Văn mẫu lớp 10: Phân tích 16 câu đầu bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Phân tích 16 câu đầu bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ gồm 2 dàn ý chi tiết kèm theo 7 bài văn mẫu hay, được đánh giá cao. Qua 7 bài phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu giúp các bạn lớp 10 có nhiều ý tưởng tham khảo, biết cách chọn lọc để tránh tình trạng trùng lặp ý, thiếu ý, lạc đề hoặc triển khai ý không cân xứng.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu giúp chúng ta hiểu rõ nét hơn những nỗi cô đơn của người phụ nữ trong xã hội cũ khi có chồng đi chinh chiến. Nó là nỗi cô đơn da diết kéo dài theo không gian thời gian. Từ đó cho thấy hậu quả của chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Vậy sau đây là 7 bài văn mẫu phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu, mời các bạn cùng đón đọc nhé.

Dàn ý Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu

1. Mở bài 

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích

  • Đặng Trần Côn (không rõ năm sinh năm mất) quê ở làng Nhân Mục, Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội, sống vào thời Lê Trung Hưng.
  • Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là tác phẩm viết bằng chữ Hán gây tiếng vang lớn trong giới nho sĩ đương thời với nhiều bản dịch và phỏng dịch Nôm khác nhau (Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khản, Phan Huy Ích, Bạch Liên Am Nguyễn). Bản hiện hành là bản dịch thành công nhất.
  • Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (từ câu 193 đến 216) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

– Giới thiệu khái quát 16 câu thơ đầu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

a. Hành động lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, vô vị

– “Thầm reo từng bước”: Bước chân lặng lẽ dạo trên hiên vắng.

– “Rủ thác đòi phen”: Vào trong phòng cuốn rèm, buông rèm

→ Hành động lặp lại đi lặp lại một cách vô thức, thể hiện sự bần thần, bất định của người chinh phụ

– Chữ “vắng, thưa”: Không chỉ gợi sự vắng lặng của không gian mà còn cho thấy nỗi trống vắng trong lòng người người chinh phụ

b. Thao thức ngóng trông tin chồng

– Ban ngày:

  • Người chinh phụ gửi niềm hi vọng vào tiếng chim thước – loài chim khách báo tin lành.
  • Nhưng thực tế “thước chẳng mách tin”: Tin tức chồng vẫn bặt vô âm tín.

– Ban đêm:

  • Người chinh phụ thao thức cùng ngọn đèn hi vọng đèn biết tin tức về chồng, san sẻ nỗi lòng cùng nàng.
  • Thực tế: “Đèn chẳng biết” “lòng thiếp riêng bi thiết” Câu thơ có hình thức đặc biệt khẳng định rồi lại phủ định, ngọn đèn có biết cũng như không vì nó chỉ là vật vô tri không thể san sẻ nỗi lòng cùng người chinh phụ.
  • So sánh với bài ca dao “khăn thương nhớ ai”, bài ca dao cũng có xuất hiện hình ảnh ngọn đèn. Nếu “đèn” trong bài ca dao là tri âm tri kỉ với người phụ nữ thì ở đây ngọn “đèn” lay lắt lại cứa sâu thêm nỗi đau trong lòng người.

– Hình ảnh so sánh “hoa đèn” và “bóng người”.

  • “Hoa đèn” dầu bấc ngọn đèn, thực tế là than. Cũng giống như ngọn đèn cháy hết mình để rồi chỉ con hoa đèn tàn lụi, người phụ nữ đau đáu hết lòng chờ chồng nhưng cuối cùng nhận lại sự cô đơn, trống trải.
  • Liên hệ với nỗi cô đơn của Thúy Kiều sau khi từ biệt Thúc Sinh trở về với chiếc bóng năm canh:

c. Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về ngoại cảnh.

– “Gà gáy”, “sương”, “hòe”: Là những hình ảnh gắn với cuộc sống thôn quê bình dị, yên ả

– Từ láy “eo óc, phất phơ”: Cực tả vẻ hoang vu, ớn lạnh đến ghê rợn của cảnh vật.

→ Dưới con mắt trống trải cô đơn cả người chinh phụ, những cảnh vật vốn gắn với cuộc sống yên bình, êm ả nay trở nên khác thường, hoang vu, ớn lạnh. Đó là cách nói tả cảnh để ngụ tình.

d. Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về thời gian.

– “Khắc giờ đằng đẵng”, “mối sầu dằng dặc”: Thể hiện sự dàn trải của nỗi nhớ miên man không dứt.

– Biện pháp so sánh kết hợp với các từ láy giàu giá trị gợi hình gợi cảm “dằng dặc, đằng đẵng” cho thấy sự cảm nhận khác thường về thời gian, mỗi phút mỗi giờ ngắn ngủi trôi qua mà nặng nề như một năm dài, thời gian càng dài mối sầu càng nặng nề hơn.

→ Câu thơ cực tả nỗi cô đơn tột cùng tột độ trong lòng người chinh phụ

e. Hoạt động gắng gượng duy trì nếp sống hằng ngày.

– Điệp từ “gượng”: nhấn mạnh sự cố gắng gò ép mình của người chinh phụ

– Mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm:

  • Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành
  • Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.
  • Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.

⇒ Tiểu kết:

– Nội dung: Khắc họa tâm trạng cô đơn, lẻ loi, trống vắng của người phụ nữ, ẩn sau đó thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nỗi đau khổ của con người.

– Nghệ thuật:

  • Giọng thơ trầm buồn, khắc khoải, da diết, trầm lắng
  • Khắc họa nội tâm nhân vật tài tình, tinh tế thông qua hành động nhân vật, yếu tố ngoại cảnh, độc thoại nội tâm
  • Các biện pháp tu từ: So sánh, điệp từ, từ láy.

3. Kết bài 

– Khái quát lại giá trị nội dung của đoạn thơ đối với đoạn trích: Khắc họa tâm trạng cô đơn, lẻ loi, trống vắng của người phụ nữ, ẩn chứa thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nỗi đau khổ của con người.

Dàn ý phân tích 16 câu đầu bài tình cảnh lẻ loi

I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Đặng Trần Côn và tác phẩm Chinh phụ ngâm

– Giới thiệu về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

II. Thân bài

1. 16 câu đầu: Nỗi cơ đơn, lẻ loi của người chinh phụ

a) 8 câu thơ đầu

– Không gian:

  • Hiên vắng: vắng vẻ, hiu quạnh
  • Khuê phòng: cô đơn, nhớ nhung

– Thời gian:

  • Đèn: ban đêm, thời gian của tâm trạng
  • Hoa đèn: thời gian qua lâu gợi nỗi niềm khắc khoải

– Hành động của người chinh phụ:

+ Dạo – gieo từng bước: đi đi lại lại, quanh quanh, quẩn quẩn

⇒ Nỗi nhớ như ngưng đọng trong từng bước đi

  • Rủ thác: hành động vô thức, không có chủ đích
  • Nghe ngóng tin tức: nhớ mong, khao khát người chồng trở về
  • Giãi bày, chia sẻ với ngọn đèn – vật vô tri vô giác

– Biện pháp nghệ thuật:

  • Điệp ngữ vòng: đèn biết chăng – đèn có biết, diễn tả tâm trạng buồn triền miên, kéo dài lê thê trong thời gian và không gian, dường như không bao giờ đứt, ngừng.
  • Câu hỏi tu từ: đèn biết chăng? ⇒ như một lời than thở, thể hiện nỗi khắc khoải đợi chờ và hi vọng luôn day dứt không yên trong người chinh phụ.

b) 8 câu thơ còn lại

– Cảnh vật thiên nhiên:

+ Gà eo óc gáy – sương năm trống: gà gáy báo hiệu canh năm, báo hiệu người vợ trẻ xa chồng đã thao thức suốt đêm

⇒ Tiếng gà khắc khoải như xoáy sâu vào tính chất tĩnh lặng của không gian, đồng thời cũng xoáy sâu vào tâm trạng người chinh phụ

+ Hòe phất phơ: cảnh vật quạnh hiu

– Cảm thức của người chinh phụ về thời gian:

  • Hòe: bóng cây hòe ngoài sân, trong vườn ngắn rồi lại dài, dài rồi lại ngắn, thể hiện sự trôi đi của thời gian – thời gian của xa cách và nhớ thương
  • Thời gian của tâm trạng:

Khắc, giờ ———— niên

Mối sầu ———— biển xa

– Hành động của người chinh phụ:

  • Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành
  • Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.
  • Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.

⇒ Sự mâu thuẫn giữa cảm xúc và lí trí

⇒ 16 câu thơ đầu thể hiện tình cảnh lẻ loi, nỗi cô đơn sầu muộn của người chinh phụ.

2. Nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ

a) 6 câu thơ đầu

– Hình ảnh thiên nhiên:

  • Gió đông: gió mùa xuân, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên.
  • Non Yên: núi Yên Nhiên, nơi phương bắc xa xăm – nơi người chồng đang chinh chiến.

– Biện pháp nghệ thuật

  • Hình ảnh ước lệ: non Yên.
  • Điệp ngữ vòng: non Yên, trời
  • Từ láy: thăm thẳm, đau đáu.

⇒ Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, không chỉ là không gian vô tận ngăn cách hai vợ chồng, mà còn là nỗi nhớ không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà.

b) 2 câu còn lại

– Hai câu thơ mang tính khái quát, triết lý sâu sắc

– Lời thơ chuyển sang độc thoại nội tâm, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng người chinh phụ với hình ảnh người chinh phụ tràn ngập trong tâm tưởng.

⇒ 8 câu thơ cuối như lời gửi gắm nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa xôi.

III. Kết bài

– Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.

– Liên hệ với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến có chồng đi lính

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 1

Là con người, ai cũng khiếp sợ chiến tranh, bởi chiến tranh gắn liền với máu và nước mắt. Vào thế kỉ thứ XVIII, tình hình xã hội nước ta vô cùng rối ren, chính trị bất ổn, chiến tranh liên miên. Triều đình cần nhiều binh lính để chiến đấu. Vì vậy, rất nhiều trai tráng đã từ giã gia đình và gia nhập quân ngũ. Nhưng “cổ lai chinh chiến khứ nhân hồi” tức có nghĩa là xưa nay, đi chiến đấu có mấy ai trở về. Thật vậy, sự ra đi không hẹn ngày về của những người chồng đã khiến cho người vợ của họ, những người thiếu phụ đã trở thành những người chinh phụ. Người khuê phụ trong bài thơ “Khuê oán” của Vương Xương Linh từng thốt:

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
Hối giao phu tế mịch phong hầu.

Nỗi niềm này một lần nữa chúng ta lại bắt gặp trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” nguyên tác của Đặng Trần Côn. Đây là đoạn trích trong khúc ngâm được xem là tiêu biểu nhất cho thể loại khúc ngâm trong văn học Việt Nam. Dưới trí tuệ của dịch giả Đoàn Thị Điểm – người “tài sắc nương tử xưa hiếm nay không, xuất khẩu thành chương, bản chất thông minh” mà tuyệt tác Hán ngôn “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn một lần nữa thăng hoa. Đặc biệt 16 câu đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” – bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm, dù ngắn nhưng Đoàn Thị Điểm đã làm nổi bật lên bức tranh tâm trạng của người chinh phụ với những cảm nhận về thời gian chờ đợi và nỗi cô đơn, buồn nhớ, sầu lo dành cho người chinh phu:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen

Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”

Nửa đầu thế kỷ XVIII, “chính sự hư hỏng, thuế khóa nặng nề”, khắp nơi nông dân vùng lên khởi nghĩa và chúa Trịnh đã tiến hành nhiều cuộc đánh dẹp. Những cảnh vợ chồng chia lìa, nhà cửa ly tán đã khiến Đặng Trần Côn xúc động mà làm ra khúc ngâm. Tác phẩm là lời tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa; đồng thời là tiếng nói khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi vốn ít được thơ văn các thời kỳ trước chú ý. Nguyên tác “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn gồm 477 câu viết bằng chữ Hán theo thể trường đoản cú. Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, có lẽ do đồng điệu với người chinh phụ, đã diễn Nôm thành 408 câu song thất lục bát. Đoạn trích trên được trích từ câu 193 đến câu 288 của nguyên tắc, là tình cảnh và tâm trạng của người chinh phụ trong những năm tháng chồng đi đánh trận: tình cảnh cô đơn và khát khao được giãi bày, chia sẻ.

Tâm trạng của người chinh phụ trước hết được bộc lộ thông qua không gian và hành động:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”

Thủ pháp đối “hiên vắng” với “rèm thưa” không chỉ miêu tả không gian mà còn hé lộ tâm trạng. “Hiên vắng” cho thấy chẳng có ai ngoài người chinh phụ nhưng thực chất trong nhà còn có cha mẹ chồng và các con, đâu chỉ mình nàng. Song, cái vắng lặng kia của không gian phải chăng toát ra từ cõi lòng cô đơn, trống vắng của người chinh phụ? Qua con mắt ngóng trông, bức rèm dẫu có dày, cũng trở thành “rèm thưa”. Ngoài không gian, hành động nhân vật cũng là phương tiện miêu tả nội tâm nhân vật hiệu quả. Hai câu thơ có đến bốn động từ chỉ hoạt động: “dạo”, “ngồi, “rủ”, “thác” nhưng trọng tâm câu thơ lại không rơi vào những chữ ấy mà nó nằm ở những trạng từ diễn tả tính chất của hành động: “thầm gieo từng bước” và “đòi phen”. “Thầm gieo từng bước” không phải “đi” hay “bước” mà là “gieo” tức âm thầm mà vẫn nặng lòng, làm nặng luôn cả bước chân! Bước chân nặng nề ấy dường như độc giả còn bắt gặp trong “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều:

Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải
Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ

Bài thơ “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều cũng là một bài thơ viết về nỗi lòng của người phụ nữ

Thật buồn khi những bước chân ấy đều là những bước chân mang nỗi lòng của những người phụ nữ đáng thương. Còn “đòi phen” là một từ cổ, có nghĩa là “nhiều lận”. Động tác buông rèm và cuốn rèm được lặp đi lặp lại trong dáng vẻ vô hồn, vô thức. Không có gì thay đổi, nghĩa là kết quả của chuỗi ngày đợi chờ trong mỏi mòn, hy vọng trong vô vọng. Đó là sự tái hiện nhiều khoảnh khắc giống nhau, đó cũng là sự dồn nén tâm trạng.

Không chỉ qua không gian và hành động mà tâm trạng của người chinh phụ còn được bộc lộ rõ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm:

“Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”

Hướng ra “ngoài rèm”, nàng mong chờ chim thước báo tin vui, rằng chồng đã trở về an lành. Nhưng tuyệt nhiên, điều nhận lại chỉ là sự im lặng đến đáng sợ: “Ngoài rèm thước chẳng mách tin”, và thế là đành trở về độc thoại trong nỗi cô đơn của chính mình. Câu thơ như một cái lắc đầu tuyệt vọng. Câu hỏi tu từ “trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” mang hình thức đối thoại với ngọn đèn, nhưng thực chất là độc thoại nội tâm đấy thôi, nào có ai để mà giãi bày, chia sẻ! Thủ pháp đối “trong rèm – ngoài rèm” cho thấy một hiện thực tù túng: nhìn ra ngoài hay nhìn vào trong thì cuối cùng cũng chỉ quanh quẩn, trói buộc bên song cửa sổ, trong một không gian chật hẹp. Không gian tự thân đã chứa đựng khả năng biểu đạt tâm trạng. Càng vắng lặng, chật hẹp, tù túng thì càng cảm nhận rõ hơn hết nỗi trống vắng, cô đơn. Và vì thế mà càng bị nỗi sầu bủa vây, không cách nào giải tỏa.

Cách nói có vẻ mâu thuẫn “Đèn có biết dường bằng chẳng biết” cho thấy một nỗi hụt hẫng, thất vọng. Ngọn đèn được nhân hoá với mục đích thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ nỗi lòng của người chinh phụ. Nhưng suy cho cùng đèn cũng chỉ là một vật vô tri vô giác mà thôi! Trong tâm hồn người chinh phụ tưởng chừng đã lóe lên niềm vui, bởi đã có người đồng cảm, sẻ chia, để thỏa niềm khao khát được giãi bày và thoát khỏi cảnh sống cô đơn, chờ đợi của hiện tại. Nhưng cũng ngay lập tức nàng nhận thức được hiện thực không gì khác ngoài: khổ đau, chia lìa và vô vọng, càng mong mỏi, khát khao lại càng bế tắc, tuyệt vọng. Thật bi kịch khi càng muốn thoát ra thì nàng càng bị nỗi sầu muộn trói chặt hệt như người sắp đuối nước tưởng đã tìm thấy chiếc phao cứu sinh. Nào ngờ…

Hình ảnh “ngọn đèn” vốn là thi liệu quen thuộc trong ca dao viết về nỗi nhớ tình yêu:

“Đèn thương nhớ ai
Mà đèn mà đèn không tắt”

Hay:

“Mong anh mà chẳng thấy anh
Thiếp tôi buồn bã khêu quanh ngọn đèn”

Rồi lại:

“Đêm qua gió bấc mưa dầm
Đèn lầm với bóng, bóng lầm với ai?”

Trò chuyện với “ngọn đèn” là thế! Song, “lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” – là lời người chinh phụ tự bạch với chính mình. Tính từ “bi thiết” không chỉ diễn tả nỗi buồn mà hơn thế, đó còn là nỗi đau tự ý thức về tình cảnh cô đơn và nỗi sầu không ai chia sẻ được đang trở đi trở lại vò xé tâm can người chinh phụ.

Tâm trạng của người chinh phụ, cuối cùng, được bộc lộ thông qua ngoại hình nhân vật:

Buồn rầu chẳng nói nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Nét mặt và dáng vẻ “buồn rầu”, cô đơn, tiều tụy ấy là kết quả của những chuỗi ngày mòn mỏi đợi chờ, cho thấy sự sống kéo lê, tàn tạ, nhạt nhòa. Phải chăng đó chỉ là tồn tại, nào phải sống cuộc sống của một con người? Nhìn kiếp “hoa đèn” lụi tàn, người chinh phụ tự thương cho kiếp mình tàn lụi. Người và vật cuối cùng cũng chẳng khác gì nhau. Thật đáng thương! Thật đau xót! Đặc tả những nét ngoại hình ấy của nhân vật, ngòi bút không chỉ xoáy sâu vào từng ngóc ngách để mổ xẻ tâm lí nhân vật, mà hơn thế, chính tác giả và dịch giả đang sống và trăn trở cùng nhân vật, đau nỗi đau của nhân vật trữ tình. Đó là dùng chiều sâu của tâm hồn, chiều rộng của tình thương để thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ cùng nhân vật. Vì thế mà ở dòng thơ cuối cùng, lời nhân vật, lời tác giả và dịch giả dường như đã hòa làm một trong một niềm đồng cảm.

