng, tình cảm cao đẹp nhất của tình đồng chí đồng đội trào dâng. Những bùi ngùi dấu tận đáy lòng của những người cha lên đường chiến đấu gửi lại quê hương đứa con thân yêu nhất của mình để rồi trong giờ phút hiếm hoi giữa cuộc hành quân nỗi nhớ con không còn dấu được. Tình cảm thiêng liêng ấy càng mãnh liệt hơn trong tác phẩm “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.
Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau năm 1945, tập kết ra Bắc Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mĩ, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng thuộc nhiều thể loại: Truyện ngắn có “Con chim vàng”, “Người quê hương”, “Chiếc lược ngà”, “Người đàn bà đức hạnh”, “Vẽ lại bức tranh xưa”…
Các tiểu thuyết “Đất lửa”, “Mùa gió chướng”, “Dòng sông thơ ấu” được nhiều độc giả biết đến và đặc biệt là kịch bản phim nổi tiếng “Một thời để nhớ một thời để yêu”. Có lẽ vì sinh ra, lớn lên và hoạt động chủ yếu ở chiến trường miền Nam nên các tác phẩm của ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình.”Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn viết về tình phụ tử sâu nặng của cha con ông Sáu sau chiến tranh. Đây là một truyện ngắn giản dị nhưng chứa đầy sức bất ngờ như ta thường thấy ở văn của Nguyễn Quang Sáng. Đoạn trích SGK đã cho thấy một khoảnh khắc nhỏ mà trong đó có sự cao cả thiêng liêng về tình phụ tử.
“Chiếc lược ngà ” được viết vào năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên. Nội dung văn bản trong SGK là cuộc gặp gỡ của anh Sáu – một người xa nhà đi kháng chiến. Mãi khi con gái lên tám tuổi, anh mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu – con gái anh không nhận cha , trái lại đã đối xử lạnh nhạt, có lúc vô lễ với cha. Điều đó làm anh Sáu đau lòng, nhưng anh vẫn yêu thương con bằng tình cha con ruột thịt. Sau vài ngày ngắn ngủi sum họp gia đình, anh Sáu phải ra đi. Đến lúc ấy Bé Thu bỗng thay đổi thái độ. Em ôm chặt lấy cha không muốn cha con phải xa nhau .Mọi người ngỡ ngàng sửng sốt. Thì ra mấy ngày trước do nhìn thấy trên mặt anh Sáu có vết sẹo lớn, bé Thu thấy anh không giống cha chụp chung ảnh với mẹ. Nhờ bà ngoại giảng giải, Thu đã hiểu ra mọi chuyện, em cất tiếng gọi “Ba…ba!..” và hẹn “Ba mua cho con một cây lược nghe!”. Ở khu căn cứ, anh Sáu dồn hết tình cảm yêu quí nhớ con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để mang về tặng cô con gái bé bỏng. Nhưng trong một cuộc chiến đấu anh đã ngã xuống. Trước lúc nhắm mắt anh còn kịp trao cây lược cho người bạn, gửi về tận tay cho con. Truyện được viết theo lời kể qua cái nhìn của ông Ba – nhân vật xưng tôi. Tuy đây là một đề tài khá phổ biến trong văn chương nhưng chính vì thế mà giá trị nhân văn của truyện càng trở nên sâu sắc.
Truyện xoay quanh một kỉ vật đơn sơ mà vô giá ấy là chiếc lược ngà. Nhưng suốt cả câu chuyện, suốt những quãng đời, suốt cả cuộc đời ấy chỉ có một tiếng kêu, một tiếng kêu bình dị và thiêng liêng bậc nhất cõi đời này: tiếng cha!. Câu chuyện “Chiếc lược ngà” đã kể lại thật cảm động về cuộc gặp gỡ và những tình cảm của cha con anh Sáu. Hình ảnh anh Sáu đã để lại trong lòng người đọc nỗi cảm thông, yêu mến và những ấn tượng sâu sắc.
Cũng như bao người khác anh Sáu đi theo tiếng gọi của quê hương đã lên đường chiến đấu, để lại người vợ và đứa con thân yêu. Sự xa cách càng làm dâng lên trong anh nỗi nhớ nhung tha thiết đứa con gái mà khi anh đi nó chưa đầy một tuổi. Nỗi nhớ ấy đã trở thành niềm khao khát, mơ ước cháy bỏng trong lòng anh. Chính vì vậy mỗi lần vợ lên thăm là một lần anh hỏi “Sao không cho con bé lên cùng ?”. Không gặp được con anh đành ngắm con qua ảnh vậy … Mặc dầu tấm ảnh đó đã rách nát, cũ kĩ lắm rồi, nhưng anh luôn giữ gìn nó vô cùng cẩn thận, coi nó như một báu vật. Còn đối với con gái Thu của anh thì sao? Từ nhỏ đến hồi tám tuổi nó chỉ được biết ba nó qua ảnh và qua lời kể của bà ngoại và má. Dù được sống trong tình yêu thương của mọi người nhưng có lẽ Thu cũng cảm thấy thiếu hụt một tình thương, sự che chở của người cha. Chắc bé Thu từng giờ từng phút trông chờ ba nó lắm nhỉ? Và tám năm trời là những năm tháng dài đằng đẵng ấy cũng làm tăng lên trong lòng hai cha con anh sáu nỗi nhớ nhung, mong chờ, anh Sáu ao ước gặp con, còn bé Thu ao ước gặp bố.
Thế rồi niềm ao ước ấy đã trở thành hiện thực. Anh Sáu được nghỉ phép. Ngày về thăm con, trên xuồng mà anh Sáu cứ nôn nao cả người. Anh đang nghĩ tới đứa con, nghĩ tới giây phút hai cha con gặp nhau như thế nào. Những điều ấy choáng hết tâm trí khiến anh không còn biết mình đang ngồi trên xuồng với người bạn. Khi xuồng vừa cập bến, anh Sáu đã nhón chân nhảy thót lên bờ. Người bạn đi cùng cũng rất hiểu anh nên không hề trách. Tôi không thể quên được giây phút vô cùng thiêng liêng và trọng đại của anh Sáu, là giây phút người cha mong chờ đứa con sẽ chạy tới ôm siết lấy mình, là bước trở về sau bao xa cách…
Hẳn vì quá xúc động nên lúc ấy anh Sáu đã có những cử chỉ mà ngay cả người bạn của anh cũng không ngờ tới “giọng anh tập bập run run”, anh dang hai tay chờ đón con và sải những bước dài đến gần con. Tưởng rằng con bé sẽ chạy tới nhào vào lòng anh nhưng không ngờ bỗng nó hét lên “má…má” và bỏ chạy. Tại sao Thu lại có những hành động như vậy ? Nó yêu ba nó lắm cơ mà ? Nó mong ba về từng ngày từng giờ. Vậy mà tất cả đều lật ngược với nó. Ba nó thật đây, sao nó không nhận ? Hành động của con bé khiến anh sững sờ. Bao yêu thương, mong chờ mà anh dồn nén bấy lâu dường như tan biến hết chỉ còn lại trong anh là nỗi đau khổ vô bờ.
Nỗi đau ấy còn dày vò anh trong suốt ba ngày ở nhà. Ba ngày ở nhà anh Sáu không đi đâu xa mà chỉ quanh quẩn ở nhà chơi với con. Anh muốn dùng lời nói, hành động của mình để bù đắp những mất mát về tình cảm cho con bé. Dường như anh muốn bằng những cử chỉ và lời nói yêu thương tràn đầy âu yếm, anh sẽ xoa dịu đi những nghi ngờ, xoá tan những lạnh lùng của con bé đối với anh. Anh muốn ôm con mà nói rằng: “Ba yêu con nhiều lắm Thu à!” và có lẽ chắc anh cũng mong đứa con gái của mình có thể chạy sà vào lòng mà rằng “Con cũng yêu bố nhiều lắm ạ!” thế nhưng không… những gì anh từng mơ ước, từng suy nghĩ, giờ chỉ như giấc mơ không thật bởi chính thái độ của Thu đối với ba nó. Khi mẹ bảo nó gọi bố vào ăn cơm thì con bé đã nói trổng: “Vô ăn cơm!”. Câu nói của con bé như đánh vào tâm can anh, nhưng anh vẫn ngồi im giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm.” Thế nhưng Thu vẫn bướng bỉnh không chịu gọi ba, đã vậy còn bực dọc nói mấy câu “Cơm chín rồi!” và “Con kêu rồi mà người ta không nghe”. Đến lúc này anh chỉ biết “nhìn con bé vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi.” Tôi thoáng nghĩ đến cảm xúc lúc này và những câu hỏi xoay quanh anh. Tại sao thế nhỉ? Thu làm vậy là sao? Ba nó sao nó không chịu nhận? Nhìn nó tôi như có cảm giác nó cự nự, quyết không chịu gọi ba. Thái độ này thật không đúng với tình cha con xa cách bấy lâu, hay con bé đang giận ba vẩn vơ gì đó chăng?