Sau những tháng ngày khắc khoải trong mong chờ: hết “dạo hiên vắng” lại “ngồi rèm thưa”, hết ngóng tin từ chim thước ngoài rèm, đến tìm kiếm một sự đồng cảm từ ngọn đèn trong rèm; người chinh phụ bắt đầu có cảm nhận sâu sắc về thời gian chờ đợi:

“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.”

Trước tiên đó là cảm nhận về sự thay đổi của thiên nhiên, cảnh vật: đêm, tiếng gà nhức nhối suốt năm canh; ngày, sự dịch chuyển của bóng cây hòe trên mặt đất. Sự quan sát thiên nhiên này đã hé lộ tư thế của nhân vật trữ tình: người chinh phụ “ngồi nhẫn tàn canh” trong cảnh đợi chờ. Có thể nói, chờ mong đã trở thành tâm trạng thường trực của nàng. Từ láy tượng thanh “eo óc” và từ láy tượng hình “phất phơ” càng khắc sâu thêm không gian hiu quạnh, tĩnh lặng của cảnh vật, cũng như tâm trạng trống vắng, cô đơn của con người. Bút pháp “tả cảnh ngụ tình”, “lấy động tả tĩnh” đã được vận dụng một cách tinh tế, hiệu quả. Hình ảnh cây hòe trong màn đêm “phất phơ rủ bóng” cũng gợi lên cảm giác man mác buồn, xót xa. Hình ảnh “rủ bốn bên” của cây hòe còn biểu hiện bước đi của mặt trời trọn một ngày. Nếu như hình ảnh cây hòe bắt gặp trong bài “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi tượng trưng cho sự tươi tốt, căng tràn sức sống “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương” thì đến với cây hòe trong bài “Chinh phụ ngâm” lại được đặt trong đêm khuya thanh vắng, thấm đượm nỗi buồn. Từ đó ta thấy được nghệ thuật dùng từ của tác giả, đó là sự chọn lọc một cách tinh tế từ ngữ để biểu thị cảm xúc, tâm trạng.

Nếu như ở cặp song thất, cảm nhận của người chinh phụ về thời gian được gợi lên qua cái nhìn về cảnh vật, thì ở cặp câu lục bát, nhân vật trữ tình đã trực tiếp giãi bày cảm nhận, tâm trạng của mình:

“Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”

Xưa nay trong cảnh đợi chờ, bao giờ con người cũng cảm thấy thời gian chảy trôi với một nhịp điệu hết sức chậm rãi, như muốn trêu ngươi, kéo dài khoảnh khắc chờ đợi của con người. Như trong “Kinh Thi” của Trung Quốc từng ví “nhất nhật tựa tam thu” hay trong “Truyện Kiều”, khi miêu tả nỗi niềm tương tư trong tình yêu, Nguyễn Du cũng đã để Kim Trọng phải thốt lên: “Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dồn lại một ngày dài ghê!”. Trong Chinh phụ ngâm, thời gian chờ đợi của đôi lứa đang trong cảnh ngộ chia lìa dường như càng đáng sợ, khủng khiếp hơn, nhất là khi nó được cảm nhận từ một người thiếu phụ: từng khắc, từng giờ trôi đi như đã qua cả một năm vậy! Nỗi buồn tủi, cô đơn cũng theo đó mà vô cùng vô tận như biển xa.

Thủ pháp so sánh “như, tựa” với những hình ảnh tưởng chừng như khoa trương, ước lệ “khắc giờ như niên” rồi lại “mối sầu tựa biển”, nhưng lại rất thực với tâm trạng mòn mỏi, nỗi lòng ngổn ngang của người thiếu phụ có chồng đi chinh chiến. Bởi nó đã chuyển biến từ thời gian thật của ngoại cảnh (ở cặp song thất) đến thời gian của tâm lý (ở cặp lục bát này). So sánh bản diễn Nôm với nguyên tác, người đọc có thể thấy được thành công của bản dịch trong việc thể hiện nội dung tư tưởng, tình cảm của câu thơ. Nếu như trong bản chữ Hán của Đặng Trần Côn, đây là hai câu đoản cú “Sầu tự hải/Khắc như niên” thì trong bản diễn Nôm, ý thơ của nguyên tắc được diễn đạt tinh tế, sâu sắc và cảm động hơn. Đoàn Thị Điểm đã sử dụng tài tình thể song thất lục bát – vốn là thể thơ có khả năng dồi dào trong diễn đạt tâm tư tình cảm;vận dụng thành công các từ láy “đằng đẵng, dằng dặc” – một phương tiện ngôn từ đặc thù của tiếng Việt, để miêu tả chính xác, chân thật tâm trạng của nhân vật trữ tình. Bên cạnh đó bà còn hoán chuyển thứ tự hai câu thơ để mạch cảm xúc đi từ cảm nhận về ngoại cảnh “khắc giờ” cho đến lặn sâu vào nội tâm của con người “mối sầu”. Như vậy, trong không gian vô cùng và thời gian vô tận của sự chờ đợi, người chinh phụ chỉ thấy có mình đối diện đàm tâm với biển sầu của chính mình. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai quả thật tinh tế và sâu sắc khi nhận định rằng: “Đây là một trong những vần thơ mênh mông vô tận, như khối sầu trong lòng người yêu tự ngàn xưa”.

Trong sự bủa vây của mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa, người chinh phụ cố gắng tìm cách vượt ra khỏi, nhưng rốt cuộc vẫn không thoát nổi:

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”

Nàng muốn làm mọi việc để quên đi nỗi nhớ chồng, nhưng xung quanh lại luôn là khung cảnh gợi nhớ, khơi dậy cảm giác về sự chia lìa lứa đôi hiện tại của nàng: “hương”, “gương” rồi sắt cầm” – đàn cầm và đàn sắt gảy hòa âm với nhau, thường dùng để ví cảnh vợ chồng hòa thuận, với dây đàn uyên ương và phím đàn loan phượng – hình ảnh biểu tượng của lứa đôi gắn bó: cặp uyên ương, loan phượng. Chính vì vậy, nỗi nhớ lại càng chất chồng. Cho nên, hết thảy ba lần lần người chinh phụ định làm những công việc bình thường của cuộc sống hằng ngày thì cũng chỉ là “gượng”. Chính phép điệp từ “gượng” gợi tả cử chỉ, dáng dấp: cố làm cho ra vẻ tự nhiên, bình thường khi đang có tâm trạng buồn, đồng thời nhấn mạnh sự gượng gạo đến tội nghiệp của nàng. Khi đốt hương, nàng lại chìm đắm vào nỗi sầu tủi miên man: “hồn đà mê mải”. Khi soi gương thì nàng lại nhớ hình ảnh cùng chồng soi chung nên không cầm được nước mắt “lệ lại châu chan”. Khi gắng “gảy ngón đàn” thì kinh sợ “dây uyên” bị “đứt”, lo ngại “phím loan” bị “chùng”, là những điềm gở báo hiệu sự không may của lứa đôi đang xa nhau. Ở những câu thơ này, yếu tố tự sự – thuật hành động, và yếu tố trữ tình – tả tâm trạng, xuất hiện sóng đôi, đan xen nhau. Trong cùng một câu thơ, vế trước chỉ việc làm, vế sau là sự biểu hiện tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình: “Hương gượng đốt / hồn đà mê mải” rồi “Gương gượng soi / lệ lại châu chan.” Thủ pháp đối kết hợp với liệt kê, đảo ngữ – đưa bổ ngữ chỉ vật lên trước hành động: “hương gượng đốt, gương gượng soi, sắt cầm gượng gảy, dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng” có tác dụng rất lớn đối với việc xây dựng yếu tố tự sự. Bên cạnh đó, từ ngữ cũng được Đoàn Thị Điểm lựa chọn, sử dụng rất “đắt”: “mê mải, châu chan, kinh, ngại” đã biểu đạt đến tận cùng các sắc thái tình cảm, cung bậc tâm trạng của nhân vật trữ tình. Chưa đến nỗi như người thiếu phụ ngày xưa vọng phu hóa đá, nhưng nàng chinh phụ của chúng ta đã phải sống trong nỗi cô đơn, buồn nhớ, sầu lo triền miên không dứt. Mọi nỗ lực nhằm xua tan đi buồn nhớ đều bất lực, vô dụng. Không thể thay đổi cảnh sống hiện tại, người chinh phụ lại càng khắc khoải âu sầu, càng rơi vào tuyệt vọng. Đó là sự bế tắc khủng hoảng đến độ trở thành bi kịch.

Đoạn trích đã thể hiện sự đồng cảm của tác giả – dịch giả khi khắc họa thành công bi kịch tâm trạng của người chinh phụ: khát khao được giãi bày, chia sẻ mâu thuẫn với hiện thực cô đơn, sầu muộn. Người chinh phụ đã bật lên tiếng nói thầm kín của lòng mình.

“Nếu như có những tư tưởng của thời đại, thì cũng có những hình thức của thời đại” (Bielinski). Trong văn học phong kiến “phi ngã”, Chinh phụ ngâm nói chung và đoạn trích nói riêng, ra đời để cất lên tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người, đặc biệt là người phụ nữ; qua đó, tố cáo chiến tranh phi nghĩa đương thời

Tiếng nói ấy xuất phát từ tấm lòng nhân đạo cao cả và tư tưởng nhân văn tiến bộ, và có ý nghĩa khai phá quan trọng: là tiền đề cho tinh thần nhân đạo đề cao quyền sống và quyền hạnh phúc lứa đôi của con người ở văn học giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX trỗi dậy mạnh mẽ trong Truyện Kiều, Cung oán ngâm, thơ Hồ Xuân Hương… sau này.

Hình ảnh ước lệ tượng trưng, giàu sức gợi hình, biểu cảm: sắt cầm, dây uyên, phím loan”. Đoạn trích đã chọn lọc đắt giá, khai thác hiệu quả những từ thuần Việt (thầm gieo, đòi phen, khá thương, gượng, kinh, ngại), đặc biệt hàng loạt những từ láy tượng thanh, tượng hình đậm đà tính dân tộc (eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, thăm thẳm, đau đáu); các biện pháp nghệ thuật thường xuất hiện trong thơ văn cổ (đối, điệp, nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, câu hỏi tu từ,…). Thể song thất lục bát của bản diễn Nôm góp phần quan trọng diễn tả được những trạng thái tình cảm miên man không dứt, phù hợp với giai điệu chung của khúc ngâm.

Có thể nói rằng cả khúc ngâm đọng thành một “mối sầu vạn cổ” mà không gây nhàm chán vì sự diễn biến tinh vi mà phong phú, đa dạng của đời sống nội tâm nhân vật. Chỉ riêng đoạn trích này, tâm trạng của người chinh phụ đã có những chuyển biến luân phiên: ngóng trông ngoại cảnh để tìm mối đồng cảm, nhưng không thành để rồi quay về độc thoại với nỗi cô đơn sầu muộn ngổn ngang trong sâu thẳm lòng mình; khi lóe sáng chút hy vọng, lúc lại rơi vào hố sâu tuyệt vọng, ủ rũ, bế tắc. Nếu nói rằng, lời lẽ trong “Chinh phụ ngâm” là sự “hoàn toàn thống nhất giữa ý, tình và âm thanh, nhịp điệu, những câu thơ đẹp vào bậc nhất trong thơ Việt Nam” (Hoài Thanh) thì đoạn trích này là một minh chứng.

16 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – Mẫu 2

Chinh Phụ Ngâm là một trong những tác phẩm văn học trung đại xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam mà ở đó, lồng ghép những mạch cảm xúc, câu chuyện thấm đẫm nỗi bi thương về thân phận người phụ nữ thời kỳ lúc bấy giờ, đồng thời gián tiếp miêu tả chân thực bức tranh hiện thực xã hội cay đắng, bất công.

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Không gian hiên vắng, ngay từ những vần thơ đầu đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận u buồn, kết hợp với các động từ như “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, bồn chồn, thấp thỏm của người phụ nữ dưới mái hiên nghèo, những ngày động cứ lặp lại vô nghĩa, càng thể hiện sự hoang hoải và trống rỗng trong tâm trí. Và rồi dường như, nhân vật đang phân tâm để đối thoại độc thoại với chính mình, mà lại vừa có cảm giác như một lời trách móc:

“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”

Bắt đầu từ đây, người chinh phụ bộc lộ nỗi lòng cô đơn và sự nhớ mong, nhớ thương khôn xiết đến người chinh phụ nơi chiến trận phương xa. Nàng không chỉ mang nỗi nhớ đơn thuần, mà còn mang trong lòng sự khắc khoải khôn nguôi, trằn trọc khi không nhận được tin tức về người chinh phụ. Hình ảnh chim thước – loài vật báo tin tốt lành xuất hiện chính là sự minh họa rõ nhất cho nỗi lòng ấy. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm mọi không gian, thậm chí lan thấm vào nhuốm vào màu không gian một sắc buồn ảm đạm. Càng nhớ, càng mong mỏi được giãi bày, và ngọn đèn trở thành người tri kỉ trong vò võ cô đơn để người chinh phụ tâm sự. Ca dao xưa đã từng có bài ca dao khăn thương nhớ ai, cũng miêu tả hoàn cảnh của người phụ nữ trong vò võ đêm trường, một mình bầu bạn với ngọn đèn khuya, chính ngọn đèn khuya leo lét, lạnh lẽo càng nhấn mạnh thêm tình cảnh trơ trọi lẻ loi của người chinh phụ:

Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Người chinh phụ tự thương cho thân phận mình, bỗng nhận thấy trong bóng đèn dầu kia phản chiếu lên bức tường với số phận, thân phận mình như nhập hòa làm một, nỗi buồn mượn ngọn đèn để san sẻ nhưng cũng chẳng thể thỏa nỗi nhớ mong, niềm khát khao đồng điệu.

“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”

Không gian khi càng về sáng, càng yên tĩnh, đó cũng là không gian mà tâm trạng những người cô đơn càng thêm đơn độc, lẻ loi biết nhường nào. Cảnh vật xung quanh cũng heo hút, phất phơ, các từ eo óc, phất phơ, càng gợi cho ta cảm giác rằng người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nỗi nhớ vốn vô hình, vốn không thể cân đong đo đếm, nay được định lượng hóa bằng sự đằng đằng của tháng năm, bằng sự rộng dài của dòng thời gian trường cửu, càng thêm quay quắt và trở nên trơ trọi. Và giờ đây, nỗi nhớ đã trở thành mối sầu tựa miền ải xa, nghĩa là nó không chỉ thuộc về cảm xúc, mà còn đang mang những âu lo, khắc khoải, rợn ngợp về tương lai.

Những phím đàn gảy lên càng gợi cảm giác về sự đơn độc, về sự hoang hoải trống vắng trong tâm hồn, và tràn ngập những nỗi sợ hãi về tương lai, về sự cách lý.

Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã lột tả một cách sống động chân thực cảm xúc cô đơn và nỗi nhớ thương khắc khoải đến quặn thắt của người chinh phụ, đồng thời qua đó gián tiếp vạch trần tội ác của chế độ chiến tranh phi nghĩa năm xưa, khiến gia đình phải tan tác, đau thương.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 3

Có thể nói, ở mỗi thời đại, văn học đều là tấm gương phản chiếu lên được mặt tốt và mặt xấu của xã hội. Khai thác và đào sâu vào những vấn đề thuộc về nội tâm của con người. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm là một điển hình tiêu biểu như thế, đặc biệt là mười sáu câu đầu đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. Đoạn trích phản ánh lên tội ác của những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã làm cho người chinh phụ phải rơi vào tình cảnh cô đơn lẻ loi, tâm trạng đau khổ khắc khoải khôn nguôi. Hãy cùng thả lòng mình đến với 16 câu đầu đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” để cảm nhận rõ nét hơn nỗi cô đơn của người vợ có chồng đi chinh chiến.

Đoạn trích ra đời vào thế kỉ XVIII. Đầu đời vua Lê Hiển Tông, triều đình sai quân đánh dẹp, nhiều trai tráng trong làng phải từ giả người thân ra trận. Khi ấy, cảm nhận được nỗi khổ của những người nông dân, đặc biệt là người vợ lính. Đặng Trần Côn đã viết nên tác phẩm, bằng chữ Hán là một khúc ngâm đầy cảm xúc. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” nằm từ câu 193 -216 và từ câu 228 – 252 trong nguyên tác. Khi vừa ra đời tác phẩm đã nhận được rất nhiều sự chú ý từ những nhà yêu thơ, đã có nhiều bản dịch ra chữ Nôm, nhưng bản dịch hiện tại là thành công nhất được viết theo thể song thất lục bát là thể thơ thuần túy của người Việt Nam. Nhưng sau khi bản dịch ra đời lại có tranh cãi rằng bản dịch đấy là của Phan Huy Ích hay Đoàn Thị Điểm. Phần lớn cho rằng là của Đoàn Thị Điểm bởi bà cũng có hoàn cảnh giống như người chinh phụ (bà có chồng đi sứ ở Trung Quốc). Mười sáu câu đầu đoạn trích là khung cảnh người chinh phụ chờ đợi chồng trong hoàn cảnh u buồn, đơn độc. Những hành động được tiếp diễn đưa cảm xúc lên cao trào.

Mở đầu cho cảm xúc cô đơn, đau buồn kéo dài theo không gian và thời gian vô tận là hành động chậm rãi:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Hành động được hiện ra với dáng vóc đầy suy tư của người chinh phụ. Nhịp thơ nhẹ nhàng, như để đi vào cảm xúc. Những động từ “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, không gian im lặng đến mức nghe từng tiếng bước chân. Người chinh phụ dường như đang suy nghĩ trăn trở nên nàng “ngồi” mà lòng thì chẳng để tâm. Tác giả đã sử dụng hình ảnh ” rủ thác đòi phen”- kéo màng lên rồi lại buông màn xuống. Để cho thấy hành động lặp đi lặp lại vô nghĩ. Và rồi dường như có tiếng thầm thì trách móc:

“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”

Người chinh phụ bắt đầu giãi bày nỗi niềm tâm sự của mình. Thực sự nàng đang rất nhớ người chinh phu điều đó được thể hiện rõ nét qua hình ảnh “chim thước”- chim khách, là loài chim thường mang tin tốt lành. Nàng trách chim thước chẳng báo một chút tin tức nào của người chồng, để nàng phải đợi mong, cô đơn khắc khoải. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm tất cả không gian bên trong và bên ngoài phòng khuê. Và nàng cũng cần lắm một người tâm sự cùng mình. “Đèn” được nhà thơ nhân hóa lên như một người bạn. Nếu với “Ca dao yêu thương tình nghĩa”: ” Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt” chiếc đèn nguyện cùng cô gái thao thức suốt đêm mộng mơ nhớ thương, thì với Chinh phụ ngâm chiếc đèn lại phũ phàng với người phụ nữ lẻ loi ấy. “Đèn” đã tắt khi người chinh phụ đang cần lắm một sự sẻ chia, “đèn” đã làm cho người chinh phụ nhận ra rằng “dù thế nào thì đèn cũng chỉ là vật vô tri vô giác” chẳng thể chia sẻ cùng nàng được. Tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” Như muốn cho người đọc cảm nhận người chinh phụ đã đi qua từng cảm xúc. Và đến khi tuyệt vọng nàng đã nói một câu mà nghe như xé lòng: Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” nàng xin nhận hết và chịu đựng hết nỗi cô đơn cho riêng mình. Bởi vì chẳng có ai bên cạnh để nàng chia sẻ. Biết bao nỗi niềm chất chứa chẳng nói thành lời:

“Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Nỗi buồn u ám dưới màng đêm, nỗi buồn mà ngay cả nàng cũng chẳng thể nói nên lời được. Có lẽ do nỗi buồn ấy quá lớn và nó lại hiện lên mỗi ngày. Nghệ thuật so sánh “Hoa đèn” với “bóng người”, người chinh phụ nhìn hoa đèn mà nghĩ đến cuộc đời của mình có mau lụi tàn như chiếc hoa đèn kia hay không? Hay còn hẩm hiu hơn thế nữa? Càng nghĩ nàng càng thấy buồn, dường như lúc này cảnh vật cũng rũ xuống một màu đen tối:

“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khác giời đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”

Trời đã khuya, không gian yên tĩnh, nghe từng tiếng gà gáy. Âm thanh vang lên “eo óc” thưa thớt, hình ảnh hoa hòe “rũ bóng bốn bên”, thời khắc cảnh vật mỏi mòn chìm vào đêm tối. Đã qua hết năm canh mà người chinh phụ vẫn còn thao thức với nỗi sầu khó vơi đi được. Sự so sánh “khắc giờ” như “niên”, một giờ dài bằng một năm, điều đó càng tô đậm hơn nỗi cô đơn. Thời gian cũng kéo dài cùng với nỗi sầu muộn của nàng. Cùng với từ láy “đằng đẵng”, “dằng dặc” cho thấy sự kéo dài triền miên đau đớn cứ mãi day dứt trong lòng. Nghệ thuật lấy động tả tỉnh làm nổi bật lên không gian, thời gian, lấy cái xa của biển cả để nói về cái buồn của lòng người là một cách miêu tả đầy tinh tế. Tiếp đến nàng muốn tìm những thú vui tao nhã, tập cách quên đi nỗi buồn trước mắt:

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”

Nhưng nàng chẳng biết rằng những thú vui tao nhã này lại khi nàng chìm đắm vào nỗi sầu mênh mang. Khi đốt hương, hồn nàng lại rơi vào trạng thái mơ màng, nỗi sầu lại theo đó mà dâng lên. Rồi khi soi gương để tô son điểm phấn, nàng lại càng xót xa cho thân phận của mình, nhan sắc của một người phụ nữ đang dần phai mòn đi theo những tháng ngày lẻ loi, không có chồng bên cạnh để làm điểm tựa. Khi đánh đàn nàng lại sợ “dây uyên đứt”, “phím loan chùng” nàng sợ những điều không may xảy đến cuộc tình của nàng. Biết bao nỗi đau đau, nỗi sợ bủa vây lấy nàng. Điệp từ “gượng” được lặp lại ba lần cho thấy sự miễn cưỡng trong hành động. Cũng chỉ vì quá cô đơn, muốn quên đi mà nàng mới làm. Nhưng dù có thú vui tao nhã đến đâu, dù tô son điểm phấn hay đánh đàn thì cũng chẳng bao giờ nàng cảm thấy vui, bởi vì ngay lúc này với nàng là nỗi cô đơn mong mỏi chồng từ nơi chinh chiến sẽ trở về, mong được nghe một lời động viên an ủi từ người chồng của mình. Nhưng tất cả đều không!

Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, sử dụng những điệp từ, so sánh nhiều hình ảnh để vẽ ra khung cảnh của người chinh phụ mang nhiều tâm trạng. Sự cô đơn, lẻ loi của người phụ nữ trong đêm tối. Và khi hình ảnh buồn khổ ấy hiện lên chân thực đến đâu thì càng vạch trần cái tội ác xấu xa của chiến tranh phi nghĩa đẩy biết bao gia đình rơi vào cảnh chia lìa. Mà niềm cảm thông lớn nhất là dành cho người chinh phụ, là phụ nữ nhưng họ phải hy sinh tuổi xuân để chờ chồng mà chẳng có chút tin tức, không có ai chia sẻ những nỗi buồn. Từ đấy cho ta thấy được cách chọn đề tài của Đặng Trần Côn rất mới mẻ, phù hợp với thời đại lúc bấy giờ. Cách miêu tả nội tâm đầy sâu sắc của ông, cho thấy ông là một người có vốn sống rất rộng. Đồng thời là sự sắc sảo trong cách dùng từ của hai dịch giả Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích đã tạo nên đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” rất thành công.

Thông qua mười sáu câu đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” càng giúp ta hiểu rõ nét hơn những nỗi cô đơn của người phụ nữ trong xã hội cũ khi có chồng đi chinh chiến. Nó là nỗi cô đơn da diết kéo dài theo không gian thời gian. Từ đó cho thấy hậu quả của chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Và là lời ca ngợi cho tác giả Đặng Trần Côn, ông quả là một nhà thơ tài năng và tác phẩm của ông đã chạm đến trái tim của đọc giả và vượt qua hàng trăm năm, nhưng mỗi lần nhắc về những tác phẩm chữ hán, người ta sẽ nghĩ ngay đến “Chinh phụ ngâm”. Ông đã để lại cho nền văn học nước nhà một áng văn hay.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 4

Đặng Trần Côn là một tác giả văn học nổi tiếng sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy biến động nên của đất nước khi mà chiến tranh đã làm chia cắt bao gia đình. Có biết bao nhiêu cặp vợ chồng vừa xây dựng hạnh phúc lứa đôi đã phải chia tay để chồng đi chinh chiến phương xa. Từ sự cảm thương với số phận con người trong thời chiến, ông đã viết nên tác phẩm “Chinh phụ ngâm”. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là một trong những đoạn trích tiêu biểu nói về tâm trạng cô đơn, lẻ bóng của người vợ trẻ khi chồng ra trận vắng nhà.

Ngay từ tám câu thơ đầu, tác giả đã mở ra một tâm trạng cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

Nỗi cô đơn của người chinh phụ đã được thể hiện trước hết qua hành động một mình nàng dạo hiên vắng. Buông rèm rồi lại cuốn rèm không biết bao nhiêu lần. Hành động này thể hiện sự bối rối, tâm trạng thất thần nhớ nhung khiến cho người phụ nữ còn không thể kiểm soát được hành động của mình. Đó là tâm trạng chờ đợi mong ngóng, tin tức người chồng phương xa. Nỗi buồn nỗi cô đơn của người chinh phụ còn được diễn tả qua sự đối bóng của người với ngọn đèn khuya.

Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

Hai câu thơ được tác giả viết hình thức câu hỏi tu từ, thể hiện tâm trạng bế tắc của người chinh phụ. Nàng hỏi đèn để mong muốn tìm được một sự đồng cảm, sẻ chia, nhưng rồi tự trả lời rằng đèn không biết. Hình ảnh ngọn đèn cùng với nỗi lòng của người chinh phụ như càng góp phần khẳng định nỗi buồn triền miên, cô đơn, không ai chia sẻ.

Đoạn thơ 8 câu cuối có sự chuyển đổi tinh tế để phù hợp với diễn biến tâm trạng của người chinh phụ. Từ những lời tự sự miêu tả nội tâm, đến đoạn thơ này có sự kết hợp giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ của tác giả.

Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.
Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.

Đoạn thơ này, tác giả chủ yếu sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tức là dùng ngoại cảnh để miêu tả tâm trạng nhân vật, dùng cái chủ quan để miêu tả cái khách quan. Vì thế, trong bài thời gian vật lí đã biến thành thời gian tâm lý. Tiếng “gà eo óc gáy” là âm thanh báo hiệu năm canh và bóng cây “hòe” tĩnh mịch trong đêm nhằm làm tăng ấn tượng vắng vẻ, cô đơn đáng sợ.

Trong tâm trạng chờ đợi mỏi mòn đó người chinh phụ thấy thời gian trôi qua một cách chậm chạp, một khắc một giờ mà giống như một năm.

Và để giải tỏa nỗi niềm sầu muộn, người chinh phụ đã biết tìm đến những thú vui tao nhã thường ngày: “soi gương, đốt hương, gãy đàn”. Nhưng tất cả chỉ làm trong sự gượng gạo, miễn cưỡng chán chường.

Thành công của đoạn trích này là ở khả năng miêu tả tâm lí nhân vật vô cùng tinh tế với bút pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc của văn học trung đại và sử dụng hàng loạt các biện pháp tu từ: câu hỏi tu từ, điệp từ, điệp ngữ…

Chỉ với 16 câu thơ đầu, tác giả đã thể hiện được tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm được xem là tiếng kêu thương của người phụ nữ nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 5

“Chinh phụ ngâm khúc” là một trong những kiệt tác của danh sĩ, nhà thơ Đặng Trần Côn. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, được mọi người biết đến qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” bộc lộ rõ tâm trạng u buồn, nhớ nhung của người chinh phụ khi phải sống trong tình cảnh lẻ loi, vì chồng phải tham gia vào trận đánh chiến tranh tàn khốc. Tác phẩm thể hiện sâu sắc cảm hứng nhân đạo và sự lên án, tố cáo chiến tranh phi nghĩa khiến con người phải chia cắt.

Trong 16 câu thơ đầu tiên, tác giả thể hiện nỗi cô đơn của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi, cảm giác về thời gian chờ đợi, cố tìm cách giải khuây mà không được. Đến 11 câu thơ tiếp theo, thi nhân đã họa lại nỗi nhớ thương chồng ở phương xa của người chinh phụ khiến lòng nàng càng thêm ảm đạm. Trong những câu thơ còn lại, cảnh vật xung quanh càng khiến lòng người chinh phụ thêm rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi.

Những câu thơ đầu tiên chất chứa tâm trạng nhớ nhung, sầu muộn của người phụ nữ:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Chúng ta thấy người chinh phụ khắc khoải chờ mong chồng dẫu ngày hay đêm. Nằm trong phòng, nàng hết buông rèm xuống lại cuốn rèm lên. Tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả từng động tác, cử chỉ, hành động được lặp đi, lặp lại nhiều lần của người chinh phụ. Những hành động ấy không xuất phát từ bất kỳ mục đích gì, tất cả đều là những động tác vô thức, không chủ đích, không ý nghĩa, cốt chỉ để biểu lộ tâm trạng cô đơn, lẻ loi của nàng. Người chinh phụ mong mỏi có được sự đồng cảm, nhưng thực tại lại càng thất vọng: “chim thước” chẳng chịu mách tin, “đèn” không hiểu được tâm sự của mình. Câu hỏi tu từ được sử dụng “đèn biết chăng?”, “đèn chẳng biết” phải chăng là lời thở than, thể hiện nỗi khắc khoải trong đợi chờ vô vọng, day dứt mãi khôn nguôi. Tâm trạng của nhân vật đã chuyển giọng kể tự nhiên, từ lời kể bên ngoài thành lời độc thoại nội tâm da diết, dằn vặt, ngậm ngùi. Hình ảnh “ngọn đèn”, “hoa đèn” cùng với cái bóng trên tường của chính mình gợi cho người đọc nhớ đến hình ảnh đèn không tắt trong bài ca dao vốn rất quen thuộc:

“Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt?
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên?”

Nhận thấy trong tám câu thơ tiếp theo, người chinh phụ đã mượn cảnh thiên nhiên để diễn tả tâm trạng của mình, dùng cái khách quan để miêu tả sự chủ quan:

“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”

Âm thanh “tiếng gà eo óc” báo hiệu canh năm, đồng thời như sự minh chứng rằng người vợ xa chồng đã thức suốt đêm dài. Hình ảnh “bóng hòe” ngoài sân, hết ngắn rồi dài, rủ xuống mặt đất, càng khiến không gian thêm ảm đạm, ngột ngạt. Thời gian của xa cách, nhớ thương cùng với tâm trạng da diết khôn nguôi. Cụm từ “gượng” được tác giả diễn tả cách đặc biệt, đi liền với các động từ “gảy”, “soi”, đốt” cùng những đồ vật “đàn”, “hương”, “gương”. Tất cả đều cho thấy, những thú vui tao nhã, những thói quen trang điểm hằng ngày của người phụ nữ, giờ đây vắng chồng, vắng niềm hạnh phúc, tiếng cười, bỗng được tiến hành một cách gượng ép. Đốt hương mà tâm hồn lại chìm đắm vào nỗi sầu tủi miên man. Soi gương lại không cầm được những giọt nước mắt không ngừng rơi vì tủi hổ. Đàn đứt dây, chùng lại, nào có thoát khỏi bể trời đơn côi?

Chúng ta thấy rằng chỉ vỏn vẹn 16 câu thơ đầu tiên, tác giả đã thể hiện rõ nỗi cô đơn, sầu tủi của người chinh phụ khi phải sống trong tình cảnh lẻ loi. Nàng cảm giác về thời gian trong đợi chờ, cố tìm cách giải khuây mà không được. Tác giả đã rất tinh tế khi diễn tả tâm trạng phong phú, tinh vi, sâu kín trong tình cảm của người phụ nữ, càng thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo dành cho người chinh phụ trong hoàn cảnh đơn côi, lẻ loi.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 6

Trong đề tài viết về chiến tranh, người ta thường viết nhiều về những tráng sĩ, những anh hùng đã chiến đấu, đã hi sinh vì non sông, đất nước. Rất ít tác giả viết về hình ảnh những người vợ, những người mẹ mòn mỏi chờ đợi tin tức của chồng mình, của con mình. Và có ai biết được rằng cái sự chờ đợi đó dường như là vô vọng, bế tắc bởi lẽ: “Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi”. Cảm thông trước cảnh buồn khổ của những người chinh phụ, Đặng Trần Côn đã sáng tác tác phẩm Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán và Đoàn Thị Điểm đã dịch bài thơ này ra chữ Nôm. Trong bản dịch này, có thể thấy xuất sắc nhất là đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. Đặc biệt là 16 câu thơ đầu tiên.

Ngay những câu đầu của tác phẩm Chinh phụ ngâm, tác giả đã vẽ nên cảnh chia tay giữa người chinh phụ và chinh phu: “Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”. Nói như thế có nghĩa là khi người chồng đã đi chinh chiến nơi biên ải xa xôi, người vợ phải ở nhà. Đó là hoàn cảnh của người chinh phụ trong hiện tại. Không những nêu lên hoàn cảnh hiện tại của người chinh phụ, 16 câu thơ đầu còn khắc họa hình ảnh của người vợ trẻ giữa không gian và thời gian. Về không gian, tác giả đã vẽ ra trước mắt chúng ta về hiên vắng, ngoài rèm, trong rèm. Đó là không gian hiu quạnh và vắng vẻ vô cùng.

Không chỉ thế, thời gian trong đoạn thơ này cũng được vẽ nên, đó là trục thời gian trôi chảy. Các hình ảnh hoa đèn, tiếng gà eo óc đã vẽ nên cái trục thời gian tuần hoàn: từ đêm đến đêm khuya và trời dần trở về sáng. Nói như thế có nghĩa là người chinh phụ đã thức suốt năm canh để chờ đợi, ngóng trông và gặm nhấm nỗi cô đơn, sầu muộn của mình.

Tóm lại, đoạn trích đã cho ta thấy được hình ảnh của người chinh phụ nổi bật giữa không gian và thời gian. Vậy giữa cái khoảng không gian quạnh vắng, cô đơn chiếc bóng ấy, giữa thời gian lê thê của năm canh ấy người chinh phụ đã làm gì?

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

Hai câu thơ đầu đã cho chúng ta thấy hình ảnh của người chinh phụ với những hành động thật lạ kì. Người chinh phụ dạo hiên, người chinh phụ ngồi rèm. Thế nhưng, nàng dạo hiên mà thầm gieo từng bước, nàng ngồi rèm mà rủ thác đòi phen. Đó là hành động quanh quẩn, được lặp lại nhiều lần. Có thể thấy hành động này bất thường bởi lẽ nàng dạo hiên mà đếm từng bước chân. Nàng ngồi trước cửa sổ mà hết hạ rèm xuống rồi kéo rèm lên.

Hành động vô thức ấy cứ lặp đi lặp lại để cho thấy được rõ ràng bên trong người chinh phụ đang chất đầy tâm trạng. Nàng ngồi rèm, nàng dạo hiên không phải đề hòa mình với thiên nhiên, mà là để trông ngóng một điều gì đó. Có thể thấy, 2 câu thơ đầu đã đặc tả được sự cô đơn, lẻ loi, vắng bóng cũng như hé mở tâm trạng bên trong của người vợ trẻ này. Nàng đang chờ đợi, ngóng trông điều gì mà lòng thổn thức không yên. Và đến những câu thơ tiếp theo thì tâm sự của người chinh phụ đã được hé mở:

Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

Cụm từ “thước chẳng mách tin” hé lộ mọi tâm trạng của người chinh phụ. Thì ra người vợ trẻ ấy đang chờ đời con chim thước – con chim báo tin lành, tin của người chồng nơi biên ải xa xôi. Thế nhưng, con chim thước không đến và người chồng cũng bặt vô âm tín.

Tiếp theo đó, tác giả đã sử dụng thủ pháp đối lập giữa ngoài rèm với trong rèm và câu hỏi tu từ: “Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”. Chính cái thủ pháp đối lập và câu hỏi tu từ, một lần nữa cho chúng ta thấy được cái tâm trạng trách móc, buồn bã của người chinh phụ.