Cao trào của câu chuyện càng nâng cao khi nồi cơm sôi, một mình nó bé, không thể tự nhấc nồi để chắt nước, nó đã phải cầu cứu đến người lớn. Tình thế khiến người đọc ngỡ rằng nó sẽ phải thua không thể “chiến tranh lạnh” được nữa – nó buộc phải gọi ba để giúp đỡ. Nhưng nó vẫn không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong! Chỉ cần nói lên cái tiếng ba ấy thế thôi, là nó sẽ thoát khỏi thế bí. Nhưng quyết không! Nó vẫn hành động theo sự bướng bỉnh tự mình làm lấy một công việc nguy hiểm và quá sức! Nghĩa là nó không chịu nhượng bộ, không chịu thua cuộc. Điều ấy làm cho người cha, người bạn của cha và cả người đọc phải đau lòng. Còn gì đau khổ bằng người cha giàu lòng thương yêu con mà lại bị chính đứa con ấy chối bỏ!
Dường như sự lạnh lùng và bướng bỉnh của bé Thu đã làm tổn thương những tình cảm đang trào dâng tha thiết nhất trong lòng ông. Vì quá yêu thương con nên anh Sáu không cầm nổi cảm xúc của mình. Trong bữa cơm, cưng con, anh gắp cho nó cái trứng cá nhưng bất ngờ nó hất tung cái trứng ra khỏi chén cơm. Giận quá, anh đã vung tay đánh và quát nó. Có lẽ việc đánh con bé là nằm ngoài những mong muốn của ông. Tất cả cũng chỉ là do anh quá yêu thương con. Có thể coi việc bé Thu hất cái trứng ra khỏi chén như một ngòi nổ làm bùng lên những tình cảm mà lâu nay anh dồn nén và chất chứa trong lòng.
Nhưng khi ta hiểu ra thì lại thấy rằng : Chính cái hành động đáng ghét ấy lại vô cùng đáng quý. Chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm người con dành cho cha. Đơn giản vì lúc bấy giờ trong trí nhớ thơ ngây của Thu thì cha em đẹp lắm. Vì bom đạn quân thù, cha mang sẹo trên mặt. Đấy là điều đau khổ vậy mà nó không hiểu, lại xa lánh khiến cha đau khổ thêm. Cô bé không tin, thậm chí còn ngờ vực, điều đó chứng tỏ cô bé không dễ tin người. Cả bạn của cha, cả mẹ xác nhận là cha nhưng không ai tháo gỡ được thắc mắc thầm kín trong lòng mình thì cô bé vẫn chưa gọi. Nó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh, nhiễu sách mà đó là sự kiên định, quyết liệt của một người có lập trường. Đây chính là cái mầm sâu kín sau này làm nên tính cách cứng cỏi, ngoan cường của cô giao liên giải phóng. Đến khi được bà ngoại giảng giải về cái thẹo trên má ba, thì Thu mới vỡ lẽ đó thực là ba mình. Hình ảnh người cha thân yêu trên ảnh, người cha kính mến mà cô ghi sâu trong lòng, đến lúc ấy mới nhập vào người đang xưng ba có vết thẹo dài đây. Đã vỡ lẽ thì tình yêu ba nhân lên gấp bội nhưng … đã muộn rồi. Song đến giây phút cuối cùng, trước khi anh Sáu đi xa thì tình cảm thiêng liêng ấy bỗng cháy bùng lên. Lúc ra đi, chân anh ngập ngừng không muốn bước. Hẳn rằng anh Sáu muốn ôm con, hôn con nhưng sợ nó lại giẫy đạp và bỏ chạy nên anh chỉ đứng đấy nhìn nó với cặp mắt trìu mến xen lẫn buồn rầu.
Trong ánh mắt của anh, chất chứa bao yêu thương mà anh muốn trao gửi tới con. “Thôi ba đi nghe con”. Phải chi bé Thu hiểu được ánh mắt của ba nó, hiểu được tâm trạng của ba nó lúc này nhỉ? Rồi bỗng nó chạy đến kêu thất thanh Ba…a….a…ba!”. Tiếng kêu như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Tiếng kêu bật lên sau bao năm kìm nén, chờ đợi khắc khoải. Đó cũng là cái tiếng ba mà anh Sáu đã chờ đợi suốt tám năm trời xa con, đã chờ đợi suốt mấy ngày về bên con, ông đã tưởng chẳng thể còn được nghe thì bất ngờ nó thét lên. Nó vỡ ra còn lòng người đọc thì nghẹn lại. Người cha không cầm nổi nước mắt vì bất ngờ, vì sung sướng, vì thương yêu và vì cả sự éo le của tình cảm nữa. Cùng với cử chỉ “vừa kêu vừa chạy xô tới nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó, làn tóc tơ sau ót nó dựng đứng lên”. “Vừa ôm chặt lấy cổ ba, nó vừa nói trong tiếng khóc “Ba…ba…không cho ba đi nữa, ba ở nhà với con”. Nó ôm hôn anh Sáu và “hôn cả vết thẹo dài trên má của ba”, biểu hiện một tình yêu ruột thịt nồng nàn của đứa con đối với ba. Và khi nghe anh Sáu nói “Ba đi rồi ba về với con”, cô bé hét lên “không”, rồi hai tay siết chặt cổ, dang cả hai chân quặp chặt lấy ba, đôi vai nhỏ run run! Chắc cô bé khóc.
Phải chăng lúc ấy Thu thật sự thấy xót xa, ân hận về lỗi lầm của mình, thật sự thấy xót thương người cha đau khổ? Nó mếu máo “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba…”. Tất cả lời nói thể hiện rõ tính cách của một cô bé bồng bột thơ ngây và chứng tỏ lòng yêu thương vô bờ của em đối với ba. Thật sâu sắc và cao đẹp biết bao. Có lẽ lúc này bé Thu đã trở thành một người lớn thực sự. Tất cả sự dỗi hờn của bé Thu lúc này đều chuyển thành lòng yêu thương sâu sắc ba nó. Trong cái ương ngạnh, bướng bỉnh, trong cái giận dỗi và cả sự hối hận của Thu, ta vẫn thấy bé thật thơ ngây, thật đáng yêu. Về phần anh Sáu hạnh phúc đến với anh quá đột ngột khiến cổ anh nghẹn lại. Không kìm được xúc động, anh Sáu đã khóc. Giọt nước mắt của anh là giọt nước mắt của vui sướng, hạnh phúc. Và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con…Thế là con bé đã gọi anh bằng ba. Ai có thể ngờ được một người lính đã dày dạn nơi chiến trường và quen với cái chết cận kề lại là người vô cùng mềm yếu trong tình cảm cha con. Sau bao năm tháng mong chờ, đau khổ, anh Sáu đã được đón nhận một niềm vui vô bờ. Bây giờ anh có thể ra đi với một yên tâm lớn rằng ở quê nhà có một đứa con gái thân yêu luôn chờ đợi anh, từng giây từng phút mong anh quay về.