Bên cạnh đó, ta còn cảm nhận được sự tuyệt vọng của người vợ đang mòn mỏi chờ đợi tin tức của chồng. Những câu thơ đầu vẽ nên tình cảnh của người chinh phụ trong lẻ loi, cô đơn, vô vọng. Người chinh phụ ấy thật đáng thương biết bao. Và đáng thương hơn nữa khi nàng chỉ biết làm bạn với ngọn đèn:

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

Với thủ pháp điệp từ: “đèn biết chăng”; “đèn có biết”. Tác giả đã vẽ nên dòng tâm trạng triền miên, day dứt, không nguôi của người vợ trẻ. Thêm vào đó, với câu hỏi tu từ” đèn có biết dường bằng chẳng biết” như là một nỗi ám ảnh, như là một tiếng lòng thổn thức không nguôi của người chinh phụ. Hai câu thơ này đã cho ta thấy tâm trạng buồn rầu, xót xa của người vợ khi chờ đợi mãi mà chưa có tin tức gì. Không chỉ thế, 2 câu thơ với câu hỏi tu từ đã tạo nên một dòng chảy tâm trạng triền miên, day dứt. Và dòng tâm trạng ấy lại trở nên dai dẳng hơn nữa, triền miên hơn nữa khi nó đặt giữa một không gian và thời gian chẳng bao giờ ngừng và đứt đoạn:

Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

Bên cạnh việc sử dụng phép điệp, câu hỏi tu từ, đoạn thơ còn sử dụng nhiều hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng: hoa đèn, bóng người và cạm từ như bi thiếp, buồn rầu. Với những hình ảnh và cụm từ ấy, tác giả một lần nữa cho ta thấy sự cô đơn, sầu muộn. Đặc biệt hình ảnh hoa đèn khiến ta liên tưởng đến những câu ca dao thật hay thật đẹp về chuyện tình yêu:

Khăn thương nhớ ai,
Khăn rơi xuống đất.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn vắt lên vai.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn chùi nước mắt.
Đèn thương nhớ ai,
Mà đèn không tắt.
Mắt thương nhớ ai,
Mắt ngủ không yên.
Đêm qua em những lo phiền,
Lo vì một nỗi không yên một bề…

Cô gái trong bài ca dao hay người vợ trẻ trong chinh phụ ngâm khúc đều phải mòn mỏi từng ngày, từng tháng, từng năm để ngóng trông tin tức của người yêu, người chồng. Không chỉ thế, hình ảnh hoa đèn và bóng người khá thương còn gợi ta liên tưởng đến chuyện người con gái nam xương của nguyễn dữ. Cả vũ nương trong tác phẩm này và người chinh phụ của đặng trần côn. Cảnh vật trong đoạn trích này vẫn không thay đổi, nhưng thời gian lại trôi chảy tuần hoàn:

Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.

Cụm từ âm thanh “gà eo óc” đã diễn tả được sự trôi chảy của thời gian. Nếu như ở các câu thơ trước xuất hiện hình ảnh đèn-báo hiệu đã tối, hoa đèn – báo hiệu đã khuya, và cuối cùng là tiếng gà – báo hiệu trời đã sáng. Không chỉ có âm thanh tiếng gà eo óc mà còn có cả không gian qua hình ảnh lá hèo. Hình ảnh hòe phất phơ rủ bóng bốn bên gợi lên một không gian vắng lặng, tĩnh mịch, hoang vắng. Người xưa đã nói: Thức đêm mới biết đêm dài. Phải thức đêm mới biết được cái khoảng thời gian ấy trôi qua một cách lê thê. Người chinh phụ đã cảm nhận được dòng thời gian trôi chảy:

Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Thủ pháp so sánh “trích thơ” cùng với các từ láy đằng đẵng dằng dặc đã cho chúng ta cảm nhận được cái âm điệu sầu não, day dứt của đoạn thơ. Không chỉ tạo nên cái âm điệu sầu não, tác giả đã sử dụng thủ pháp lấy cảnh ngụ tình để thể hiện nỗi cô đơn, vắng bóng, sầu khổ của người chinh phụ. Nỗi nhớ ấy dài lê thẻ tựa cả một năm. Không những dài mà nỗi nhớ ấy còn rộng, sâu tự biển cả rộng lớn. Ai có thể thấy được bờ bến của biển khơi, ai có thể thấu được cái lòng đại dương kia đến tận đâu. Tấm lòng của người chinh phụ được ví von với những hình ảnh mang đậm sắc thái biểu cảm như thế.Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi.

Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.

Trong đoạn thơ này tác giả đã liệt kê hàng loạt hành động của người chinh phụ. Người chinh phụ đốt hương,soi gương, gảy đàn. Thế nhưng những hành động ấy đều gượng gạo và miễn cưỡng. Nằng làm đó nhưng đó là hành động của người có xác mà không hồn. nàng làm đó nhưng bên trong tư tưởng tâm trí lại nghĩ về điều khác. Người chinh phụ đốt hương cầu mong hạnh phúc gđ, nhưng nàng đốt hương mà hồn đà mê mải. Nàng soi gương nhưng soi gương làm chi, trang điểm làm gì khi không có chồng bên cạnh. Hình ảnh người chinh phụ soi gương khiến ta liên tưởng đến bài thơ Khuê oán của vương xương linh. Trong bài thơ này, tác giả đã khắc họa hình ảnh người chinh phụ trang điểm sau đó lên lầu để ngắm cảnh. Nhưng lên đến lầu mới nghiệm ra nhiều điều:

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
Hối giao phu tế mịch phong hầu.

(Chợt thấy màu dương liễu tốt tươi ở đầu đường,
Bỗng hối hận đã để chồng đi tòng quân để kiếm phong hầu.)

Khi trông thấy dáng liễu bên đường mới nhận ra thời gian trôi chảy vô tình, nhan sắc của nàng dần tàn phai và người chồng ngày ra đi chưa biết ngày trở về. Nhân vật trữ tình còn gảy đàn. Nàng gảy đàn để tìm đến thú vui tao nha. Mong rằng tiếng đàn kia sẽ làm vơi bớt nỗi muộn phiền. Thế nhưng, gảy đàn mà lại dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng:

Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.

Câu thơ sử dụng điển tích dây uyên và phím loan. Chính 2 điện tích này đã diễn tả tâm trạng tiếp theo của người chinh phụ. Không chỉ cô đơn, không chỉ lẻ loi, không chỉ sầu muộn mà lúc này đây tràn đầy nỗi lo lắng và sợ hãi. Nàng sợ dây uyên ngại chùng sợ điềm gở sẽ đến, sợ vợ chồng chia lìa xa cách.

Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khỏa nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc. Khi Hương gượng đốt thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc Gương gượng soi thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn long phụng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia lìa đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy.

Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia Hai đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, hồng chí còn biết gửi nhớ thương theo cơn gió

Với thể thơ song thất lục bát, cách dùng từ, hình ảnh ước lệ, điệp từ điệp ngữ, nghệ thuật miêu tả nội tâm, 16 câu thơ đã thể hiện một cách tinh tế những cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ ở người chinh phụ, luôn khao khát được sống trong hạnh phúc, tình yêu lứa đôi. Đoạn trích còn thể hiện tấm lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc của tác giả với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ, cất lên tiếng kêu nhân đạo, phản đối chiến tranh phi nghĩa.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 7

Chinh Phụ Ngâm là một trong những tác phẩm văn học trung đại xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam mà ở đó, lồng ghép những mạch cảm xúc, câu chuyện thấm đẫm nỗi bi thương về thân phận người phụ nữ thời kỳ lúc bấy giờ, đồng thời gián tiếp miêu tả chân thực bức tranh hiện thực xã hội cay đắng, bất công.

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Không gian hiên vắng, ngay từ những vần thơ đầu đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận u buồn, kết hợp với các động từ như “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, bồn chồn, thấp thỏm của người phụ nữ dưới mái hiên nghèo, những ngày động cứ lặp lại vô nghĩa, càng thể hiện sự hoang hoải và trống rỗng trong tâm trí. Và rồi dường như, nhân vật đang phân tâm để đối thoại độc thoại với chính mình, mà lại vừa có cảm giác như một lời trách móc:

Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”

Bắt đầu từ đây, người chinh phụ bộc lộ nỗi lòng cô đơn và sự nhớ mong, nhớ thương khôn xiết đến người chinh phụ nơi chiến trận phương xa. Nàng không chỉ mang nỗi nhớ đơn thuần, mà còn mang trong lòng sự khắc khoải khôn nguôi, trằn trọc khi không nhận được tin tức về người chinh phụ. Hình ảnh chim thước – loài vật báo tin tốt lành xuất hiện chính là sự minh họa rõ nhất cho nỗi lòng ấy. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm mọi không gian, thậm chí lan thấm vào nhuốm vào màu không gian một sắc buồn ảm đạm. Càng nhớ, càng mong mỏi được giãi bày, và ngọn đèn trở thành người tri kỉ trong vò võ cô đơn để người chinh phụ tâm sự. Ca dao xưa đã từng có bài ca dao khăn thương nhớ ai, cũng miêu tả hoàn cảnh của người phụ nữ trong vò võ đêm trường, một mình bầu bạn với ngọn đèn khuya, chính ngọn đèn khuya leo lét, lạnh lẽo càng nhấn mạnh thêm tình cảnh trơ trọi lẻ loi của người chinh phụ:

“Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Người chinh phụ tự thương cho thân phận mình, bỗng nhận thấy trong bóng đèn dầu kia phản chiếu lên bức tường với số phận, thân phận mình như nhập hòa làm một, nỗi buồn mượn ngọn đèn để san sẻ nhưng cũng chẳng thể thỏa nỗi nhớ mong, niềm khát khao đồng điệu.

“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”

Không gian khi càng về sáng, càng yên tĩnh, đó cũng là không gian mà tâm trạng những người cô đơn càng thêm đơn độc, lẻ loi biết nhường nào. Cảnh vật xung quanh cũng heo hút, phất phơ, các từ eo óc, phất phơ, càng gợi cho ta cảm giác rằng người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nỗi nhớ vốn vô hình, vốn không thể cân đong đo đếm, nay được định lượng hóa bằng sự đằng đằng của tháng năm, bằng sự rộng dài của dòng thời gian trường cửu, càng thêm quay quắt và trở nên trơ trọi. Và giờ đây, nỗi nhớ đã trở thành mối sầu tựa miền ải xa, nghĩa là nó không chỉ thuộc về cảm xúc, mà còn đang mang những âu lo, khắc khoải, rợn ngợp về tương lai.

Xem thêm:  Đâu là khó khăn đặc trưng của học sinh tiểu học trong cuộc sống học đường?

Những phím đàn gảy lên càng gợi cảm giác về sự đơn độc, về sự hoang hoải trống vắng trong tâm hồn, và tràn ngập những nỗi sợ hãi về tương lai, về sự cách lý

Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã lột tả một cách sống động chân thực cảm xúc cô đơn và nỗi nhớ thương khắc khoải đến quặn thắt của người chinh phụ, đồng thời qua đó gián tiếp vạch trần tội ác của chế độ chiến tranh phi nghĩa năm xưa, khiến gia đình phải tan tác, đau thương.

Nội dung trên đây,admin Abcland.Vn đã tổng hợp và gửi tới bạn đọc chi tiết về chủ đề “Văn mẫu lớp 10: Phân tích 16 câu đầu bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ❤️️”. Admin hy vọng bài viết chúng tôi chia sẻ về “Văn mẫu lớp 10: Phân tích 16 câu đầu bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” sẽ giúp có nhiều thông tin hơn về “Văn mẫu lớp 10: Phân tích 16 câu đầu bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ [ ❤️️❤️️ ]”. Hãy đóng góp ý kiến để abcland.vn biên soạn bài viết chất lượng hơn về “Văn mẫu lớp 10: Phân tích 16 câu đầu bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” bạn nhé.

Bài viết “Văn mẫu lớp 10: Phân tích 16 câu đầu bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” được đăng bởi vào ngày 2022-04-26 12:41:01. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Xem thêm về Văn mẫu lớp 10: Phân tích 16 câu đầu bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
#Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #câu #đầu #bài #thơ #Tình #cảnh #lẻ #loi #của #người #chinh #phụ

Phân tích 16 câu đầu bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ gồm 2 dàn ý chi tiết kèm theo 7 bài văn mẫu hay, được đánh giá cao. Qua 7 bài phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu giúp các bạn lớp 10 có nhiều ý tưởng tham khảo, biết cách chọn lọc để tránh tình trạng trùng lặp ý, thiếu ý, lạc đề hoặc triển khai ý không cân xứng.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu giúp chúng ta hiểu rõ nét hơn những nỗi cô đơn của người phụ nữ trong xã hội cũ khi có chồng đi chinh chiến. Nó là nỗi cô đơn da diết kéo dài theo không gian thời gian. Từ đó cho thấy hậu quả của chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Vậy sau đây là 7 bài văn mẫu phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu, mời các bạn cùng đón đọc nhé.
Dàn ý Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu
1. Mở bài 
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích
Đặng Trần Côn (không rõ năm sinh năm mất) quê ở làng Nhân Mục, Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội, sống vào thời Lê Trung Hưng.
Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là tác phẩm viết bằng chữ Hán gây tiếng vang lớn trong giới nho sĩ đương thời với nhiều bản dịch và phỏng dịch Nôm khác nhau (Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khản, Phan Huy Ích, Bạch Liên Am Nguyễn). Bản hiện hành là bản dịch thành công nhất.
Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (từ câu 193 đến 216) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.
– Giới thiệu khái quát 16 câu thơ đầu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.
a. Hành động lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, vô vị
– “Thầm reo từng bước”: Bước chân lặng lẽ dạo trên hiên vắng.
– “Rủ thác đòi phen”: Vào trong phòng cuốn rèm, buông rèm
→ Hành động lặp lại đi lặp lại một cách vô thức, thể hiện sự bần thần, bất định của người chinh phụ
– Chữ “vắng, thưa”: Không chỉ gợi sự vắng lặng của không gian mà còn cho thấy nỗi trống vắng trong lòng người người chinh phụ
b. Thao thức ngóng trông tin chồng
– Ban ngày:
Người chinh phụ gửi niềm hi vọng vào tiếng chim thước – loài chim khách báo tin lành.
Nhưng thực tế “thước chẳng mách tin”: Tin tức chồng vẫn bặt vô âm tín.
– Ban đêm:
Người chinh phụ thao thức cùng ngọn đèn hi vọng đèn biết tin tức về chồng, san sẻ nỗi lòng cùng nàng.
Thực tế: “Đèn chẳng biết” “lòng thiếp riêng bi thiết” Câu thơ có hình thức đặc biệt khẳng định rồi lại phủ định, ngọn đèn có biết cũng như không vì nó chỉ là vật vô tri không thể san sẻ nỗi lòng cùng người chinh phụ.
So sánh với bài ca dao “khăn thương nhớ ai”, bài ca dao cũng có xuất hiện hình ảnh ngọn đèn. Nếu “đèn” trong bài ca dao là tri âm tri kỉ với người phụ nữ thì ở đây ngọn “đèn” lay lắt lại cứa sâu thêm nỗi đau trong lòng người.
– Hình ảnh so sánh “hoa đèn” và “bóng người”.
“Hoa đèn” dầu bấc ngọn đèn, thực tế là than. Cũng giống như ngọn đèn cháy hết mình để rồi chỉ con hoa đèn tàn lụi, người phụ nữ đau đáu hết lòng chờ chồng nhưng cuối cùng nhận lại sự cô đơn, trống trải.
Liên hệ với nỗi cô đơn của Thúy Kiều sau khi từ biệt Thúc Sinh trở về với chiếc bóng năm canh:
c. Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về ngoại cảnh.
– “Gà gáy”, “sương”, “hòe”: Là những hình ảnh gắn với cuộc sống thôn quê bình dị, yên ả
– Từ láy “eo óc, phất phơ”: Cực tả vẻ hoang vu, ớn lạnh đến ghê rợn của cảnh vật.
→ Dưới con mắt trống trải cô đơn cả người chinh phụ, những cảnh vật vốn gắn với cuộc sống yên bình, êm ả nay trở nên khác thường, hoang vu, ớn lạnh. Đó là cách nói tả cảnh để ngụ tình.
d. Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về thời gian.
– “Khắc giờ đằng đẵng”, “mối sầu dằng dặc”: Thể hiện sự dàn trải của nỗi nhớ miên man không dứt.
– Biện pháp so sánh kết hợp với các từ láy giàu giá trị gợi hình gợi cảm “dằng dặc, đằng đẵng” cho thấy sự cảm nhận khác thường về thời gian, mỗi phút mỗi giờ ngắn ngủi trôi qua mà nặng nề như một năm dài, thời gian càng dài mối sầu càng nặng nề hơn.
→ Câu thơ cực tả nỗi cô đơn tột cùng tột độ trong lòng người chinh phụ
e. Hoạt động gắng gượng duy trì nếp sống hằng ngày.
– Điệp từ “gượng”: nhấn mạnh sự cố gắng gò ép mình của người chinh phụ
– Mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm:
Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành
Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.
Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.
⇒ Tiểu kết:
– Nội dung: Khắc họa tâm trạng cô đơn, lẻ loi, trống vắng của người phụ nữ, ẩn sau đó thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nỗi đau khổ của con người.
– Nghệ thuật:
Giọng thơ trầm buồn, khắc khoải, da diết, trầm lắng
Khắc họa nội tâm nhân vật tài tình, tinh tế thông qua hành động nhân vật, yếu tố ngoại cảnh, độc thoại nội tâm
Các biện pháp tu từ: So sánh, điệp từ, từ láy.
3. Kết bài 
– Khái quát lại giá trị nội dung của đoạn thơ đối với đoạn trích: Khắc họa tâm trạng cô đơn, lẻ loi, trống vắng của người phụ nữ, ẩn chứa thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nỗi đau khổ của con người.
Dàn ý phân tích 16 câu đầu bài tình cảnh lẻ loi
I. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Đặng Trần Côn và tác phẩm Chinh phụ ngâm
– Giới thiệu về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
II. Thân bài
1. 16 câu đầu: Nỗi cơ đơn, lẻ loi của người chinh phụ
a) 8 câu thơ đầu
– Không gian:
Hiên vắng: vắng vẻ, hiu quạnh
Khuê phòng: cô đơn, nhớ nhung
– Thời gian:
Đèn: ban đêm, thời gian của tâm trạng
Hoa đèn: thời gian qua lâu gợi nỗi niềm khắc khoải
– Hành động của người chinh phụ:
+ Dạo – gieo từng bước: đi đi lại lại, quanh quanh, quẩn quẩn
⇒ Nỗi nhớ như ngưng đọng trong từng bước đi
Rủ thác: hành động vô thức, không có chủ đích
Nghe ngóng tin tức: nhớ mong, khao khát người chồng trở về
Giãi bày, chia sẻ với ngọn đèn – vật vô tri vô giác
– Biện pháp nghệ thuật:
Điệp ngữ vòng: đèn biết chăng – đèn có biết, diễn tả tâm trạng buồn triền miên, kéo dài lê thê trong thời gian và không gian, dường như không bao giờ đứt, ngừng.
Câu hỏi tu từ: đèn biết chăng? ⇒ như một lời than thở, thể hiện nỗi khắc khoải đợi chờ và hi vọng luôn day dứt không yên trong người chinh phụ.
b) 8 câu thơ còn lại
– Cảnh vật thiên nhiên:
+ Gà eo óc gáy – sương năm trống: gà gáy báo hiệu canh năm, báo hiệu người vợ trẻ xa chồng đã thao thức suốt đêm
⇒ Tiếng gà khắc khoải như xoáy sâu vào tính chất tĩnh lặng của không gian, đồng thời cũng xoáy sâu vào tâm trạng người chinh phụ
+ Hòe phất phơ: cảnh vật quạnh hiu
– Cảm thức của người chinh phụ về thời gian:
Hòe: bóng cây hòe ngoài sân, trong vườn ngắn rồi lại dài, dài rồi lại ngắn, thể hiện sự trôi đi của thời gian – thời gian của xa cách và nhớ thương
Thời gian của tâm trạng:
Khắc, giờ ———— niên
Mối sầu ———— biển xa
– Hành động của người chinh phụ:
Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành
Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.
Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.
⇒ Sự mâu thuẫn giữa cảm xúc và lí trí
⇒ 16 câu thơ đầu thể hiện tình cảnh lẻ loi, nỗi cô đơn sầu muộn của người chinh phụ.
2. Nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ
a) 6 câu thơ đầu
– Hình ảnh thiên nhiên:
Gió đông: gió mùa xuân, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên.
Non Yên: núi Yên Nhiên, nơi phương bắc xa xăm – nơi người chồng đang chinh chiến.
– Biện pháp nghệ thuật
Hình ảnh ước lệ: non Yên.
Điệp ngữ vòng: non Yên, trời
Từ láy: thăm thẳm, đau đáu.
⇒ Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, không chỉ là không gian vô tận ngăn cách hai vợ chồng, mà còn là nỗi nhớ không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà.
b) 2 câu còn lại
– Hai câu thơ mang tính khái quát, triết lý sâu sắc
– Lời thơ chuyển sang độc thoại nội tâm, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng người chinh phụ với hình ảnh người chinh phụ tràn ngập trong tâm tưởng.
⇒ 8 câu thơ cuối như lời gửi gắm nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa xôi.
III. Kết bài
– Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
– Liên hệ với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến có chồng đi lính
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 1
Là con người, ai cũng khiếp sợ chiến tranh, bởi chiến tranh gắn liền với máu và nước mắt. Vào thế kỉ thứ XVIII, tình hình xã hội nước ta vô cùng rối ren, chính trị bất ổn, chiến tranh liên miên. Triều đình cần nhiều binh lính để chiến đấu. Vì vậy, rất nhiều trai tráng đã từ giã gia đình và gia nhập quân ngũ. Nhưng “cổ lai chinh chiến khứ nhân hồi” tức có nghĩa là xưa nay, đi chiến đấu có mấy ai trở về. Thật vậy, sự ra đi không hẹn ngày về của những người chồng đã khiến cho người vợ của họ, những người thiếu phụ đã trở thành những người chinh phụ. Người khuê phụ trong bài thơ “Khuê oán” của Vương Xương Linh từng thốt:
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,Hối giao phu tế mịch phong hầu.
Nỗi niềm này một lần nữa chúng ta lại bắt gặp trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” nguyên tác của Đặng Trần Côn. Đây là đoạn trích trong khúc ngâm được xem là tiêu biểu nhất cho thể loại khúc ngâm trong văn học Việt Nam. Dưới trí tuệ của dịch giả Đoàn Thị Điểm – người “tài sắc nương tử xưa hiếm nay không, xuất khẩu thành chương, bản chất thông minh” mà tuyệt tác Hán ngôn “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn một lần nữa thăng hoa. Đặc biệt 16 câu đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” – bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm, dù ngắn nhưng Đoàn Thị Điểm đã làm nổi bật lên bức tranh tâm trạng của người chinh phụ với những cảm nhận về thời gian chờ đợi và nỗi cô đơn, buồn nhớ, sầu lo dành cho người chinh phu:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bướcNgồi rèm thưa rủ thác đòi phen…Sắt cầm gượng gảy ngón đànDây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”
Nửa đầu thế kỷ XVIII, “chính sự hư hỏng, thuế khóa nặng nề”, khắp nơi nông dân vùng lên khởi nghĩa và chúa Trịnh đã tiến hành nhiều cuộc đánh dẹp. Những cảnh vợ chồng chia lìa, nhà cửa ly tán đã khiến Đặng Trần Côn xúc động mà làm ra khúc ngâm. Tác phẩm là lời tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa; đồng thời là tiếng nói khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi vốn ít được thơ văn các thời kỳ trước chú ý. Nguyên tác “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn gồm 477 câu viết bằng chữ Hán theo thể trường đoản cú. Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, có lẽ do đồng điệu với người chinh phụ, đã diễn Nôm thành 408 câu song thất lục bát. Đoạn trích trên được trích từ câu 193 đến câu 288 của nguyên tắc, là tình cảnh và tâm trạng của người chinh phụ trong những năm tháng chồng đi đánh trận: tình cảnh cô đơn và khát khao được giãi bày, chia sẻ.
Tâm trạng của người chinh phụ trước hết được bộc lộ thông qua không gian và hành động:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bướcNgồi rèm thưa rủ thác đòi phen”
Thủ pháp đối “hiên vắng” với “rèm thưa” không chỉ miêu tả không gian mà còn hé lộ tâm trạng. “Hiên vắng” cho thấy chẳng có ai ngoài người chinh phụ nhưng thực chất trong nhà còn có cha mẹ chồng và các con, đâu chỉ mình nàng. Song, cái vắng lặng kia của không gian phải chăng toát ra từ cõi lòng cô đơn, trống vắng của người chinh phụ? Qua con mắt ngóng trông, bức rèm dẫu có dày, cũng trở thành “rèm thưa”. Ngoài không gian, hành động nhân vật cũng là phương tiện miêu tả nội tâm nhân vật hiệu quả. Hai câu thơ có đến bốn động từ chỉ hoạt động: “dạo”, “ngồi, “rủ”, “thác” nhưng trọng tâm câu thơ lại không rơi vào những chữ ấy mà nó nằm ở những trạng từ diễn tả tính chất của hành động: “thầm gieo từng bước” và “đòi phen”. “Thầm gieo từng bước” không phải “đi” hay “bước” mà là “gieo” tức âm thầm mà vẫn nặng lòng, làm nặng luôn cả bước chân! Bước chân nặng nề ấy dường như độc giả còn bắt gặp trong “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều:
Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoảiNgán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ
Bài thơ “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều cũng là một bài thơ viết về nỗi lòng của người phụ nữ
Thật buồn khi những bước chân ấy đều là những bước chân mang nỗi lòng của những người phụ nữ đáng thương. Còn “đòi phen” là một từ cổ, có nghĩa là “nhiều lận”. Động tác buông rèm và cuốn rèm được lặp đi lặp lại trong dáng vẻ vô hồn, vô thức. Không có gì thay đổi, nghĩa là kết quả của chuỗi ngày đợi chờ trong mỏi mòn, hy vọng trong vô vọng. Đó là sự tái hiện nhiều khoảnh khắc giống nhau, đó cũng là sự dồn nén tâm trạng.
Không chỉ qua không gian và hành động mà tâm trạng của người chinh phụ còn được bộc lộ rõ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tinTrong rèm dường đã có đèn biết chăng?Đèn có biết dường bằng chẳng biếtLòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”
Hướng ra “ngoài rèm”, nàng mong chờ chim thước báo tin vui, rằng chồng đã trở về an lành. Nhưng tuyệt nhiên, điều nhận lại chỉ là sự im lặng đến đáng sợ: “Ngoài rèm thước chẳng mách tin”, và thế là đành trở về độc thoại trong nỗi cô đơn của chính mình. Câu thơ như một cái lắc đầu tuyệt vọng. Câu hỏi tu từ “trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” mang hình thức đối thoại với ngọn đèn, nhưng thực chất là độc thoại nội tâm đấy thôi, nào có ai để mà giãi bày, chia sẻ! Thủ pháp đối “trong rèm – ngoài rèm” cho thấy một hiện thực tù túng: nhìn ra ngoài hay nhìn vào trong thì cuối cùng cũng chỉ quanh quẩn, trói buộc bên song cửa sổ, trong một không gian chật hẹp. Không gian tự thân đã chứa đựng khả năng biểu đạt tâm trạng. Càng vắng lặng, chật hẹp, tù túng thì càng cảm nhận rõ hơn hết nỗi trống vắng, cô đơn. Và vì thế mà càng bị nỗi sầu bủa vây, không cách nào giải tỏa.
Cách nói có vẻ mâu thuẫn “Đèn có biết dường bằng chẳng biết” cho thấy một nỗi hụt hẫng, thất vọng. Ngọn đèn được nhân hoá với mục đích thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ nỗi lòng của người chinh phụ. Nhưng suy cho cùng đèn cũng chỉ là một vật vô tri vô giác mà thôi! Trong tâm hồn người chinh phụ tưởng chừng đã lóe lên niềm vui, bởi đã có người đồng cảm, sẻ chia, để thỏa niềm khao khát được giãi bày và thoát khỏi cảnh sống cô đơn, chờ đợi của hiện tại. Nhưng cũng ngay lập tức nàng nhận thức được hiện thực không gì khác ngoài: khổ đau, chia lìa và vô vọng, càng mong mỏi, khát khao lại càng bế tắc, tuyệt vọng. Thật bi kịch khi càng muốn thoát ra thì nàng càng bị nỗi sầu muộn trói chặt hệt như người sắp đuối nước tưởng đã tìm thấy chiếc phao cứu sinh. Nào ngờ…
Hình ảnh “ngọn đèn” vốn là thi liệu quen thuộc trong ca dao viết về nỗi nhớ tình yêu:
“Đèn thương nhớ aiMà đèn mà đèn không tắt”
Hay:
“Mong anh mà chẳng thấy anhThiếp tôi buồn bã khêu quanh ngọn đèn”
Rồi lại:
“Đêm qua gió bấc mưa dầmĐèn lầm với bóng, bóng lầm với ai?”
Trò chuyện với “ngọn đèn” là thế! Song, “lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” – là lời người chinh phụ tự bạch với chính mình. Tính từ “bi thiết” không chỉ diễn tả nỗi buồn mà hơn thế, đó còn là nỗi đau tự ý thức về tình cảnh cô đơn và nỗi sầu không ai chia sẻ được đang trở đi trở lại vò xé tâm can người chinh phụ.
Tâm trạng của người chinh phụ, cuối cùng, được bộc lộ thông qua ngoại hình nhân vật:
“Buồn rầu chẳng nói nên lờiHoa đèn kia với bóng người khá thương”
Nét mặt và dáng vẻ “buồn rầu”, cô đơn, tiều tụy ấy là kết quả của những chuỗi ngày mòn mỏi đợi chờ, cho thấy sự sống kéo lê, tàn tạ, nhạt nhòa. Phải chăng đó chỉ là tồn tại, nào phải sống cuộc sống của một con người? Nhìn kiếp “hoa đèn” lụi tàn, người chinh phụ tự thương cho kiếp mình tàn lụi. Người và vật cuối cùng cũng chẳng khác gì nhau. Thật đáng thương! Thật đau xót! Đặc tả những nét ngoại hình ấy của nhân vật, ngòi bút không chỉ xoáy sâu vào từng ngóc ngách để mổ xẻ tâm lí nhân vật, mà hơn thế, chính tác giả và dịch giả đang sống và trăn trở cùng nhân vật, đau nỗi đau của nhân vật trữ tình. Đó là dùng chiều sâu của tâm hồn, chiều rộng của tình thương để thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ cùng nhân vật. Vì thế mà ở dòng thơ cuối cùng, lời nhân vật, lời tác giả và dịch giả dường như đã hòa làm một trong một niềm đồng cảm.
Sau những tháng ngày khắc khoải trong mong chờ: hết “dạo hiên vắng” lại “ngồi rèm thưa”, hết ngóng tin từ chim thước ngoài rèm, đến tìm kiếm một sự đồng cảm từ ngọn đèn trong rèm; người chinh phụ bắt đầu có cảm nhận sâu sắc về thời gian chờ đợi:
“Gà eo óc gáy sương năm trốngHoè phất phơ rủ bóng bốn bên.”
Trước tiên đó là cảm nhận về sự thay đổi của thiên nhiên, cảnh vật: đêm, tiếng gà nhức nhối suốt năm canh; ngày, sự dịch chuyển của bóng cây hòe trên mặt đất. Sự quan sát thiên nhiên này đã hé lộ tư thế của nhân vật trữ tình: người chinh phụ “ngồi nhẫn tàn canh” trong cảnh đợi chờ. Có thể nói, chờ mong đã trở thành tâm trạng thường trực của nàng. Từ láy tượng thanh “eo óc” và từ láy tượng hình “phất phơ” càng khắc sâu thêm không gian hiu quạnh, tĩnh lặng của cảnh vật, cũng như tâm trạng trống vắng, cô đơn của con người. Bút pháp “tả cảnh ngụ tình”, “lấy động tả tĩnh” đã được vận dụng một cách tinh tế, hiệu quả. Hình ảnh cây hòe trong màn đêm “phất phơ rủ bóng” cũng gợi lên cảm giác man mác buồn, xót xa. Hình ảnh “rủ bốn bên” của cây hòe còn biểu hiện bước đi của mặt trời trọn một ngày. Nếu như hình ảnh cây hòe bắt gặp trong bài “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi tượng trưng cho sự tươi tốt, căng tràn sức sống “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương” thì đến với cây hòe trong bài “Chinh phụ ngâm” lại được đặt trong đêm khuya thanh vắng, thấm đượm nỗi buồn. Từ đó ta thấy được nghệ thuật dùng từ của tác giả, đó là sự chọn lọc một cách tinh tế từ ngữ để biểu thị cảm xúc, tâm trạng.
Nếu như ở cặp song thất, cảm nhận của người chinh phụ về thời gian được gợi lên qua cái nhìn về cảnh vật, thì ở cặp câu lục bát, nhân vật trữ tình đã trực tiếp giãi bày cảm nhận, tâm trạng của mình:
“Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Xưa nay trong cảnh đợi chờ, bao giờ con người cũng cảm thấy thời gian chảy trôi với một nhịp điệu hết sức chậm rãi, như muốn trêu ngươi, kéo dài khoảnh khắc chờ đợi của con người. Như trong “Kinh Thi” của Trung Quốc từng ví “nhất nhật tựa tam thu” hay trong “Truyện Kiều”, khi miêu tả nỗi niềm tương tư trong tình yêu, Nguyễn Du cũng đã để Kim Trọng phải thốt lên: “Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dồn lại một ngày dài ghê!”. Trong Chinh phụ ngâm, thời gian chờ đợi của đôi lứa đang trong cảnh ngộ chia lìa dường như càng đáng sợ, khủng khiếp hơn, nhất là khi nó được cảm nhận từ một người thiếu phụ: từng khắc, từng giờ trôi đi như đã qua cả một năm vậy! Nỗi buồn tủi, cô đơn cũng theo đó mà vô cùng vô tận như biển xa.
Thủ pháp so sánh “như, tựa” với những hình ảnh tưởng chừng như khoa trương, ước lệ “khắc giờ như niên” rồi lại “mối sầu tựa biển”, nhưng lại rất thực với tâm trạng mòn mỏi, nỗi lòng ngổn ngang của người thiếu phụ có chồng đi chinh chiến. Bởi nó đã chuyển biến từ thời gian thật của ngoại cảnh (ở cặp song thất) đến thời gian của tâm lý (ở cặp lục bát này). So sánh bản diễn Nôm với nguyên tác, người đọc có thể thấy được thành công của bản dịch trong việc thể hiện nội dung tư tưởng, tình cảm của câu thơ. Nếu như trong bản chữ Hán của Đặng Trần Côn, đây là hai câu đoản cú “Sầu tự hải/Khắc như niên” thì trong bản diễn Nôm, ý thơ của nguyên tắc được diễn đạt tinh tế, sâu sắc và cảm động hơn. Đoàn Thị Điểm đã sử dụng tài tình thể song thất lục bát – vốn là thể thơ có khả năng dồi dào trong diễn đạt tâm tư tình cảm;vận dụng thành công các từ láy “đằng đẵng, dằng dặc” – một phương tiện ngôn từ đặc thù của tiếng Việt, để miêu tả chính xác, chân thật tâm trạng của nhân vật trữ tình. Bên cạnh đó bà còn hoán chuyển thứ tự hai câu thơ để mạch cảm xúc đi từ cảm nhận về ngoại cảnh “khắc giờ” cho đến lặn sâu vào nội tâm của con người “mối sầu”. Như vậy, trong không gian vô cùng và thời gian vô tận của sự chờ đợi, người chinh phụ chỉ thấy có mình đối diện đàm tâm với biển sầu của chính mình. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai quả thật tinh tế và sâu sắc khi nhận định rằng: “Đây là một trong những vần thơ mênh mông vô tận, như khối sầu trong lòng người yêu tự ngàn xưa”.