Tình cảm của anh Sáu dành cho bé thu trở nên mãnh liệt hơn, cao cả, thiêng liêng và cảm động hơn bao giờ hết là việc anh tự tay làm chiếc lược nhà cho con gái. “Ba về! Ba mua cho con một cái lược nghe ba!”, đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt. Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước đầu tiên và cũng là duy nhất cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng. Kiếm cho con cây lược trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng. Anh bật dậy như bỗng lóe lên một sáng kiến lớn: làm lược cho con bằng ngà voi. Có lẽ không đơn thuần vì ở rừng rú chiến khu, anh không thể mua được cây lược nên làm lược từ ngà voi là một cách khắc phục khó khăn. Mà cao hơn thế, sâu hơn thế, ngà voi là thứ quí hiếm – chiếc lược cho con của anh phải được làm bằng thứ quý giá ấy. Và anh không muốn mua, mà muốn tự tay mình làm ra. Anh sẽ đặt và trong đấy tất cả tình cha con của mình. Kiếm được ngà voi, mặt anh “hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta hoá thành con trẻ lại chính là lúc người ta đang hiện lên cái tư cách người cha cao quý của mình. Rồi anh “ngồi cưa từng chiếc răng lược, thận trọng tỉ mỉ và khổ công như người thợ bạc “, “gò lưng tẩn mẩn khắc từng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Anh thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời cho nên chiếc lược ngà đã kết tinh trong nó tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kỳ diệu làm sao!
Nhưng ngày ấy đã vĩnh viễn không bao giờ đến nữa. Anh không kịp đưa chiếc lược ngà đến tận tay cho con thì người cha ấy đã hi sinh trong một trận đánh lớn của giặc. Nhưng “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Không còn đủ sức trăn trối điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc “đưa tay vào túi, móc cây lược” đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cứ nhìn bạn hồi lâu. Nhưng đó là điều trăn trối không lời, nó rõ ràng là thiêng liêng hơn cả một lời di chúc, bởi đó là sự uỷ thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân, ước nguyện của tình phụ tử! Bắt đầu từ giây phút ấy, chiếc lược ngà của tình phụ tử đã biến người đồng đội thành một người cha – người cha thứ hai của cô bé Thu.
Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật cũng đã đành một lẽ còn người chết cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không thể đắp cao lên được, vì tìm thấy mồ mả bọn chúng sẽ đào lên và tìm ra dấu vết, cho nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy. Bác Ba bạn của anh đã lấy dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ. Sống như thế và chết như thế hỏi vậy làm sao mà chịu được. Chúng ta buộc phải cầm súng. Và bé Thu không còn là cô bé ngày xưa nữa mà là một cô giao liên thông minh, quả cảm. Thu đi theo con đường mà ba cô đã chọn. Thu đi để trả thù cho quê hương, cho cha mình đã bị bọn giặc giết hại.
Tuy anh Sáu đã hi sinh nhưng câu chuyện về hai cha con anh sẽ còn sống mãi. Hình ảnh chiếc lược ngà với dòng chữ sẽ mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, bi kịch của chiến tranh. Cảm ơn nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa rõ nét tâm hồn, tình cảm của anh Sáu và bé Thu. Truyện dẫn người đọc dõi theo số phận và lòng quả cảm, dõi theo tâm tình của cha con một người chiến sĩ diễn ra hàng chục năm trời đi qua hai cuộc chiến tranh. Người còn, người mất nhưng kỉ vật, gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại của chiếc lược ngà vẫn còn đây. Đây là minh chứng đối với chúng ta “cái mất mát lớn nhất mà thiên truyện ngắn đề cập đến là người đã khuất, là tổ ấm gia đình không còn tồn tại trọn vẹn trong thực tại. Đó là tội ác, là những đau thương, mất mát của chiến tranh xâm lược mà các thế hệ bạo tàn gây ra cho chúng ta. Song cái được mà chúng ta nhìn thấy là không có sự bi luỵ xảy ra, sức mạnh của lòng căm thù đã biến cô bé Thu trở thành một người chiến sĩ thông minh, dũng cảm, đã gắn bó cuộc đời con người có ít nhiều mất mát xich lại gần nhau để cùng đứng lên viết tiếp bản ca chiến thắng.
Gấp sách lại, chia tay với ông Ba, câu chuyện về “Chiếc lược ngà” với lời nói cuối cùng của ông – giọng trầm ấm khoan thai – cứ âm vang mãi trong bạn đọc chúng ta, như sự âm vang của một truyện cổ tích. Truyện cổ tích hiện đại đó đã thành công trong việc tạo tình huống truyện, miêu tả tâm lý, tình cảm nhân vật và giọng kể nhẹ nhàng, thấm thía truyền cảm. Ông Ba – người kể chuyện – hay chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng? Phải là người từng trải sống hết mình vì công cuộc kháng chiến của quê hương, gắn bó máu thịt với những con người quê hương giàu tình nghĩa, rất nhân hậu mà kiên cường, bất khuất, bất diệt, nhà văn mới nhập được vào các nhân vật, sáng tạo được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động, bất ngờ, có được giọng văn dung dị và cảm động như vậy. Đồng thời truyện đã làm sống lại quãng thời gian giữ nước để thông qua đó tác giả muốn người đọc phải suy nghĩ và thấm thía nỗi đau, sự mất mát mà chiến tranh mang đến. Tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu đã vượt qua bom đạn của chiến tranh để ngày càng thiêng liêng, ngời sáng và gắn bó chặt chẽ với tình yêu quê hương, đất nước.
Qua cuộc đời nhân vật, từ cô bé Thu đến ông Sáu, ông Ba, Nguyễn Quang Sáng như muốn nói rằng trong cuộc kháng chiến gian khổ chống ngoại xâm vừa qua của dân tộc ta, tình nghĩa con người Việt Nam, nhất là tình cha con, đồng đội, sự gắn bó thế hệ già với thế hệ trẻ, người chết và người sống… mãi mãi bất diệt. Như chiếc lược ngà ba tặng lại không bao giờ có thể mất, tình cha con của bé Thu cũng sẽ mãi mãi bất diệt!
Phân tích tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà – Mẫu 5
“Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn hay viết về đề tài tình phụ tử. Đọc tác phẩm, điều khiến người đọc cảm động nhất chính là tình cảm mà cha con ông Sáu và bé Thu dành cho nhau. Câu chuyện về tình cảm gia đình thiêng liêng, sâu sắc trong kháng chiến đã đọng lại trong lòng người những suy nghĩ những bài học bổ ích.
Tác phẩm ra đời năm 1966, lấy bối cảnh là cuộc kháng chiến chống Mĩ của đồng bào Nam Bộ. Chính trong hoàn cảnh bom rơi, đạn nổ, kẻ thù không chỉ chia lìa đất nước mà còn chia lìa từng gia đình ấy, tình cảm gia đình lại được thể hiện đậm nét, cảm động hơn bao giờ hết.
Ông Sáu khi đi kháng chiến có một đứa con gái đầu lòng chưa đầy một tuổi. Trong những năm tháng kháng chiến, vì cô bé còn nhỏ nên đi thăm chồng, vợ của ông không mang theo con. Bởi vậy, ông chỉ được nhìn con qua những tấm ảnh nhỏ mà thôi. Và giờ đây, khi trở về thì tình cha con ấy lại trỗi dậy trong lòng, ông cảm thấy nôn nao. Ngay lập tức, khi xuống thuyền, thấy một đứa bé chừng bảy, tám tuổi, tóc ngang vai thì ông Sáu biết ngay đó là con mình. Không chờ xuồng cập bến, ông đã nhún chân nhảy thót lên bờ, vội vàng bước những bước dài rồi kêu: “Thu! Con!”. Điều đó thể hiện một tình cảm của người cha một cách tự nhiên, quá xúc động. Dường như chính lúc này đây, trái tim của người cha tội nghiệp reo lên đầy sung sướng khi sau tám năm trời mới được nhìn thấy mặt con và dường như ông cũng mong sự đáp lại tình cảm của con. Nhưng con bé lại đầy ngơ ngác, lạ lùng, không biết đó là ai. Còn ông Sáu thì vẫn đầy xúc động miệng nói không thành lời, giọng lặp bập: “Ba đây con”! Lúc đó chính là lúc cái tình của người cha lên đến đỉnh điểm và không thể toát ra bằng lời vì ông đã quá xúc động. Việc bé Thu sợ hãi chạy ào đi như một gáo nước lạnh dội mạnh vào trái tim đang nóng bỏng của ông Sáu. Ông đứng sững lại đầy sững sờ, thảng thốt.