Trong sự bủa vây của mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa, người chinh phụ cố gắng tìm cách vượt ra khỏi, nhưng rốt cuộc vẫn không thoát nổi:
“Hương gượng đốt hồn đà mê mảiGương gượng soi lệ lại châu chanSắt cầm gượng gảy ngón đànDây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”
Nàng muốn làm mọi việc để quên đi nỗi nhớ chồng, nhưng xung quanh lại luôn là khung cảnh gợi nhớ, khơi dậy cảm giác về sự chia lìa lứa đôi hiện tại của nàng: “hương”, “gương” rồi sắt cầm” – đàn cầm và đàn sắt gảy hòa âm với nhau, thường dùng để ví cảnh vợ chồng hòa thuận, với dây đàn uyên ương và phím đàn loan phượng – hình ảnh biểu tượng của lứa đôi gắn bó: cặp uyên ương, loan phượng. Chính vì vậy, nỗi nhớ lại càng chất chồng. Cho nên, hết thảy ba lần lần người chinh phụ định làm những công việc bình thường của cuộc sống hằng ngày thì cũng chỉ là “gượng”. Chính phép điệp từ “gượng” gợi tả cử chỉ, dáng dấp: cố làm cho ra vẻ tự nhiên, bình thường khi đang có tâm trạng buồn, đồng thời nhấn mạnh sự gượng gạo đến tội nghiệp của nàng. Khi đốt hương, nàng lại chìm đắm vào nỗi sầu tủi miên man: “hồn đà mê mải”. Khi soi gương thì nàng lại nhớ hình ảnh cùng chồng soi chung nên không cầm được nước mắt “lệ lại châu chan”. Khi gắng “gảy ngón đàn” thì kinh sợ “dây uyên” bị “đứt”, lo ngại “phím loan” bị “chùng”, là những điềm gở báo hiệu sự không may của lứa đôi đang xa nhau. Ở những câu thơ này, yếu tố tự sự – thuật hành động, và yếu tố trữ tình – tả tâm trạng, xuất hiện sóng đôi, đan xen nhau. Trong cùng một câu thơ, vế trước chỉ việc làm, vế sau là sự biểu hiện tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình: “Hương gượng đốt / hồn đà mê mải” rồi “Gương gượng soi / lệ lại châu chan.” Thủ pháp đối kết hợp với liệt kê, đảo ngữ – đưa bổ ngữ chỉ vật lên trước hành động: “hương gượng đốt, gương gượng soi, sắt cầm gượng gảy, dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng” có tác dụng rất lớn đối với việc xây dựng yếu tố tự sự. Bên cạnh đó, từ ngữ cũng được Đoàn Thị Điểm lựa chọn, sử dụng rất “đắt”: “mê mải, châu chan, kinh, ngại” đã biểu đạt đến tận cùng các sắc thái tình cảm, cung bậc tâm trạng của nhân vật trữ tình. Chưa đến nỗi như người thiếu phụ ngày xưa vọng phu hóa đá, nhưng nàng chinh phụ của chúng ta đã phải sống trong nỗi cô đơn, buồn nhớ, sầu lo triền miên không dứt. Mọi nỗ lực nhằm xua tan đi buồn nhớ đều bất lực, vô dụng. Không thể thay đổi cảnh sống hiện tại, người chinh phụ lại càng khắc khoải âu sầu, càng rơi vào tuyệt vọng. Đó là sự bế tắc khủng hoảng đến độ trở thành bi kịch.
Đoạn trích đã thể hiện sự đồng cảm của tác giả – dịch giả khi khắc họa thành công bi kịch tâm trạng của người chinh phụ: khát khao được giãi bày, chia sẻ mâu thuẫn với hiện thực cô đơn, sầu muộn. Người chinh phụ đã bật lên tiếng nói thầm kín của lòng mình.
“Nếu như có những tư tưởng của thời đại, thì cũng có những hình thức của thời đại” (Bielinski). Trong văn học phong kiến “phi ngã”, Chinh phụ ngâm nói chung và đoạn trích nói riêng, ra đời để cất lên tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người, đặc biệt là người phụ nữ; qua đó, tố cáo chiến tranh phi nghĩa đương thời
Tiếng nói ấy xuất phát từ tấm lòng nhân đạo cao cả và tư tưởng nhân văn tiến bộ, và có ý nghĩa khai phá quan trọng: là tiền đề cho tinh thần nhân đạo đề cao quyền sống và quyền hạnh phúc lứa đôi của con người ở văn học giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX trỗi dậy mạnh mẽ trong Truyện Kiều, Cung oán ngâm, thơ Hồ Xuân Hương… sau này.
Hình ảnh ước lệ tượng trưng, giàu sức gợi hình, biểu cảm: sắt cầm, dây uyên, phím loan”. Đoạn trích đã chọn lọc đắt giá, khai thác hiệu quả những từ thuần Việt (thầm gieo, đòi phen, khá thương, gượng, kinh, ngại), đặc biệt hàng loạt những từ láy tượng thanh, tượng hình đậm đà tính dân tộc (eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, thăm thẳm, đau đáu); các biện pháp nghệ thuật thường xuất hiện trong thơ văn cổ (đối, điệp, nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, câu hỏi tu từ,…). Thể song thất lục bát của bản diễn Nôm góp phần quan trọng diễn tả được những trạng thái tình cảm miên man không dứt, phù hợp với giai điệu chung của khúc ngâm.
Có thể nói rằng cả khúc ngâm đọng thành một “mối sầu vạn cổ” mà không gây nhàm chán vì sự diễn biến tinh vi mà phong phú, đa dạng của đời sống nội tâm nhân vật. Chỉ riêng đoạn trích này, tâm trạng của người chinh phụ đã có những chuyển biến luân phiên: ngóng trông ngoại cảnh để tìm mối đồng cảm, nhưng không thành để rồi quay về độc thoại với nỗi cô đơn sầu muộn ngổn ngang trong sâu thẳm lòng mình; khi lóe sáng chút hy vọng, lúc lại rơi vào hố sâu tuyệt vọng, ủ rũ, bế tắc. Nếu nói rằng, lời lẽ trong “Chinh phụ ngâm” là sự “hoàn toàn thống nhất giữa ý, tình và âm thanh, nhịp điệu, những câu thơ đẹp vào bậc nhất trong thơ Việt Nam” (Hoài Thanh) thì đoạn trích này là một minh chứng.
16 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – Mẫu 2
Chinh Phụ Ngâm là một trong những tác phẩm văn học trung đại xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam mà ở đó, lồng ghép những mạch cảm xúc, câu chuyện thấm đẫm nỗi bi thương về thân phận người phụ nữ thời kỳ lúc bấy giờ, đồng thời gián tiếp miêu tả chân thực bức tranh hiện thực xã hội cay đắng, bất công.
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Không gian hiên vắng, ngay từ những vần thơ đầu đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận u buồn, kết hợp với các động từ như “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, bồn chồn, thấp thỏm của người phụ nữ dưới mái hiên nghèo, những ngày động cứ lặp lại vô nghĩa, càng thể hiện sự hoang hoải và trống rỗng trong tâm trí. Và rồi dường như, nhân vật đang phân tâm để đối thoại độc thoại với chính mình, mà lại vừa có cảm giác như một lời trách móc:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
Bắt đầu từ đây, người chinh phụ bộc lộ nỗi lòng cô đơn và sự nhớ mong, nhớ thương khôn xiết đến người chinh phụ nơi chiến trận phương xa. Nàng không chỉ mang nỗi nhớ đơn thuần, mà còn mang trong lòng sự khắc khoải khôn nguôi, trằn trọc khi không nhận được tin tức về người chinh phụ. Hình ảnh chim thước – loài vật báo tin tốt lành xuất hiện chính là sự minh họa rõ nhất cho nỗi lòng ấy. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm mọi không gian, thậm chí lan thấm vào nhuốm vào màu không gian một sắc buồn ảm đạm. Càng nhớ, càng mong mỏi được giãi bày, và ngọn đèn trở thành người tri kỉ trong vò võ cô đơn để người chinh phụ tâm sự. Ca dao xưa đã từng có bài ca dao khăn thương nhớ ai, cũng miêu tả hoàn cảnh của người phụ nữ trong vò võ đêm trường, một mình bầu bạn với ngọn đèn khuya, chính ngọn đèn khuya leo lét, lạnh lẽo càng nhấn mạnh thêm tình cảnh trơ trọi lẻ loi của người chinh phụ:
“Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
Người chinh phụ tự thương cho thân phận mình, bỗng nhận thấy trong bóng đèn dầu kia phản chiếu lên bức tường với số phận, thân phận mình như nhập hòa làm một, nỗi buồn mượn ngọn đèn để san sẻ nhưng cũng chẳng thể thỏa nỗi nhớ mong, niềm khát khao đồng điệu.
“Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Không gian khi càng về sáng, càng yên tĩnh, đó cũng là không gian mà tâm trạng những người cô đơn càng thêm đơn độc, lẻ loi biết nhường nào. Cảnh vật xung quanh cũng heo hút, phất phơ, các từ eo óc, phất phơ, càng gợi cho ta cảm giác rằng người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nỗi nhớ vốn vô hình, vốn không thể cân đong đo đếm, nay được định lượng hóa bằng sự đằng đằng của tháng năm, bằng sự rộng dài của dòng thời gian trường cửu, càng thêm quay quắt và trở nên trơ trọi. Và giờ đây, nỗi nhớ đã trở thành mối sầu tựa miền ải xa, nghĩa là nó không chỉ thuộc về cảm xúc, mà còn đang mang những âu lo, khắc khoải, rợn ngợp về tương lai.
Những phím đàn gảy lên càng gợi cảm giác về sự đơn độc, về sự hoang hoải trống vắng trong tâm hồn, và tràn ngập những nỗi sợ hãi về tương lai, về sự cách lý.
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã lột tả một cách sống động chân thực cảm xúc cô đơn và nỗi nhớ thương khắc khoải đến quặn thắt của người chinh phụ, đồng thời qua đó gián tiếp vạch trần tội ác của chế độ chiến tranh phi nghĩa năm xưa, khiến gia đình phải tan tác, đau thương.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 3
Có thể nói, ở mỗi thời đại, văn học đều là tấm gương phản chiếu lên được mặt tốt và mặt xấu của xã hội. Khai thác và đào sâu vào những vấn đề thuộc về nội tâm của con người. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm là một điển hình tiêu biểu như thế, đặc biệt là mười sáu câu đầu đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. Đoạn trích phản ánh lên tội ác của những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã làm cho người chinh phụ phải rơi vào tình cảnh cô đơn lẻ loi, tâm trạng đau khổ khắc khoải khôn nguôi. Hãy cùng thả lòng mình đến với 16 câu đầu đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” để cảm nhận rõ nét hơn nỗi cô đơn của người vợ có chồng đi chinh chiến.
Đoạn trích ra đời vào thế kỉ XVIII. Đầu đời vua Lê Hiển Tông, triều đình sai quân đánh dẹp, nhiều trai tráng trong làng phải từ giả người thân ra trận. Khi ấy, cảm nhận được nỗi khổ của những người nông dân, đặc biệt là người vợ lính. Đặng Trần Côn đã viết nên tác phẩm, bằng chữ Hán là một khúc ngâm đầy cảm xúc. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” nằm từ câu 193 -216 và từ câu 228 – 252 trong nguyên tác. Khi vừa ra đời tác phẩm đã nhận được rất nhiều sự chú ý từ những nhà yêu thơ, đã có nhiều bản dịch ra chữ Nôm, nhưng bản dịch hiện tại là thành công nhất được viết theo thể song thất lục bát là thể thơ thuần túy của người Việt Nam. Nhưng sau khi bản dịch ra đời lại có tranh cãi rằng bản dịch đấy là của Phan Huy Ích hay Đoàn Thị Điểm. Phần lớn cho rằng là của Đoàn Thị Điểm bởi bà cũng có hoàn cảnh giống như người chinh phụ (bà có chồng đi sứ ở Trung Quốc). Mười sáu câu đầu đoạn trích là khung cảnh người chinh phụ chờ đợi chồng trong hoàn cảnh u buồn, đơn độc. Những hành động được tiếp diễn đưa cảm xúc lên cao trào.
Mở đầu cho cảm xúc cô đơn, đau buồn kéo dài theo không gian và thời gian vô tận là hành động chậm rãi:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Hành động được hiện ra với dáng vóc đầy suy tư của người chinh phụ. Nhịp thơ nhẹ nhàng, như để đi vào cảm xúc. Những động từ “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, không gian im lặng đến mức nghe từng tiếng bước chân. Người chinh phụ dường như đang suy nghĩ trăn trở nên nàng “ngồi” mà lòng thì chẳng để tâm. Tác giả đã sử dụng hình ảnh ” rủ thác đòi phen”- kéo màng lên rồi lại buông màn xuống. Để cho thấy hành động lặp đi lặp lại vô nghĩ. Và rồi dường như có tiếng thầm thì trách móc:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
Người chinh phụ bắt đầu giãi bày nỗi niềm tâm sự của mình. Thực sự nàng đang rất nhớ người chinh phu điều đó được thể hiện rõ nét qua hình ảnh “chim thước”- chim khách, là loài chim thường mang tin tốt lành. Nàng trách chim thước chẳng báo một chút tin tức nào của người chồng, để nàng phải đợi mong, cô đơn khắc khoải. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm tất cả không gian bên trong và bên ngoài phòng khuê. Và nàng cũng cần lắm một người tâm sự cùng mình. “Đèn” được nhà thơ nhân hóa lên như một người bạn. Nếu với “Ca dao yêu thương tình nghĩa”: ” Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt” chiếc đèn nguyện cùng cô gái thao thức suốt đêm mộng mơ nhớ thương, thì với Chinh phụ ngâm chiếc đèn lại phũ phàng với người phụ nữ lẻ loi ấy. “Đèn” đã tắt khi người chinh phụ đang cần lắm một sự sẻ chia, “đèn” đã làm cho người chinh phụ nhận ra rằng “dù thế nào thì đèn cũng chỉ là vật vô tri vô giác” chẳng thể chia sẻ cùng nàng được. Tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” Như muốn cho người đọc cảm nhận người chinh phụ đã đi qua từng cảm xúc. Và đến khi tuyệt vọng nàng đã nói một câu mà nghe như xé lòng: Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” nàng xin nhận hết và chịu đựng hết nỗi cô đơn cho riêng mình. Bởi vì chẳng có ai bên cạnh để nàng chia sẻ. Biết bao nỗi niềm chất chứa chẳng nói thành lời:
“Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
Nỗi buồn u ám dưới màng đêm, nỗi buồn mà ngay cả nàng cũng chẳng thể nói nên lời được. Có lẽ do nỗi buồn ấy quá lớn và nó lại hiện lên mỗi ngày. Nghệ thuật so sánh “Hoa đèn” với “bóng người”, người chinh phụ nhìn hoa đèn mà nghĩ đến cuộc đời của mình có mau lụi tàn như chiếc hoa đèn kia hay không? Hay còn hẩm hiu hơn thế nữa? Càng nghĩ nàng càng thấy buồn, dường như lúc này cảnh vật cũng rũ xuống một màu đen tối:
“Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.Khác giời đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Trời đã khuya, không gian yên tĩnh, nghe từng tiếng gà gáy. Âm thanh vang lên “eo óc” thưa thớt, hình ảnh hoa hòe “rũ bóng bốn bên”, thời khắc cảnh vật mỏi mòn chìm vào đêm tối. Đã qua hết năm canh mà người chinh phụ vẫn còn thao thức với nỗi sầu khó vơi đi được. Sự so sánh “khắc giờ” như “niên”, một giờ dài bằng một năm, điều đó càng tô đậm hơn nỗi cô đơn. Thời gian cũng kéo dài cùng với nỗi sầu muộn của nàng. Cùng với từ láy “đằng đẵng”, “dằng dặc” cho thấy sự kéo dài triền miên đau đớn cứ mãi day dứt trong lòng. Nghệ thuật lấy động tả tỉnh làm nổi bật lên không gian, thời gian, lấy cái xa của biển cả để nói về cái buồn của lòng người là một cách miêu tả đầy tinh tế. Tiếp đến nàng muốn tìm những thú vui tao nhã, tập cách quên đi nỗi buồn trước mắt:
“Hương gượng đốt hồn đà mê mải,Gương gượng soi lệ lại châu chan.Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”
Nhưng nàng chẳng biết rằng những thú vui tao nhã này lại khi nàng chìm đắm vào nỗi sầu mênh mang. Khi đốt hương, hồn nàng lại rơi vào trạng thái mơ màng, nỗi sầu lại theo đó mà dâng lên. Rồi khi soi gương để tô son điểm phấn, nàng lại càng xót xa cho thân phận của mình, nhan sắc của một người phụ nữ đang dần phai mòn đi theo những tháng ngày lẻ loi, không có chồng bên cạnh để làm điểm tựa. Khi đánh đàn nàng lại sợ “dây uyên đứt”, “phím loan chùng” nàng sợ những điều không may xảy đến cuộc tình của nàng. Biết bao nỗi đau đau, nỗi sợ bủa vây lấy nàng. Điệp từ “gượng” được lặp lại ba lần cho thấy sự miễn cưỡng trong hành động. Cũng chỉ vì quá cô đơn, muốn quên đi mà nàng mới làm. Nhưng dù có thú vui tao nhã đến đâu, dù tô son điểm phấn hay đánh đàn thì cũng chẳng bao giờ nàng cảm thấy vui, bởi vì ngay lúc này với nàng là nỗi cô đơn mong mỏi chồng từ nơi chinh chiến sẽ trở về, mong được nghe một lời động viên an ủi từ người chồng của mình. Nhưng tất cả đều không!
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, sử dụng những điệp từ, so sánh nhiều hình ảnh để vẽ ra khung cảnh của người chinh phụ mang nhiều tâm trạng. Sự cô đơn, lẻ loi của người phụ nữ trong đêm tối. Và khi hình ảnh buồn khổ ấy hiện lên chân thực đến đâu thì càng vạch trần cái tội ác xấu xa của chiến tranh phi nghĩa đẩy biết bao gia đình rơi vào cảnh chia lìa. Mà niềm cảm thông lớn nhất là dành cho người chinh phụ, là phụ nữ nhưng họ phải hy sinh tuổi xuân để chờ chồng mà chẳng có chút tin tức, không có ai chia sẻ những nỗi buồn. Từ đấy cho ta thấy được cách chọn đề tài của Đặng Trần Côn rất mới mẻ, phù hợp với thời đại lúc bấy giờ. Cách miêu tả nội tâm đầy sâu sắc của ông, cho thấy ông là một người có vốn sống rất rộng. Đồng thời là sự sắc sảo trong cách dùng từ của hai dịch giả Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích đã tạo nên đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” rất thành công.
Thông qua mười sáu câu đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” càng giúp ta hiểu rõ nét hơn những nỗi cô đơn của người phụ nữ trong xã hội cũ khi có chồng đi chinh chiến. Nó là nỗi cô đơn da diết kéo dài theo không gian thời gian. Từ đó cho thấy hậu quả của chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Và là lời ca ngợi cho tác giả Đặng Trần Côn, ông quả là một nhà thơ tài năng và tác phẩm của ông đã chạm đến trái tim của đọc giả và vượt qua hàng trăm năm, nhưng mỗi lần nhắc về những tác phẩm chữ hán, người ta sẽ nghĩ ngay đến “Chinh phụ ngâm”. Ông đã để lại cho nền văn học nước nhà một áng văn hay.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 4
Đặng Trần Côn là một tác giả văn học nổi tiếng sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy biến động nên của đất nước khi mà chiến tranh đã làm chia cắt bao gia đình. Có biết bao nhiêu cặp vợ chồng vừa xây dựng hạnh phúc lứa đôi đã phải chia tay để chồng đi chinh chiến phương xa. Từ sự cảm thương với số phận con người trong thời chiến, ông đã viết nên tác phẩm “Chinh phụ ngâm”. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là một trong những đoạn trích tiêu biểu nói về tâm trạng cô đơn, lẻ bóng của người vợ trẻ khi chồng ra trận vắng nhà.
Ngay từ tám câu thơ đầu, tác giả đã mở ra một tâm trạng cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
Nỗi cô đơn của người chinh phụ đã được thể hiện trước hết qua hành động một mình nàng dạo hiên vắng. Buông rèm rồi lại cuốn rèm không biết bao nhiêu lần. Hành động này thể hiện sự bối rối, tâm trạng thất thần nhớ nhung khiến cho người phụ nữ còn không thể kiểm soát được hành động của mình. Đó là tâm trạng chờ đợi mong ngóng, tin tức người chồng phương xa. Nỗi buồn nỗi cô đơn của người chinh phụ còn được diễn tả qua sự đối bóng của người với ngọn đèn khuya.
Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Hai câu thơ được tác giả viết hình thức câu hỏi tu từ, thể hiện tâm trạng bế tắc của người chinh phụ. Nàng hỏi đèn để mong muốn tìm được một sự đồng cảm, sẻ chia, nhưng rồi tự trả lời rằng đèn không biết. Hình ảnh ngọn đèn cùng với nỗi lòng của người chinh phụ như càng góp phần khẳng định nỗi buồn triền miên, cô đơn, không ai chia sẻ.
Đoạn thơ 8 câu cuối có sự chuyển đổi tinh tế để phù hợp với diễn biến tâm trạng của người chinh phụ. Từ những lời tự sự miêu tả nội tâm, đến đoạn thơ này có sự kết hợp giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ của tác giả.
Gà eo óc gáy sương năm trống,Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
Đoạn thơ này, tác giả chủ yếu sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tức là dùng ngoại cảnh để miêu tả tâm trạng nhân vật, dùng cái chủ quan để miêu tả cái khách quan. Vì thế, trong bài thời gian vật lí đã biến thành thời gian tâm lý. Tiếng “gà eo óc gáy” là âm thanh báo hiệu năm canh và bóng cây “hòe” tĩnh mịch trong đêm nhằm làm tăng ấn tượng vắng vẻ, cô đơn đáng sợ.
Trong tâm trạng chờ đợi mỏi mòn đó người chinh phụ thấy thời gian trôi qua một cách chậm chạp, một khắc một giờ mà giống như một năm.
Và để giải tỏa nỗi niềm sầu muộn, người chinh phụ đã biết tìm đến những thú vui tao nhã thường ngày: “soi gương, đốt hương, gãy đàn”. Nhưng tất cả chỉ làm trong sự gượng gạo, miễn cưỡng chán chường.
Thành công của đoạn trích này là ở khả năng miêu tả tâm lí nhân vật vô cùng tinh tế với bút pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc của văn học trung đại và sử dụng hàng loạt các biện pháp tu từ: câu hỏi tu từ, điệp từ, điệp ngữ…
Chỉ với 16 câu thơ đầu, tác giả đã thể hiện được tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm được xem là tiếng kêu thương của người phụ nữ nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 5