Những ngày sau đó, ông Sáu vẫn cố gắng để con nhận ra mình là cha. Cả ngày ông chẳng đi đâu xa, suốt ngày ở bên con, săn sóc, vỗ về con. Song càng vỗ về bao nhiêu con bé lại càng đẩy ông ra bấy nhiêu. Ông chỉ mong có một điều là được gọi mình một tiếng “ba”. Chỉ một tiếng “ba” mà thôi! Nhưng chẳng có điều gì khác ở con gái ông ngoài sự thờ ơ, lạnh lùng thậm chí thù ghét. Những hành động của ông Sáu giúp đỡ con hay vỗ về nó đều bị con bé phản ứng lại. Chỉ có tình cha sâu nặng mới giúp ông kiên trì vượt qua điều đó. Đến một bữa cơm, khi ông gắp cái trứng cá to, vàng bỏ vào bát nó thì bất thần con bé hất ra, cơm văng tung toé và không kịp suy nghĩ gì ông đã đánh một cái vào mông nó. Ông Sáu hẳn đã vô cùng ân hận vì giây phút nóng nảy đó của mình.
Trong ba ngày nghỉ ngắn ngủi, ông đã ở bên con nhưng con không nhận. Giờ đây ngày chia tay bà con làng xóm ông định mang theo nỗi buồn đó. Nhưng trong lúc không ai ngờ đến đó, một tiếng kêu đã xé lòng ông: “Ba… a…a… ba”. Tiếng “Ba” đó là sự dồn nén trong Thu tám năm nay và bây giờ nó vỡ tung ra từ ngay trong sâu thẳm đáy lòng con bé. Tiếng “Ba” với nó là điều khát khao hơn mọi đứa trẻ khác vì ngay từ nhỏ nó đã không có tình yêu thương của cha. Giờ đây tiếng “Ba” vang lên đầy tự nhiên, ngỡ ngàng trong giây phút cuối cha con chia tay. Và bây giờ nó muốn có ba, nó bật khóc vì hạnh phúc, nó hôn tóc, hôn cổ và hôn với vết thẹo dài trên má của ba nó nữa. Hoá ra, lí do nó không nhận ba là do vết thẹo oan nghiệt đó – vết thẹo do kẻ thù của gia đình đó, của đất nước đau thương này gây ra. Nhưng vừa nhận ra thì cũng là lúc phải chia tay. Sung sướng và có lẫn sự xúc động ông ôm con và tạm biệt nhưng con bé không muốn ba phải đi. Cho đến khi ông hứa mua cho nó một chiếc lược thì nó mới để cho ba nó đi.
Ở chiến trường tuy chiến tranh đầy ác liệt nhưng ông vẫn cố công làm bằng được chiếc lược ngà. Trong khi làm, ông Sáu cảm thấy vui như đứa trẻ nhận được quà. Ông cố gắng làm tỉ mỉ, thận trọng có công như người thợ bạc. Khi chiếc lược được làm xong ông cảm thấy sung sướng vì mình như đã thực hiện được phần nào lời hứa. Sau đó ông lại khắc trên sống lưng chiếc lược “Yêu nhớ tặng con, Thu của ba”. Hàng đêm nhớ con ông lại đem lược ra ngắm chải lên đầu cho lược thêm bóng, mượt… Trong giờ phút cuối cùng, tuy không đủ sức trăng trối, nhưng tình cha con vẫn sống và trỗi dậy trong con người ông. Ông đưa chiếc lược cho Ba – một người đồng đội thân thiết và nhìn Ba hồi lâu như trăng trối rằng: “Hãy đưa chiếc lược này đến cho Thu”. Cái nhìn đó có thể nói rằng đó là cái nhìn của sự nhờ cậy, tin cậy, gửi gắm cả tâm hồn ông qua đó. Tình cha con đầy thiêng liêng, cao quý trỗi dậy ngay cả khi con người ta đang đối mặt giữa sự sống và cái chết. Khi Ba nhận lời thì ông mới nhắm mắt. Sau này, bác Ba đã gặp Thu – giờ đây là cô gái giao liên dũng cảm và bác đã trao lại kỉ vật đó cho Thu.
Tình cảm ông Sáu dành cho con sâu nặng bao nhiêu, tình cảm Thu dành cho ba cũng nồng nàn bỏng cháy bấy nhiêu. Cô bé không nhận ba bởi cô hiểu nhầm về vết sẹo trên mặt ba. Bức ảnh cha cô mà cô khắc ghi bấy lâu trong tâm khảm không có vết thẹo trên mặt như ông Sáu – người cứ nhận mình là cha bé! Và vì thế, Thu càng phản đối quyết liệt con người ấy bao nhiêu càng thể hiện cô bé yêu ba mình bấy nhiêu. Cái tình yêu ấy thật sâu sắc: nó chỉ có một, không thể chia sẻ cho bất kì ai khác, ngay cả khi đó là người được tất cả mọi người thừa nhận là ba của nó, là người yêu thương và quan tâm đến nó rất chân thành.
Đến lượt mình, Thu cũng đáp lại tình cảm của ba một cách cảm động. Khi biết rằng ông Sáu là ba thật của mình, và vết sẹo trên mặt ông là do thằng Mĩ gây nên, buổi sáng cuối cùng trong những ngày phép của ba “Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.” Không hiểu con bé “nghĩ ngợi sâu xa” điều gì, chỉ biết rằng khi ông Sáu buồn rầu quay lại nhìn nó – không dám lại gần sợ nó lại bỏ chạy như lần trước – nói: “Ba đi nghe con” thì nó bất ngờ lao đến thét lên: Ba, a… a…ba!”. Rồi ôm chặt lấy ông nức nở “Con không cho ba đi”. Đến đây, người đọc mới vỡ lẽ ra rằng Thu thèm được gọi ba như thế nào. “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”. Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba bây giờ trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà. Song, trái ngược mà vẫn nhất quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát được có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi “ba” lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như xé kia cất lên ta thấy nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, thương yêu con vô hạn của người cha.
Sau này, thấu hiểu sâu sắc nguyên nhân gây ra vết thẹo trên mặt cha, Thu đã trở thành một nữ giao liên dũng cảm, can đảm. Cô quyết tâm tiếp bước con đường cha cô đã đi để đánh đuổi kẻ thù của gia đình, kẻ thù của dân tộc.
Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công khi xây dựng tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Đọc thiên truyện, người đọc hẳn đã có lần rơi lệ vì cảm động. Và còn vì thấy trong đó thấp thoáng đâu đây bóng dáng bản thân, của người cha thân yêu của mình nữa. Tình phụ tử đó chính là một trong những thứ tình cảm thiêng liêng nhất trong cõi đời này. Và bởi thế, đọc “Chiếc lược ngà” để ta trân trọng hơn những người thân yêu ruột thịt quanh mình, trân trọng hơn những tình cảm sâu sắc ta đang được nhận. Và hơn hết, đọc thiên truyện ngắn này, ta biết yêu thương, sẻ chia và sống xứng đáng với những đấng sinh thành của bản thân.
Không chỉ gợi những tình cảm trong sáng, cao quý, “Chiếc lược ngà” còn mang đến cho người đọc những bài học nhân sinh đầy nhân ái. Và vì thế, đây thực sự là một thiên truyện hay trong hành trang của những người Việt trẻ!
Phân tích tình cảm cao đẹp của ông Sáu với con trong Chiếc lược ngà
Tình cảm của ông Sáu với con thể hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà nhưng được biểu hiện tập trung, sâu sắc ở phần cuối truyện khi ông Sáu ở trong rừng, tại khu căn cứ.
Nỗi ân hận, day dứt cứ ám ảnh ông nhiều ngày vì ông đã nóng giận đánh con trong những ngày nghỉ phép.
Lời dặn dò của con gái: “Ba về! Ba mua cho con một cây lược ngà nghe ba” đã thôi thúc ông nghĩ đến việc làm một cây lược ngà cho con.
Khi kiếm được khúc ngà voi, ông mừng vô cùng, ông dành hết tâm trí, công sức vào làm một cây lược: “Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, “Tròn sống lưng lược có khắc một làng chữ nhỏ mà ông đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: Yêu nhớ tặng Thu, con của ba”. Chiếc lược ngà đã trở thành một báu vật đối với ông. Nó làm dịu đi nỗi ân hận day dứt. Nó chứa đựng bao tình cảm yêu mến, nhớ hương, mong đợi của người cha trong những ngày xa cách. Nhưng rồi tình cảnh đau thương lại đến với cha con ông Sáu. Ông Sáu hi sinh khi chưa kịp gặp lại con. Chiếc lược ngà chưa tới được tay bé Thu.
Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình yêu thương thắm thiết, sâu nặng muôn đời của cha con ông Sáu mà còn gợi cho ta nghĩ đến nỗi đau của chiến tranh. Chiến tranh gây đau thương mất mát cho biết bao con người, biết bao gia đình.
Phân tích tình cha con trong Chiếc lược ngà
Đại văn hào Andersen từng nói: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng chính cuộc sống vẽ nên.” Dù hiện thực đau khổ đến đâu, vẫn le lói những ánh sáng trong trẻo, ấm áp đong đầy. Đó là thứ ánh sáng diệu kỳ từ “hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người” mà các nhà văn luôn mải miết đi tìm. Và Nguyễn Quang Sáng là một người đi tìm miệt mài như thế. Giữa tháng ngày gian khổ, tối tăm nhất của kháng chiến chống Mỹ, ông vẫn thấy tia sáng xanh ngời từ tình cảm chân thành trong những người dân, người lính. Để rồi, tất cả đã được nhà văn soi chiếu vào tình cha con sâu nặng trong tác phẩm “Chiếc lược ngà”.
Nguyễn Quang Sáng là nhà văn trưởng thành gắn liền với cả hai cuộc kháng chiến, là một cây đại thụ của văn học cách mạng Việt Nam. Tác phẩm của ông như thâu tóm được cả hồn cốt Nam Bộ, có cái hơi thở đồng bằng, phù sa dòng sông, cái khoáng đạt giản đơn của người dân miền sông nước. Cùng với Cánh đồng hoang, Mùa gió chướng,… “Chiếc lược ngà” cũng nằm trong mạch nguồn ấy. Được viết năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt nhất, truyện ngắn tuy viết về chiến tranh nhưng lại tập trung làm nổi bật tình phụ tử thiêng liêng cao quý. Tựa như câu chuyện cổ tích thời hiện đại, tác phẩm đã làm rung động trái tim bạn đọc bao thế hệ bởi tình yêu thương con thắm thiết bất diệt của Ông Sáu, tình yêu ba sâu nặng đầy kiêu hãnh của bé Thu…..
Tựa như mặt nước ngọt lành và trong veo đến lạ, văn chương luôn phản chiếu nội tâm con người. Bởi thế mà lật giở từng trang sách “Chiếc lược ngà” ta như mở từng cánh cửa, từng bước khám phá tình yêu thương da diết, chân thành dành cho con sâu trong lòng một người cha, người lính.
Là một người con Nam Bộ, ông Sáu chẳng thể làm ngơ khi mảnh đất quê hương bị lũ mọi rợ giày xéo. Nghe tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, ông lên đường cùng dân tộc bước vào cuộc trường chinh. Hạnh phúc gia đình ông xếp lại ngăn nắp trong tim, ông đi kháng chiến khi đứa con gái đâu lòng còn chưa đầy một tuổi. Nỗi nhớ thương con, khao khát gặp con lúc nào cũng thường trực như con sóng cuộn trào nơi tấm lòng người ba ấy. Không giây phút nào ông nguôi nhớ đến con, tình yêu con trở thành động lực, sức mạnh tinh thần vô giá giúp ông thêm chắc tay súng diệt sạch bóng thù để sớm có ngày đoàn tụ.
Và ước muốn cháy bỏng của ông cuối cùng cũng đã thành sự thực. Sau tám năm xa cách ông có dịp về thăm nhà ba ngày. Trên đường trở về “cái tình người cha đã và cứ nôn nao trong dạ”. Thế nên thuyền vừa vào đến, thấy đứa trẻ trạc độ lên chín lên mười tóc ngắn ngang vai, mặc áo bông đỏ đang mải mê chơi nhà chòi dưới gốc xoài ông đã đoán biết đấy là con mình. Phải chăng đó là sức mạnh diệu kỳ của tình máu mủ? Phải chăng từng ngày nơi quân ngũ, người cha ấy đã luôn mường tượng dáng hình của con, hằng khát khao ôm ấp, vỗ về. Cho nên linh cảm ruột thịt đó mới chuẩn xác đến vậy. Nó bồn chồn xao động, nó da diết khôn nguôi, nó như những tế bào hồng cầu trong từng tơ máu, máu còn chảy, tim còn đập thì lòng người không thể nào nguôi ngoai. Và nó làm lý trí trở thành công cụ của con tim. Không thể chờ xuồng cập bến, ông nhón chân nhảy thót lên bờ vội vàng với những bước dài,vừa đi vừa kêu to “thu,con”! Những bước chân như chiếc bản lề cửa, tạm khép lại cuộc đời “người lính” để mở ra cơ hội làm trọn một “người cha” cho ông Sáu. Với ông, chờ đợi thêm một phút một giây nào nữa thôi, có lẽ cũng đủ bóp nghẹt trái tim. từ nôn nao tâm trạng ông Sáu đã chuyển sang nôn nóng. Có lẽ bởi: “Có hai điều không thể bỏ lỡ trong cuộc sống, đó là chuyến xe cuối cùng về nhà và người ta yêu thật lòng” (Nguyễn Nhật Ánh). Đây là lần trở về đầu tiên sau tám năm xa cách và cũng có thể là sau cuối của ông, là cơ hội hiếm hoi để ôm con vào lòng, sống trong tình cha con ấm áp mà ông chưa từng được hưởng. Vậy mà mọi chuyện diễn ra thật éo le. Trong khi ông vừa bước tới vừa dang tay đón chờ thì con bé lại ” giật mình tròn mắt nhìn” , cái nhìn vừa lạ lùng vừa ngơ ngác. Không ghìm nổi xúc động, vết thẹo trên má ông đỏ ửng lên, hai tay vẫn đưa về phía trước “ba đây con, ba đây con”. Người đọc cảm nhận trong giọng nói “lặp bặp run run” ấy, là cả tiếng lòng, cả tâm hồn người cha đang reo lên vì hạnh phúc. Một hạnh phúc vô bờ khi hội ngộ khiến người đàn ông từng vào sinh ra tử chợt nghẹn ngào khôn xiết, tưởng như tất cả là một giấc mơ và chỉ có thể cất tiếng “run run” , khẽ khàng để không thức dậy. Song, với một đứa trẻ chỉ mới tám tuổi, tất cả lại trở thành sự vồ vập thái quá, nôn nóng thái quá,đặc biệt khi vết thẹo trên má ông đỏ ửng lên,dần dật trông rất dễ sợ càng làm con bé nghi ngại. Nó mặt tái đi,vụt chạy , vừa chạy vừa kêu thét “má má”. Phản ứng sợ hãi của bé thu khiến ông Sáu đau đớn hụt hẫng. “Đau đớn khiến mặt anh sầm lại, hai tay buông thõng như bị gãy” ở đây nỗi đau tinh thần được cảm nhận bằng nỗi đau thể xác. Thì ra có một nỗi đau chẳng kém gì súng mìn đạn dược, thì ra sự quay lưng từ chính người thân yêu ruột thịt có thể kéo người ta từ bầu trời hạnh phúc, hi vọng xuống thung lũng đau thương như vậy. Đôi tay dang rộng để chào đón con nhưng nhận lại chỉ là một khoảng trống. Một khoảng trống vô hình mà lại trĩu nặng ngàn cân, làm cánh tay từng gánh vác bao đầu súng, tiêu diệt kẻ thù giờ đây mất hết sức lực và đôi chân từng vượt mọi hang sâu hốc đổ cheo leo chỉ có thể “đứng sững lại”. Phải chăng vì cả cõi lòng người cha ấy đã bị vùi trong thất vọng ập đến quá đỗi bất ngờ? Ngược lại với những mong đợi của ông, ngược lại với khung cảnh thường thấy của những cuộc đoàn viên, hành động bỏ chạy đi của bé Thu còn khiến người cha ấy tan vỡ hơn cả một cuộc chia ly.