“Chinh phụ ngâm khúc” là một trong những kiệt tác của danh sĩ, nhà thơ Đặng Trần Côn. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, được mọi người biết đến qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” bộc lộ rõ tâm trạng u buồn, nhớ nhung của người chinh phụ khi phải sống trong tình cảnh lẻ loi, vì chồng phải tham gia vào trận đánh chiến tranh tàn khốc. Tác phẩm thể hiện sâu sắc cảm hứng nhân đạo và sự lên án, tố cáo chiến tranh phi nghĩa khiến con người phải chia cắt.
Trong 16 câu thơ đầu tiên, tác giả thể hiện nỗi cô đơn của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi, cảm giác về thời gian chờ đợi, cố tìm cách giải khuây mà không được. Đến 11 câu thơ tiếp theo, thi nhân đã họa lại nỗi nhớ thương chồng ở phương xa của người chinh phụ khiến lòng nàng càng thêm ảm đạm. Trong những câu thơ còn lại, cảnh vật xung quanh càng khiến lòng người chinh phụ thêm rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi.
Những câu thơ đầu tiên chất chứa tâm trạng nhớ nhung, sầu muộn của người phụ nữ:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương”
Chúng ta thấy người chinh phụ khắc khoải chờ mong chồng dẫu ngày hay đêm. Nằm trong phòng, nàng hết buông rèm xuống lại cuốn rèm lên. Tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả từng động tác, cử chỉ, hành động được lặp đi, lặp lại nhiều lần của người chinh phụ. Những hành động ấy không xuất phát từ bất kỳ mục đích gì, tất cả đều là những động tác vô thức, không chủ đích, không ý nghĩa, cốt chỉ để biểu lộ tâm trạng cô đơn, lẻ loi của nàng. Người chinh phụ mong mỏi có được sự đồng cảm, nhưng thực tại lại càng thất vọng: “chim thước” chẳng chịu mách tin, “đèn” không hiểu được tâm sự của mình. Câu hỏi tu từ được sử dụng “đèn biết chăng?”, “đèn chẳng biết” phải chăng là lời thở than, thể hiện nỗi khắc khoải trong đợi chờ vô vọng, day dứt mãi khôn nguôi. Tâm trạng của nhân vật đã chuyển giọng kể tự nhiên, từ lời kể bên ngoài thành lời độc thoại nội tâm da diết, dằn vặt, ngậm ngùi. Hình ảnh “ngọn đèn”, “hoa đèn” cùng với cái bóng trên tường của chính mình gợi cho người đọc nhớ đến hình ảnh đèn không tắt trong bài ca dao vốn rất quen thuộc:
“Đèn thương nhớ aiMà đèn không tắt?Mắt thương nhớ aiMắt ngủ không yên?”
Nhận thấy trong tám câu thơ tiếp theo, người chinh phụ đã mượn cảnh thiên nhiên để diễn tả tâm trạng của mình, dùng cái khách quan để miêu tả sự chủ quan:
“Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.Hương gượng đốt hồn đà mê mải,Gương gượng soi lệ lại châu chan.Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”
Âm thanh “tiếng gà eo óc” báo hiệu canh năm, đồng thời như sự minh chứng rằng người vợ xa chồng đã thức suốt đêm dài. Hình ảnh “bóng hòe” ngoài sân, hết ngắn rồi dài, rủ xuống mặt đất, càng khiến không gian thêm ảm đạm, ngột ngạt. Thời gian của xa cách, nhớ thương cùng với tâm trạng da diết khôn nguôi. Cụm từ “gượng” được tác giả diễn tả cách đặc biệt, đi liền với các động từ “gảy”, “soi”, đốt” cùng những đồ vật “đàn”, “hương”, “gương”. Tất cả đều cho thấy, những thú vui tao nhã, những thói quen trang điểm hằng ngày của người phụ nữ, giờ đây vắng chồng, vắng niềm hạnh phúc, tiếng cười, bỗng được tiến hành một cách gượng ép. Đốt hương mà tâm hồn lại chìm đắm vào nỗi sầu tủi miên man. Soi gương lại không cầm được những giọt nước mắt không ngừng rơi vì tủi hổ. Đàn đứt dây, chùng lại, nào có thoát khỏi bể trời đơn côi?
Chúng ta thấy rằng chỉ vỏn vẹn 16 câu thơ đầu tiên, tác giả đã thể hiện rõ nỗi cô đơn, sầu tủi của người chinh phụ khi phải sống trong tình cảnh lẻ loi. Nàng cảm giác về thời gian trong đợi chờ, cố tìm cách giải khuây mà không được. Tác giả đã rất tinh tế khi diễn tả tâm trạng phong phú, tinh vi, sâu kín trong tình cảm của người phụ nữ, càng thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo dành cho người chinh phụ trong hoàn cảnh đơn côi, lẻ loi.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 6
Trong đề tài viết về chiến tranh, người ta thường viết nhiều về những tráng sĩ, những anh hùng đã chiến đấu, đã hi sinh vì non sông, đất nước. Rất ít tác giả viết về hình ảnh những người vợ, những người mẹ mòn mỏi chờ đợi tin tức của chồng mình, của con mình. Và có ai biết được rằng cái sự chờ đợi đó dường như là vô vọng, bế tắc bởi lẽ: “Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi”. Cảm thông trước cảnh buồn khổ của những người chinh phụ, Đặng Trần Côn đã sáng tác tác phẩm Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán và Đoàn Thị Điểm đã dịch bài thơ này ra chữ Nôm. Trong bản dịch này, có thể thấy xuất sắc nhất là đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. Đặc biệt là 16 câu thơ đầu tiên.
Ngay những câu đầu của tác phẩm Chinh phụ ngâm, tác giả đã vẽ nên cảnh chia tay giữa người chinh phụ và chinh phu: “Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”. Nói như thế có nghĩa là khi người chồng đã đi chinh chiến nơi biên ải xa xôi, người vợ phải ở nhà. Đó là hoàn cảnh của người chinh phụ trong hiện tại. Không những nêu lên hoàn cảnh hiện tại của người chinh phụ, 16 câu thơ đầu còn khắc họa hình ảnh của người vợ trẻ giữa không gian và thời gian. Về không gian, tác giả đã vẽ ra trước mắt chúng ta về hiên vắng, ngoài rèm, trong rèm. Đó là không gian hiu quạnh và vắng vẻ vô cùng.
Không chỉ thế, thời gian trong đoạn thơ này cũng được vẽ nên, đó là trục thời gian trôi chảy. Các hình ảnh hoa đèn, tiếng gà eo óc đã vẽ nên cái trục thời gian tuần hoàn: từ đêm đến đêm khuya và trời dần trở về sáng. Nói như thế có nghĩa là người chinh phụ đã thức suốt năm canh để chờ đợi, ngóng trông và gặm nhấm nỗi cô đơn, sầu muộn của mình.
Tóm lại, đoạn trích đã cho ta thấy được hình ảnh của người chinh phụ nổi bật giữa không gian và thời gian. Vậy giữa cái khoảng không gian quạnh vắng, cô đơn chiếc bóng ấy, giữa thời gian lê thê của năm canh ấy người chinh phụ đã làm gì?
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Hai câu thơ đầu đã cho chúng ta thấy hình ảnh của người chinh phụ với những hành động thật lạ kì. Người chinh phụ dạo hiên, người chinh phụ ngồi rèm. Thế nhưng, nàng dạo hiên mà thầm gieo từng bước, nàng ngồi rèm mà rủ thác đòi phen. Đó là hành động quanh quẩn, được lặp lại nhiều lần. Có thể thấy hành động này bất thường bởi lẽ nàng dạo hiên mà đếm từng bước chân. Nàng ngồi trước cửa sổ mà hết hạ rèm xuống rồi kéo rèm lên.
Hành động vô thức ấy cứ lặp đi lặp lại để cho thấy được rõ ràng bên trong người chinh phụ đang chất đầy tâm trạng. Nàng ngồi rèm, nàng dạo hiên không phải đề hòa mình với thiên nhiên, mà là để trông ngóng một điều gì đó. Có thể thấy, 2 câu thơ đầu đã đặc tả được sự cô đơn, lẻ loi, vắng bóng cũng như hé mở tâm trạng bên trong của người vợ trẻ này. Nàng đang chờ đợi, ngóng trông điều gì mà lòng thổn thức không yên. Và đến những câu thơ tiếp theo thì tâm sự của người chinh phụ đã được hé mở:
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Cụm từ “thước chẳng mách tin” hé lộ mọi tâm trạng của người chinh phụ. Thì ra người vợ trẻ ấy đang chờ đời con chim thước – con chim báo tin lành, tin của người chồng nơi biên ải xa xôi. Thế nhưng, con chim thước không đến và người chồng cũng bặt vô âm tín.
Tiếp theo đó, tác giả đã sử dụng thủ pháp đối lập giữa ngoài rèm với trong rèm và câu hỏi tu từ: “Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”. Chính cái thủ pháp đối lập và câu hỏi tu từ, một lần nữa cho chúng ta thấy được cái tâm trạng trách móc, buồn bã của người chinh phụ.
Bên cạnh đó, ta còn cảm nhận được sự tuyệt vọng của người vợ đang mòn mỏi chờ đợi tin tức của chồng. Những câu thơ đầu vẽ nên tình cảnh của người chinh phụ trong lẻ loi, cô đơn, vô vọng. Người chinh phụ ấy thật đáng thương biết bao. Và đáng thương hơn nữa khi nàng chỉ biết làm bạn với ngọn đèn:
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Với thủ pháp điệp từ: “đèn biết chăng”; “đèn có biết”. Tác giả đã vẽ nên dòng tâm trạng triền miên, day dứt, không nguôi của người vợ trẻ. Thêm vào đó, với câu hỏi tu từ” đèn có biết dường bằng chẳng biết” như là một nỗi ám ảnh, như là một tiếng lòng thổn thức không nguôi của người chinh phụ. Hai câu thơ này đã cho ta thấy tâm trạng buồn rầu, xót xa của người vợ khi chờ đợi mãi mà chưa có tin tức gì. Không chỉ thế, 2 câu thơ với câu hỏi tu từ đã tạo nên một dòng chảy tâm trạng triền miên, day dứt. Và dòng tâm trạng ấy lại trở nên dai dẳng hơn nữa, triền miên hơn nữa khi nó đặt giữa một không gian và thời gian chẳng bao giờ ngừng và đứt đoạn:
Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Bên cạnh việc sử dụng phép điệp, câu hỏi tu từ, đoạn thơ còn sử dụng nhiều hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng: hoa đèn, bóng người và cạm từ như bi thiếp, buồn rầu. Với những hình ảnh và cụm từ ấy, tác giả một lần nữa cho ta thấy sự cô đơn, sầu muộn. Đặc biệt hình ảnh hoa đèn khiến ta liên tưởng đến những câu ca dao thật hay thật đẹp về chuyện tình yêu:
Khăn thương nhớ ai,Khăn rơi xuống đất.Khăn thương nhớ ai,Khăn vắt lên vai.Khăn thương nhớ ai,Khăn chùi nước mắt.Đèn thương nhớ ai,Mà đèn không tắt.Mắt thương nhớ ai,Mắt ngủ không yên.Đêm qua em những lo phiền,Lo vì một nỗi không yên một bề…
Cô gái trong bài ca dao hay người vợ trẻ trong chinh phụ ngâm khúc đều phải mòn mỏi từng ngày, từng tháng, từng năm để ngóng trông tin tức của người yêu, người chồng. Không chỉ thế, hình ảnh hoa đèn và bóng người khá thương còn gợi ta liên tưởng đến chuyện người con gái nam xương của nguyễn dữ. Cả vũ nương trong tác phẩm này và người chinh phụ của đặng trần côn. Cảnh vật trong đoạn trích này vẫn không thay đổi, nhưng thời gian lại trôi chảy tuần hoàn:
Gà eo óc gáy sương năm trống,Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Cụm từ âm thanh “gà eo óc” đã diễn tả được sự trôi chảy của thời gian. Nếu như ở các câu thơ trước xuất hiện hình ảnh đèn-báo hiệu đã tối, hoa đèn – báo hiệu đã khuya, và cuối cùng là tiếng gà – báo hiệu trời đã sáng. Không chỉ có âm thanh tiếng gà eo óc mà còn có cả không gian qua hình ảnh lá hèo. Hình ảnh hòe phất phơ rủ bóng bốn bên gợi lên một không gian vắng lặng, tĩnh mịch, hoang vắng. Người xưa đã nói: Thức đêm mới biết đêm dài. Phải thức đêm mới biết được cái khoảng thời gian ấy trôi qua một cách lê thê. Người chinh phụ đã cảm nhận được dòng thời gian trôi chảy:
Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Thủ pháp so sánh “trích thơ” cùng với các từ láy đằng đẵng dằng dặc đã cho chúng ta cảm nhận được cái âm điệu sầu não, day dứt của đoạn thơ. Không chỉ tạo nên cái âm điệu sầu não, tác giả đã sử dụng thủ pháp lấy cảnh ngụ tình để thể hiện nỗi cô đơn, vắng bóng, sầu khổ của người chinh phụ. Nỗi nhớ ấy dài lê thẻ tựa cả một năm. Không những dài mà nỗi nhớ ấy còn rộng, sâu tự biển cả rộng lớn. Ai có thể thấy được bờ bến của biển khơi, ai có thể thấu được cái lòng đại dương kia đến tận đâu. Tấm lòng của người chinh phụ được ví von với những hình ảnh mang đậm sắc thái biểu cảm như thế.Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Trong đoạn thơ này tác giả đã liệt kê hàng loạt hành động của người chinh phụ. Người chinh phụ đốt hương,soi gương, gảy đàn. Thế nhưng những hành động ấy đều gượng gạo và miễn cưỡng. Nằng làm đó nhưng đó là hành động của người có xác mà không hồn. nàng làm đó nhưng bên trong tư tưởng tâm trí lại nghĩ về điều khác. Người chinh phụ đốt hương cầu mong hạnh phúc gđ, nhưng nàng đốt hương mà hồn đà mê mải. Nàng soi gương nhưng soi gương làm chi, trang điểm làm gì khi không có chồng bên cạnh. Hình ảnh người chinh phụ soi gương khiến ta liên tưởng đến bài thơ Khuê oán của vương xương linh. Trong bài thơ này, tác giả đã khắc họa hình ảnh người chinh phụ trang điểm sau đó lên lầu để ngắm cảnh. Nhưng lên đến lầu mới nghiệm ra nhiều điều:
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,Hối giao phu tế mịch phong hầu.
(Chợt thấy màu dương liễu tốt tươi ở đầu đường,Bỗng hối hận đã để chồng đi tòng quân để kiếm phong hầu.)
Khi trông thấy dáng liễu bên đường mới nhận ra thời gian trôi chảy vô tình, nhan sắc của nàng dần tàn phai và người chồng ngày ra đi chưa biết ngày trở về. Nhân vật trữ tình còn gảy đàn. Nàng gảy đàn để tìm đến thú vui tao nha. Mong rằng tiếng đàn kia sẽ làm vơi bớt nỗi muộn phiền. Thế nhưng, gảy đàn mà lại dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng:
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.
Câu thơ sử dụng điển tích dây uyên và phím loan. Chính 2 điện tích này đã diễn tả tâm trạng tiếp theo của người chinh phụ. Không chỉ cô đơn, không chỉ lẻ loi, không chỉ sầu muộn mà lúc này đây tràn đầy nỗi lo lắng và sợ hãi. Nàng sợ dây uyên ngại chùng sợ điềm gở sẽ đến, sợ vợ chồng chia lìa xa cách.
Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khỏa nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc. Khi Hương gượng đốt thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc Gương gượng soi thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn long phụng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia lìa đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy.
Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia Hai đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, hồng chí còn biết gửi nhớ thương theo cơn gió
Với thể thơ song thất lục bát, cách dùng từ, hình ảnh ước lệ, điệp từ điệp ngữ, nghệ thuật miêu tả nội tâm, 16 câu thơ đã thể hiện một cách tinh tế những cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ ở người chinh phụ, luôn khao khát được sống trong hạnh phúc, tình yêu lứa đôi. Đoạn trích còn thể hiện tấm lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc của tác giả với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ, cất lên tiếng kêu nhân đạo, phản đối chiến tranh phi nghĩa.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 7
Chinh Phụ Ngâm là một trong những tác phẩm văn học trung đại xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam mà ở đó, lồng ghép những mạch cảm xúc, câu chuyện thấm đẫm nỗi bi thương về thân phận người phụ nữ thời kỳ lúc bấy giờ, đồng thời gián tiếp miêu tả chân thực bức tranh hiện thực xã hội cay đắng, bất công.
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Không gian hiên vắng, ngay từ những vần thơ đầu đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận u buồn, kết hợp với các động từ như “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, bồn chồn, thấp thỏm của người phụ nữ dưới mái hiên nghèo, những ngày động cứ lặp lại vô nghĩa, càng thể hiện sự hoang hoải và trống rỗng trong tâm trí. Và rồi dường như, nhân vật đang phân tâm để đối thoại độc thoại với chính mình, mà lại vừa có cảm giác như một lời trách móc:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
Bắt đầu từ đây, người chinh phụ bộc lộ nỗi lòng cô đơn và sự nhớ mong, nhớ thương khôn xiết đến người chinh phụ nơi chiến trận phương xa. Nàng không chỉ mang nỗi nhớ đơn thuần, mà còn mang trong lòng sự khắc khoải khôn nguôi, trằn trọc khi không nhận được tin tức về người chinh phụ. Hình ảnh chim thước – loài vật báo tin tốt lành xuất hiện chính là sự minh họa rõ nhất cho nỗi lòng ấy. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm mọi không gian, thậm chí lan thấm vào nhuốm vào màu không gian một sắc buồn ảm đạm. Càng nhớ, càng mong mỏi được giãi bày, và ngọn đèn trở thành người tri kỉ trong vò võ cô đơn để người chinh phụ tâm sự. Ca dao xưa đã từng có bài ca dao khăn thương nhớ ai, cũng miêu tả hoàn cảnh của người phụ nữ trong vò võ đêm trường, một mình bầu bạn với ngọn đèn khuya, chính ngọn đèn khuya leo lét, lạnh lẽo càng nhấn mạnh thêm tình cảnh trơ trọi lẻ loi của người chinh phụ:
“Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
Người chinh phụ tự thương cho thân phận mình, bỗng nhận thấy trong bóng đèn dầu kia phản chiếu lên bức tường với số phận, thân phận mình như nhập hòa làm một, nỗi buồn mượn ngọn đèn để san sẻ nhưng cũng chẳng thể thỏa nỗi nhớ mong, niềm khát khao đồng điệu.
“Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Không gian khi càng về sáng, càng yên tĩnh, đó cũng là không gian mà tâm trạng những người cô đơn càng thêm đơn độc, lẻ loi biết nhường nào. Cảnh vật xung quanh cũng heo hút, phất phơ, các từ eo óc, phất phơ, càng gợi cho ta cảm giác rằng người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nỗi nhớ vốn vô hình, vốn không thể cân đong đo đếm, nay được định lượng hóa bằng sự đằng đằng của tháng năm, bằng sự rộng dài của dòng thời gian trường cửu, càng thêm quay quắt và trở nên trơ trọi. Và giờ đây, nỗi nhớ đã trở thành mối sầu tựa miền ải xa, nghĩa là nó không chỉ thuộc về cảm xúc, mà còn đang mang những âu lo, khắc khoải, rợn ngợp về tương lai.
Những phím đàn gảy lên càng gợi cảm giác về sự đơn độc, về sự hoang hoải trống vắng trong tâm hồn, và tràn ngập những nỗi sợ hãi về tương lai, về sự cách lý
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã lột tả một cách sống động chân thực cảm xúc cô đơn và nỗi nhớ thương khắc khoải đến quặn thắt của người chinh phụ, đồng thời qua đó gián tiếp vạch trần tội ác của chế độ chiến tranh phi nghĩa năm xưa, khiến gia đình phải tan tác, đau thương.