Nhưng tình phụ tử sâu nặng nào dễ lụi tàn, ông Sáu vẫn kiên trì dùng tấm lòng chân thành của mình làm chất củi, đốt lên ngọn lửa yêu thương ấm áp để truyền đến,sưởi ấm cho con. Hai ngày ở nhà ông chả dám đi đâu xa chỉ quanh quẩn dỗ dành con. nhưng mọi cố gắng đều vô ích. Mặc kệ những lời nói cử chỉ vỗ về làm thân bé Thu vẫn một mực tỏ ra thờ ơ lạnh lùng. Ông càng xích lại con bé lại càng lùi xa, ông càng yêu thương con bé lại càng lảng tránh. Ông thèm ước được nghe một tiếng “ba” nhưng gọi ông vào ăn cơm con bé cũng nói cộc lốc, phải chắt nước nồi cơm đang sôi nó cũng nhất quyết ko chịu nhờ ông. Bao tiếng đạn nổ bom rơi khốc liệt, ám ảnh người chiến sĩ ấy gắng vượt qua chỉ mong ngày trở về đổi lấy tiếng “ba” từ đứa con thân yêu nhất. Nhưng giờ đây, con gọi cha là “người ta”, chẳng hơn chẳng kém gì người dưng nước lã! Cách cư xử ấy, thái độ ấy của bé Thu, hẳn là đã cứa sâu vào lòng ông Sáu , để lại vết xước lớn, nhức nhói hơn cả vết thẹo trên gương mặt. Khổ tâm hết sức, song ông chỉ biết lắc đầu khe khẽ cười. Quả thực: “Có lẽ vì khổ tâm đến mức không khóc được nên đành phải cười vậy thôi.” Tiếng cười nhưng lại mang thanh âm tiếng khóc, lại là giọt nước mắt dồn nén, theo đường chảy ngược vào trong. Phải chăng đúng như Nguyễn Ngọc Tư từng chiêm nghiệm: “ Nước mắt chảy từ con mắt là thứ thường thôi, có thứ nước mắt không chảy ra kiểu như vậy.” Đó mới là đau đớn tận cùng, gắng gượng dùng nụ cười trên môi che đậy vết nứt trong lòng. cũng từng vì thương con mà Lão Hạc “cười như mếu”, bà cụ Tứ qua ngòi bút Kim Lân cố “tươi cười, đon đả”, không dám để con nhìn thấy bà khóc”. Nhưng khi khổ tâm chất chồng, cuối cùng sẽ đến lúc không thể kìm nén nổi. Trong bữa cơm trưa, có miếng trứng cá ngon, ông Sáu gắp vào bát Thu nhưng con bé lại hất miếng trứng cá đi,như hắt hủi một cách phũ phàng nhất tình cảm của cha. giọt nước tràn ly, vào phút giây tức giận ông vung tay đánh con một cái. Nhưng đó đâu phải hành động bạo lực đáng lên án như người cha vũ phu, đánh con mình trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, người cha “dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát…” Bởi trong lời trách mắng: “Sao mày cứng đầu quá vậy hả” ta còn thấy xen lẫn trong cảm xúc tức giận không sao kìm nén đc là băn khoăn, thất vọng, đau khổ rồi lực bất tòng tâm. Tất cả hiển hiện, sưng tấy trên trang viết, tất cả xé toạc thành vết thương không thể khép miệng trong lòng người cha rất mực thương con nhưng lại bị con kiên quyết chối từ. Ngọn lửa yêu thương mỗi lần bền bỉ thắp sáng lên lần nữa lại tiếp tục bị dòng nước băng giá một mực vùi lấp. Cô bé nào hiểu cho những nỗi niềm giấu kín đang dồn nén trong lòng cha,những nỗi niềm đang bắt buộc phải được trút xuống, được thoát ra. Lúc này, Thu vẫn tỏ ra lì lợm “ngồi im, đầu cúi gằm” sau đó lặng lẽ đứng dậy đi ra xuồng chèo một mạch sang nhà bà ngoại. Tác giả không miêu tả tâm trạng của ông Sáu trước hành động quyết liệt cuối cùng này nhưng chính khoảng lặng đó cũng đủ lắng sâu vào lòng độc giả, đọng lại một nỗi lòng khắc khoải vì con. Yêu chiều không được, cứng rắn cũng không xong, ông Sáu phải làm sao đây? Người cha, người lính trên trang viết Nguyễn Quang Sáng tìm mọi cách làm đủ mọi điều để có được tình cảm từ con, đối lập với bậc sinh thành của chị em Điền trong “ Cánh đồng bất tận” – 1 người cha đối với con “ơ thờ, lạt lẽo, chuyện gì cần nói thì nói vài câu nhát gừng”, 1 người cha “ giống như đồ vật bằng gốm vừa qua cơn lửa lớn, vẫn hình dáng ấy nhưng đã rạn nứt, nên chúng tôi chỉ dám đứng xa mà nhìn, mủ mỉ nâng niu, nếu không thì vỡ mất.”
Đến lúc chia tay, tình phụ tử không chỉ là khoảng lặng nữa, mà thể hiện bằng một nốt giáng trầm hơn qua “đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu” ông sáu nhìn con.Ông muốn mà không dám đến ôm Thu, sợ nó giãy lên bỏ chạy nên chỉ dám nhờ ánh nhìn bộc bạch hộ tâm tư. Đôi mắt như mặt hồ, yên ả, dịu dàng ăm ắp tình thương cho con; nhưng cũng mang nỗi buồn ko ngớt tựa những gợn sóng lăn tăn cứ nối tiếp nhau trải mãi. Ba ngày quý giá sắp trôi qua mất rồi, chưa kịp nghe tiếng ba, đã phải trở lại cùng tiếng súng… Trước lúc lên đường ông chỉ chào nhỏ với giọng buồn buồn ” thôi ba đi nghe con”.ai cũng nghĩ Thu chỉ đứng nhìn như thế,nhưng bất ngờ nó lại kêu lên một tiếng “ba” tức tưởi, vỡ òa. Ông Sáu trong giây phút sững sờ một lần nữa không ghìm nổi xúc động . Người đàn ông bao phen xông pha trận mạc ấy tay ôm con, tay lau nước mắt. Đến đây ta mới thực sự hiểu vì sao giọt nước mắt là “giọt châu của loài người”, là miếng kính biến hình của vũ trụ” (Nam Cao). Giọt nước mắt của ông Sáu rơi xuống, đã ngân vang sự bất ngờ đang reo lên thánh thót, đã lấp lánh niềm hạnh phúc vô bờ của một người cha lần đầu được nghe con gọi ba sau bao nhiêu mong mỏi. Giọt nước mắt đã gột rửa đi mọi buồn khổ để nhường chỗ cho một niềm vui tươi sáng. Nhưng thực cảnh miền Nam thân yêu bấy giờ vẫn còn rất tối tăm. đây cũng có thể là giây phút cuối cùng cha con đc ở cạnh nhau. Vì vậy trong giọt lệ ấy vẫn có cả nỗi nghẹn ngào, tiếc nuối. Và ông Sáu vẫn phải tạm biệt con, lên đường đánh giặc.
Hành trang quan trọng nhất người cha ấy mang tới chiến trường có lẽ là tình phụ tử sâu sắc, là nỗi ân hận vì lỡ đánh con,là lời dặn của con ” ba về ba mua cho con cây lược nghe ba”. Ông quyết định tự làm 1 chiếc lược ngà tặng Thu. Kiếm đc khúc ngà, ông ” hớn hở như một đứa trẻ đc quà ” rồi ” ngồi cưa từng chiếc răng lược tỉ mỉ và cố công như một người thợ bạc”, ” gò lưng tỉ mẩn khắc từng chữ yêu nhớ tặng Thu con của ba” . Tình yêu con đã biến người chiến sĩ ấy trở thành một nghệ nhân – người nghệ nhân chỉ làm một tác phẩm duy nhất trong đời. Tình yêu là con trở thành nét hoa tay đặc biệt nhất để người lính vốn quen với súng đạn, khói bom đã khéo léo hơn bội phần. Lời nói yêu, nhớ Thu nào chỉ khắc lên chiếc lược, mà vốn còn khắc sâu vào lòng ông Sáu từ lâu. Chỉ cần khoảnh khắc con gọi “ba” , với vòng tay ôm và cái hôn thắm thiết đã đủ trở thành động lực lớn lao nhất để người cha ấy cầm súng chiến đấu. Đúng như Haruki Murakami từng nói:”Hạnh phúc luôn ngắn ngủi, nhưng trong những ngày tháng mệt mỏi của cuộc đời , chỉ cần nhớ về một khoảnh khắc hạnh phúc đã từng có, người ta lại có can đảm để sống.” (Ký ức được đánh số). Mỗi đêm nhớ con ông lại mang cây lược ra ngắm rồi mài lên tóc mình cho thêm bóng. Chiếc lược chưa chải được mái tóc Thu lần nào nhưng đã gỡ rối được một phần những tâm trạng ngổn ngang của ông. Nó trở thành cầu nối giữa cha con ông, thay cho lời xin lỗi lúc ông đánh con. Chiếc lược ấy là kết tinh của tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kì diệu thiêng liêng. Cũng kết đọng cả tấm lòng người cha dành cho con là những bức thư tay nhân vật bố của cậu bé Enricô trong “Những tấm lòng cao cả” viết gửi con mình. Bao nhắn nhủ chân thành về lẽ sống, cách làm người, bao yêu thương bày tỏ nơi câu chữ: “Bố rất yêu con, con ạ.” Nhưng nếu Enrico nhận được thư từ cha đều đặn mỗi tháng 1 lần thì bé Thu không được may mắn như vậy.
Ông Sáu ao ước đến ngày gặp lại con, trao cho con cây lược nhưng lại ngã xuống trong một trận càn của giặc. Không còn đủ sức trăn trối điều gì, ông thu tất cả tàn lực lấy cây lược trong túi đưa cho ông Ba và nhìn ông Ba hồi lâu. Ánh nhìn ấy trước lúc hi sinh còn thiêng liêng hơn cả những lời di chúc bởi đó là một sự ủy thác , là ước nguyện cuối cùng của ông, ước nguyện của tình phụ tử. Nếu Voltaire từng quan niệm: “chân lý cuối cùng trên cõi đời này vẫn chỉ là yêu. yêu là sống và còn sống là còn yêu” thì tình phụ tử giữa ông Sáu và bé Thu dường như đã vượt qua giới hạn của thế gian, đời người : “chỉ có tình cha con là kh thể chết đc”. Chiến tranh có thể lấy đi tất cả nhưng không thể giết chết được tình cha con trong trái tim người chiến sĩ bộ đội cụ hồ ấy.
Nếu ví tình cha của ông Sáu như ánh nắng trưa hè rực rỡ, chói ngời tâm trí độc giả thì tình cảm Thu dành cho cha sẽ là ánh nắng ban mai.ban đầu phải để ý kĩ mới thấy lấp ló qua tán lá, và đúng lúc vầng dương lên hẳn, ta mới bất ngờ, ấn tượng vì sức tỏa sáng khắp không gian của nó. Thu sinh ra trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Ông Sáu phải rời nhà đi kháng chiến từ lúc em chưa đầy một tuổi. Lớn lên mà chưa 1 lần đc cảm nhận hơi ấm của tình cha, em chỉ có thể nhìn ba qua tấm ảnh chụp chung với má. Thương nhớ bao nhiêu em cũng chỉ biết mang tấm hình ra ngắm. Hình ảnh cha đẹp đẽ hiền từ luôn in sâu trong tâm trí Thu, dù mới chỉ nhìn qua khung ảnh nhỏ ấy. Tận sâu trái tim cô bé ấy là khao khát cháy bỏng được gặp ba. Sau tám năm xa cách mới được gặp ba lần đầu- người cha bằng xương bằng thịt vậy mà em lại không nhận ra. Với 1 đứa trẻ chưa đầy mười tuổi, một người đàn ông lạ tiến đến đường đột và vồ vập quá mức, ngay lập tức gọi mình là ‘con’ xưng ‘ba’, phản ứng của Thu “giật mình tròn mắt nhìn”, rồi sợ hãi chạy vụt đi cũng dễ hiểu. Đặc biệt khi hình ảnh ba trong tâm trí em vô cùng hiền hậu đẹp đẽ, không hề mang vết thẹo dài trên mặt, lại đỏ ửng, dần dật dễ sợ như vậy.
Yêu cha hết mực nên dù thiếu thốn, khao khát tình cha nhưng em vẫn cự tuyệt mọi dỗ dành. Với em đó là ng đàn ông lạ, không phải ba, em đã tin là như vậy thì không vì đòn roi đe nạt hay lời ngon tiếng ngọt mà thay đổi. Em tìm mọi cách để chối từ ông Sáu: luôn nói trổng hoặc gọi ông là “người ta”. Thử thách lớn nhất là khi phải chắt nước ra khỏi nồi cơm to đang sôi, nó “nhăn nhó”, “luýnh quýnh”, “loay hoay”, tâm lý bối rối của một đứa trẻ tám tuổi hiện lên mồn một. Một là phải chịu khuất phục và gọi ông Sáu là “ba” để được giúp đỡ, hai là nó phải tìm cách làm một mình, sẽ rất khó khăn và nguy hiểm. Chao ôi, trên đời làm gì có ai thích chọn những thứ trắc trở hơn những thứ đơn giản, dễ dàng, trừ khi họ có thứ quý giá hơn cần phải bảo vệ, không thể đánh đổi. Và với bé Thu, một cô bé mới tám tuổi, tiếng “ba” nó cất giữ trân trọng ấy là điều đắt giá nó không thể tùy tiện gọi một người lạ chỉ đột nhiên xuất hiện trong đời nó. Vì yêu, vì kính trọng nên càng không thể đem ra để đổi lấy sự giúp đỡ. Nó phải giữ gìn tiếng gọi thiêng liêng ấy cho người ba thực sự mà nó được biết tới. Dù sẽ nguy hiểm, sẽ khó khăn, nó vẫn dùng cái vá để múc từng vá nước ra ngoài. Sự kiên quyết, thông minh của nó cũng khiến bác Ba, ông Sáu và cả người đọc đôi phần ngỡ ngàng. Không chỉ không muốn trao cho ông Sáu tiếng gọi “ba” mà nó còn một mực cứng rắn, không tiếp nhận tình cảm ông dành cho nó. Trong bữa cơm có miếng trứng cá ngon, ông Sáu lựa ra gắp vài bát Thu thế mà em lại hắt ra, cơm văng tung tóe khắp mâm. rồi vừa bị đánh vừa bị mắng nhưng con bé ko hề tỏ ra hối hận thậm chí còn lì lợm, lặng lẽ gắp miếng trứng vào bát rồi bỏ ra xuồng, còn cố ý khua dậy cột rổn rảng như khiêu khích. phản ứng có phần thái quá ấy như thách thức giới hạn của ông Sáu – người vốn vì thương con nên đã rất bao dung, nhẫn nại và cả người đọc. Nhưng như Nguyên Ngọc từng nói: “ nếu đọc bằng mắt thì chỉ thấy được hình dáng bên ngoài, đọc bằng tâm thì mới thấy được da thịt, đọc bằng hồn thì thấy được cốt tủy”, khi đọc hết tác phẩm và thực sự đặt mình vào vị trí của một cô bé tám tuổi, ta mới hiểu và cảm thông với những gì Thu hành xử. Cách biểu hiện tình cảm và bảo vệ hình tượng người cha trong lòng của em chỉ thật bộc trực, thậm chí là hồn nhiên đến mức đáng giận. Đối với cô bé, sự xuất hiện của ông Sáu như đang đe dọa đến hình tượng của người ba trong bức ảnh mà nó vẫn luôn ấp ủ trong lòng bấy lâu, một đứa trẻ tám tuổi sao có thể kịp thích nghi với những thay đổi bất thường lớn như thế trong cuộc đời chúng? Càng giữ khoảng cách với ông Sáu tức là càng giữ được nguyên vẹn hình ảnh người cha trong tâm trí nó, và đó cũng là cách duy nhất. Sự cương quyết, dữ dội kia thực chất chỉ là hình hài khác của một tình yêu cha vô cùng mãnh liệt, nào phải là thói xấu của một cô bé đỏng đảnh nhiều sách nhiễu, mà đó là sự kiên định, quyết liệt của một người có lập trường mạnh mẽ và yêu ba hết mực.
Nguyễn Quang Sáng đã làm rõ điều đó ở liền sau tác phẩm, rằng Thu thực sự là cây xương rồng bé nhỏ khoác lên lớp vỏ xù xì, gai góc nhưng trong lòng luôn dào dạt mạch nguồn yêu thương với cha. Khi được bà ngoại giải thích về lai lịch của vết sẹo trên má ông Sáu, em mới vỡ lẽ ông thực sự là bậc sinh thành đáng kính của mình. Lời của bà về chuyện ba nó đi đánh Tây bị Tây bắn bị thương,về
tội ác mấy thằng Tây ở đồn đầu vàm đủ tỏ tường tất cả, cũng giống như lời ông Kamaji làm cô bé Chihiro chợt hiểu: “Có 1 thứ mà cháu khó có thể nhận ra. Đó là tình yêu” (phim Vùng đất linh hồn). Tình yêu thiêng liêng từ người cha ruột thịt đã bị vết thẹo dần dật dễ sợ che dấu mất trong hai ngày qua,khiến Thu nhận nhầm đó là sự dỗ dành từ 1 ai đó xa lạ . Ròng rã tám năm, không đủ để đứa con quên đi hình ảnh người cha, nhưng đủ để chiến tranh tàn phá hình dáng một con người. Tâm trí non nớt của em có lẽ chẳng thể tưởng tượng nổi nơi chiến trường có thể khắc lên con người ta những vết thương đau đớn đến thế. Vậy nên khi vỡ lẽ ra tất cả, ” Nó nằm im lăn lộn thở dài như ng lớn”. Thu lúc này có sự khác biệt với những Thiều, những Tường, những Mận rất đỗi vô tư trên trang sách Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh: “trẻ con thì ko biết cách nuôi nấng nỗi buồn dài lâu như người lớn.” Là tình yêu cha đang lớn thêm gấp bội cũng khiến cho tâm hồn em thêm trưởng thành? Để rồi theo tiếng thở dài là hình ảnh mình cư xử lạnh lùng với ba ùa về, như cơn sóng cứ cuộn trào không yên trong tâm trí Thu. Ở ngoài mặt trận cha đã chịu bao đau đớn vậy mà trong mấy ngày nghỉ phép, vì em, ông lại buồn lòng nhiều hơn. Ân hận, rồi tiếc nuối do thời gian ở bên cha không còn bao lâu nữa. Chiến tranh chưa biết bao giờ kết thúc, ngày mai cha đi rồi, biết khi nào mới trở lại để em được sống trong tình phụ tử ấm áp, được chuộc lại lỗi lầm hôm nay?
Buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu lên đường, thái độ của Thu thay đổi đột ngột và cảm động. Nguyễn Quang Sáng đã bắt trọn những chuyển biến ấy và miêu tả nó một cách tinh tế. Bởi những phản ứng quyết liệt trước đây mà giờ đây nó ngại ngần, xấu hổ, chỉ dám đứng tựa cửa nhìn mọi người vây xung quanh ba. Vẻ mặt có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa,” mà sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ.Những trầm tư vương trên nét mặt rồi đọng lại sâu lắng nhất vào đôi mắt: “đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.” Nơi cửa sổ tâm hồn ấy của Thu không còn đóng chặt lại với sự kinh ngạc đến e sợ như lần đầu gặp ông sáu, mà đã rộng mở để thấy bầu trời yêu thương từ cha vời vợi nhường nào và hành động của mình đáng trách đến bao nhiêu. Để rồi biết đăm chiêu hơn, “nghĩ ngợi sâu xa”. Phải chăng Thu đang suy nghĩ, xin lỗi cha như thế nào đây, rồi làm sao để bồi đắp những yêu thương đã lỡ ? Nhưng em đã quên mất đâu có cách nào ngăn thời gian ngừng lại cho mình hoài suy tính,đã đến lúc chia tay. Lời chào của ông sáu cất lên khe khẽ mà như làm chấn động cả mảnh hồn bé nhỏ, “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”. Quả thực Nguyễn Quang Sáng cũng có chung quan điểm sáng tác như Maiacopxki: “Phải tốn cả nghìn cân quặng chữ chỉ để thu về một chữ mà thôi”. Từ “xôn xao” thật đắc địa, vốn là từ tượng thanh nay được nhà văn tinh tế dùng để miêu tả khoảng không gian bất tận trong đôi mắt của Thu. Nó bao la, bâng khuâng và lẻ loi kỳ lạ so với một đứa trẻ mới chỉ tám tuổi. Có lẽ đó là nỗi niềm tích tụ trong tám năm thiếu vắng hình bóng người cha, là nỗi sợ thêm một lần chia ly mà mình con bé không tài nào che giấu nổi nữa. Thế nên nó vỡ òa. Tiếng gọi “ba” xé toạc thinh không, xé toạc cả những ngăn cách ngại ngùng, xấu hổ mà con bé ngần ngừ trước đó. Tiếng gọi ấy tưởng chừng rất quen thuộc, gần gũi, có khi là lời nói đầu tiên của con người trong cuộc đời. Vậy nhưng với bé Thu nó lại là âm thanh đã phải dồn nén bao lâu nay, chứa chan biết bao nhớ nhung mong đợi.Nhưng cũng chính vì thế mà tiếng gọi ấy trở nên thiêng liêng và đong đầy cảm xúc hơn bao giờ hết. “Nó nhanh như một con sóc chạy tót lên và dang 2 tay ôm cổ ba nó. Nó vừa ôm vừa nói trong tiếng khóc. Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!” Đọc đến đây , ta nhớ đến cảnh gặp lại đầy xúc động của bé Hồng với mẹ trên trang viết “Trong lòng mẹ”, khi cậu bé cũng “òa lên khóc rồi cứ thế nức nở.” Có lẽ, với những đứa trẻ thiếu thốn tình cảm từ cha, hoặc mẹ, giây phút đoàn tụ thật sự là “một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc.” (Nguyên Hồng). Bởi thế nên bé Thu vội vã hôn ba nó: “hôn tóc, hôn vai, hôn cả lên vết thẹo dài”. Vết thẹo từng là thứ chia cắt cha con , giờ lại là thứ nó tự hào nhất, thứ hiện thân cho sự dũng cảm và can trường của cha nó, như một huy chương cho tấm lòng nhiệt thành đã xả thân vì tổ quốc mà nó sẽ trân trọng, kiêu hãnh hết đời này. Con bé vồ vập như vậy vì muốn được cảm nhận tình cảm của cha cho bằng hết trước khi ông Sáu lại phải đi xa. Cách bộc lộ tình cảm có phần tham lam này đã thể hiện rõ tấm lòng muốn bù đắp lại sự lạnh nhạt trong những ngày qua, và còn xuất phát từ nỗi sợ rằng sẽ còn rất lâu nữa, thậm chí ko bao giờ em được gặp ông Sáu lần thứ hai. Tình yêu Thu dành cho ba qua cách thể hiện ngây ngô, vụng về lại càng đáng quý, xúc động hơn. Và nhờ đó ta hiểu vì sao Colleen Oakland trong tác phẩm “Mạnh hơn cái chết” đã nói: “Tình yêu vốn xộc xệch. Nó không đến với chúng ta trong một chiếc hộp gói nơ hoàn hảo. Nó giống như món quà của một đứa bé, với những nét sáp màu nguệch ngoạc và móp méo. Không hoàn hảo. Nhưng vẫn cứ là một món quà.”
Trong cuốn sách “Yêu những gì không hoàn hảo”, Đại đức Haemin từng viết: “Con người ta chính là lò sưởi. Nhờ có nhau mà chúng ta có thể sưởi ấm cả thể xác lẫn tâm hồn.” Có lẽ vì vậy mà đọc những câu văn mộc mạc trên trang sách Chiếc lược ngà mà sao ta cứ cảm thấy có gì đó thật ấm áp trong lòng. Tình cha con giữa bé Thu và ông Sáu đã đốt lên một ngọn lửa nồng ấm, xua tan bao giá lạnh của thời chiến tranh khắc khổ. Và chất củi nhen lên ánh sáng yêu thương ấy chính là nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, đặc biệt là tâm lý của nhân vật trẻ em rất tinh tế; một tình huống hết sức chặt chẽ, hấp dẫn xoay quanh những tình huống bất ngờ nhưng tự nhiên và hợp lý; cách kể chuyện của tự nhiên và ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ. Tài năng của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, tình phụ tử thiêng liêng giữa ông Sáu và bé Thu bởi thế sẽ sáng mãi trên bầu trời văn học và trong trái tim độc giả muôn đời.

Back to top button