Xem thêm:  Cách làm son GẠO

#Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #câu #đầu #bài #thơ #Tình #cảnh #lẻ #loi #của #người #chinh #phụ

Phân tích 16 câu đầu bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ gồm 2 dàn ý chi tiết kèm theo 7 bài văn mẫu hay, được đánh giá cao. Qua 7 bài phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu giúp các bạn lớp 10 có nhiều ý tưởng tham khảo, biết cách chọn lọc để tránh tình trạng trùng lặp ý, thiếu ý, lạc đề hoặc triển khai ý không cân xứng.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu giúp chúng ta hiểu rõ nét hơn những nỗi cô đơn của người phụ nữ trong xã hội cũ khi có chồng đi chinh chiến. Nó là nỗi cô đơn da diết kéo dài theo không gian thời gian. Từ đó cho thấy hậu quả của chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Vậy sau đây là 7 bài văn mẫu phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu, mời các bạn cùng đón đọc nhé.
Dàn ý Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu
1. Mở bài 
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích
Đặng Trần Côn (không rõ năm sinh năm mất) quê ở làng Nhân Mục, Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội, sống vào thời Lê Trung Hưng.
Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là tác phẩm viết bằng chữ Hán gây tiếng vang lớn trong giới nho sĩ đương thời với nhiều bản dịch và phỏng dịch Nôm khác nhau (Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khản, Phan Huy Ích, Bạch Liên Am Nguyễn). Bản hiện hành là bản dịch thành công nhất.
Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (từ câu 193 đến 216) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.
– Giới thiệu khái quát 16 câu thơ đầu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.
a. Hành động lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, vô vị
– “Thầm reo từng bước”: Bước chân lặng lẽ dạo trên hiên vắng.
– “Rủ thác đòi phen”: Vào trong phòng cuốn rèm, buông rèm
→ Hành động lặp lại đi lặp lại một cách vô thức, thể hiện sự bần thần, bất định của người chinh phụ
– Chữ “vắng, thưa”: Không chỉ gợi sự vắng lặng của không gian mà còn cho thấy nỗi trống vắng trong lòng người người chinh phụ
b. Thao thức ngóng trông tin chồng
– Ban ngày:
Người chinh phụ gửi niềm hi vọng vào tiếng chim thước – loài chim khách báo tin lành.
Nhưng thực tế “thước chẳng mách tin”: Tin tức chồng vẫn bặt vô âm tín.
– Ban đêm:
Người chinh phụ thao thức cùng ngọn đèn hi vọng đèn biết tin tức về chồng, san sẻ nỗi lòng cùng nàng.
Thực tế: “Đèn chẳng biết” “lòng thiếp riêng bi thiết” Câu thơ có hình thức đặc biệt khẳng định rồi lại phủ định, ngọn đèn có biết cũng như không vì nó chỉ là vật vô tri không thể san sẻ nỗi lòng cùng người chinh phụ.
So sánh với bài ca dao “khăn thương nhớ ai”, bài ca dao cũng có xuất hiện hình ảnh ngọn đèn. Nếu “đèn” trong bài ca dao là tri âm tri kỉ với người phụ nữ thì ở đây ngọn “đèn” lay lắt lại cứa sâu thêm nỗi đau trong lòng người.
– Hình ảnh so sánh “hoa đèn” và “bóng người”.
“Hoa đèn” dầu bấc ngọn đèn, thực tế là than. Cũng giống như ngọn đèn cháy hết mình để rồi chỉ con hoa đèn tàn lụi, người phụ nữ đau đáu hết lòng chờ chồng nhưng cuối cùng nhận lại sự cô đơn, trống trải.
Liên hệ với nỗi cô đơn của Thúy Kiều sau khi từ biệt Thúc Sinh trở về với chiếc bóng năm canh:
c. Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về ngoại cảnh.
– “Gà gáy”, “sương”, “hòe”: Là những hình ảnh gắn với cuộc sống thôn quê bình dị, yên ả
– Từ láy “eo óc, phất phơ”: Cực tả vẻ hoang vu, ớn lạnh đến ghê rợn của cảnh vật.
→ Dưới con mắt trống trải cô đơn cả người chinh phụ, những cảnh vật vốn gắn với cuộc sống yên bình, êm ả nay trở nên khác thường, hoang vu, ớn lạnh. Đó là cách nói tả cảnh để ngụ tình.
d. Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về thời gian.
– “Khắc giờ đằng đẵng”, “mối sầu dằng dặc”: Thể hiện sự dàn trải của nỗi nhớ miên man không dứt.
– Biện pháp so sánh kết hợp với các từ láy giàu giá trị gợi hình gợi cảm “dằng dặc, đằng đẵng” cho thấy sự cảm nhận khác thường về thời gian, mỗi phút mỗi giờ ngắn ngủi trôi qua mà nặng nề như một năm dài, thời gian càng dài mối sầu càng nặng nề hơn.
→ Câu thơ cực tả nỗi cô đơn tột cùng tột độ trong lòng người chinh phụ
e. Hoạt động gắng gượng duy trì nếp sống hằng ngày.
– Điệp từ “gượng”: nhấn mạnh sự cố gắng gò ép mình của người chinh phụ
– Mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm:
Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành
Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.
Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.
⇒ Tiểu kết:
– Nội dung: Khắc họa tâm trạng cô đơn, lẻ loi, trống vắng của người phụ nữ, ẩn sau đó thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nỗi đau khổ của con người.
– Nghệ thuật:
Giọng thơ trầm buồn, khắc khoải, da diết, trầm lắng
Khắc họa nội tâm nhân vật tài tình, tinh tế thông qua hành động nhân vật, yếu tố ngoại cảnh, độc thoại nội tâm
Các biện pháp tu từ: So sánh, điệp từ, từ láy.
3. Kết bài 
– Khái quát lại giá trị nội dung của đoạn thơ đối với đoạn trích: Khắc họa tâm trạng cô đơn, lẻ loi, trống vắng của người phụ nữ, ẩn chứa thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nỗi đau khổ của con người.
Dàn ý phân tích 16 câu đầu bài tình cảnh lẻ loi
I. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Đặng Trần Côn và tác phẩm Chinh phụ ngâm
– Giới thiệu về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
II. Thân bài
1. 16 câu đầu: Nỗi cơ đơn, lẻ loi của người chinh phụ
a) 8 câu thơ đầu
– Không gian:
Hiên vắng: vắng vẻ, hiu quạnh
Khuê phòng: cô đơn, nhớ nhung
– Thời gian:
Đèn: ban đêm, thời gian của tâm trạng
Hoa đèn: thời gian qua lâu gợi nỗi niềm khắc khoải
– Hành động của người chinh phụ:
+ Dạo – gieo từng bước: đi đi lại lại, quanh quanh, quẩn quẩn
⇒ Nỗi nhớ như ngưng đọng trong từng bước đi
Rủ thác: hành động vô thức, không có chủ đích
Nghe ngóng tin tức: nhớ mong, khao khát người chồng trở về
Giãi bày, chia sẻ với ngọn đèn – vật vô tri vô giác
– Biện pháp nghệ thuật:
Điệp ngữ vòng: đèn biết chăng – đèn có biết, diễn tả tâm trạng buồn triền miên, kéo dài lê thê trong thời gian và không gian, dường như không bao giờ đứt, ngừng.
Câu hỏi tu từ: đèn biết chăng? ⇒ như một lời than thở, thể hiện nỗi khắc khoải đợi chờ và hi vọng luôn day dứt không yên trong người chinh phụ.
b) 8 câu thơ còn lại
– Cảnh vật thiên nhiên:
+ Gà eo óc gáy – sương năm trống: gà gáy báo hiệu canh năm, báo hiệu người vợ trẻ xa chồng đã thao thức suốt đêm
⇒ Tiếng gà khắc khoải như xoáy sâu vào tính chất tĩnh lặng của không gian, đồng thời cũng xoáy sâu vào tâm trạng người chinh phụ
+ Hòe phất phơ: cảnh vật quạnh hiu
– Cảm thức của người chinh phụ về thời gian:
Hòe: bóng cây hòe ngoài sân, trong vườn ngắn rồi lại dài, dài rồi lại ngắn, thể hiện sự trôi đi của thời gian – thời gian của xa cách và nhớ thương
Thời gian của tâm trạng:
Khắc, giờ ———— niên
Mối sầu ———— biển xa
– Hành động của người chinh phụ:
Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành
Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.
Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.
⇒ Sự mâu thuẫn giữa cảm xúc và lí trí
⇒ 16 câu thơ đầu thể hiện tình cảnh lẻ loi, nỗi cô đơn sầu muộn của người chinh phụ.
2. Nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ
a) 6 câu thơ đầu
– Hình ảnh thiên nhiên:
Gió đông: gió mùa xuân, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên.
Non Yên: núi Yên Nhiên, nơi phương bắc xa xăm – nơi người chồng đang chinh chiến.
– Biện pháp nghệ thuật
Hình ảnh ước lệ: non Yên.
Điệp ngữ vòng: non Yên, trời
Từ láy: thăm thẳm, đau đáu.
⇒ Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, không chỉ là không gian vô tận ngăn cách hai vợ chồng, mà còn là nỗi nhớ không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà.
b) 2 câu còn lại
– Hai câu thơ mang tính khái quát, triết lý sâu sắc
– Lời thơ chuyển sang độc thoại nội tâm, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng người chinh phụ với hình ảnh người chinh phụ tràn ngập trong tâm tưởng.
⇒ 8 câu thơ cuối như lời gửi gắm nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa xôi.
III. Kết bài
– Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
– Liên hệ với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến có chồng đi lính
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 1
Là con người, ai cũng khiếp sợ chiến tranh, bởi chiến tranh gắn liền với máu và nước mắt. Vào thế kỉ thứ XVIII, tình hình xã hội nước ta vô cùng rối ren, chính trị bất ổn, chiến tranh liên miên. Triều đình cần nhiều binh lính để chiến đấu. Vì vậy, rất nhiều trai tráng đã từ giã gia đình và gia nhập quân ngũ. Nhưng “cổ lai chinh chiến khứ nhân hồi” tức có nghĩa là xưa nay, đi chiến đấu có mấy ai trở về. Thật vậy, sự ra đi không hẹn ngày về của những người chồng đã khiến cho người vợ của họ, những người thiếu phụ đã trở thành những người chinh phụ. Người khuê phụ trong bài thơ “Khuê oán” của Vương Xương Linh từng thốt:
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,Hối giao phu tế mịch phong hầu.
Nỗi niềm này một lần nữa chúng ta lại bắt gặp trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” nguyên tác của Đặng Trần Côn. Đây là đoạn trích trong khúc ngâm được xem là tiêu biểu nhất cho thể loại khúc ngâm trong văn học Việt Nam. Dưới trí tuệ của dịch giả Đoàn Thị Điểm – người “tài sắc nương tử xưa hiếm nay không, xuất khẩu thành chương, bản chất thông minh” mà tuyệt tác Hán ngôn “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn một lần nữa thăng hoa. Đặc biệt 16 câu đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” – bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm, dù ngắn nhưng Đoàn Thị Điểm đã làm nổi bật lên bức tranh tâm trạng của người chinh phụ với những cảm nhận về thời gian chờ đợi và nỗi cô đơn, buồn nhớ, sầu lo dành cho người chinh phu:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bướcNgồi rèm thưa rủ thác đòi phen…Sắt cầm gượng gảy ngón đànDây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”
Nửa đầu thế kỷ XVIII, “chính sự hư hỏng, thuế khóa nặng nề”, khắp nơi nông dân vùng lên khởi nghĩa và chúa Trịnh đã tiến hành nhiều cuộc đánh dẹp. Những cảnh vợ chồng chia lìa, nhà cửa ly tán đã khiến Đặng Trần Côn xúc động mà làm ra khúc ngâm. Tác phẩm là lời tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa; đồng thời là tiếng nói khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi vốn ít được thơ văn các thời kỳ trước chú ý. Nguyên tác “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn gồm 477 câu viết bằng chữ Hán theo thể trường đoản cú. Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, có lẽ do đồng điệu với người chinh phụ, đã diễn Nôm thành 408 câu song thất lục bát. Đoạn trích trên được trích từ câu 193 đến câu 288 của nguyên tắc, là tình cảnh và tâm trạng của người chinh phụ trong những năm tháng chồng đi đánh trận: tình cảnh cô đơn và khát khao được giãi bày, chia sẻ.
Tâm trạng của người chinh phụ trước hết được bộc lộ thông qua không gian và hành động:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bướcNgồi rèm thưa rủ thác đòi phen”
Thủ pháp đối “hiên vắng” với “rèm thưa” không chỉ miêu tả không gian mà còn hé lộ tâm trạng. “Hiên vắng” cho thấy chẳng có ai ngoài người chinh phụ nhưng thực chất trong nhà còn có cha mẹ chồng và các con, đâu chỉ mình nàng. Song, cái vắng lặng kia của không gian phải chăng toát ra từ cõi lòng cô đơn, trống vắng của người chinh phụ? Qua con mắt ngóng trông, bức rèm dẫu có dày, cũng trở thành “rèm thưa”. Ngoài không gian, hành động nhân vật cũng là phương tiện miêu tả nội tâm nhân vật hiệu quả. Hai câu thơ có đến bốn động từ chỉ hoạt động: “dạo”, “ngồi, “rủ”, “thác” nhưng trọng tâm câu thơ lại không rơi vào những chữ ấy mà nó nằm ở những trạng từ diễn tả tính chất của hành động: “thầm gieo từng bước” và “đòi phen”. “Thầm gieo từng bước” không phải “đi” hay “bước” mà là “gieo” tức âm thầm mà vẫn nặng lòng, làm nặng luôn cả bước chân! Bước chân nặng nề ấy dường như độc giả còn bắt gặp trong “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều:
Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoảiNgán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ
Bài thơ “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều cũng là một bài thơ viết về nỗi lòng của người phụ nữ
Thật buồn khi những bước chân ấy đều là những bước chân mang nỗi lòng của những người phụ nữ đáng thương. Còn “đòi phen” là một từ cổ, có nghĩa là “nhiều lận”. Động tác buông rèm và cuốn rèm được lặp đi lặp lại trong dáng vẻ vô hồn, vô thức. Không có gì thay đổi, nghĩa là kết quả của chuỗi ngày đợi chờ trong mỏi mòn, hy vọng trong vô vọng. Đó là sự tái hiện nhiều khoảnh khắc giống nhau, đó cũng là sự dồn nén tâm trạng.
Không chỉ qua không gian và hành động mà tâm trạng của người chinh phụ còn được bộc lộ rõ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tinTrong rèm dường đã có đèn biết chăng?Đèn có biết dường bằng chẳng biếtLòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”
Hướng ra “ngoài rèm”, nàng mong chờ chim thước báo tin vui, rằng chồng đã trở về an lành. Nhưng tuyệt nhiên, điều nhận lại chỉ là sự im lặng đến đáng sợ: “Ngoài rèm thước chẳng mách tin”, và thế là đành trở về độc thoại trong nỗi cô đơn của chính mình. Câu thơ như một cái lắc đầu tuyệt vọng. Câu hỏi tu từ “trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” mang hình thức đối thoại với ngọn đèn, nhưng thực chất là độc thoại nội tâm đấy thôi, nào có ai để mà giãi bày, chia sẻ! Thủ pháp đối “trong rèm – ngoài rèm” cho thấy một hiện thực tù túng: nhìn ra ngoài hay nhìn vào trong thì cuối cùng cũng chỉ quanh quẩn, trói buộc bên song cửa sổ, trong một không gian chật hẹp. Không gian tự thân đã chứa đựng khả năng biểu đạt tâm trạng. Càng vắng lặng, chật hẹp, tù túng thì càng cảm nhận rõ hơn hết nỗi trống vắng, cô đơn. Và vì thế mà càng bị nỗi sầu bủa vây, không cách nào giải tỏa.
Cách nói có vẻ mâu thuẫn “Đèn có biết dường bằng chẳng biết” cho thấy một nỗi hụt hẫng, thất vọng. Ngọn đèn được nhân hoá với mục đích thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ nỗi lòng của người chinh phụ. Nhưng suy cho cùng đèn cũng chỉ là một vật vô tri vô giác mà thôi! Trong tâm hồn người chinh phụ tưởng chừng đã lóe lên niềm vui, bởi đã có người đồng cảm, sẻ chia, để thỏa niềm khao khát được giãi bày và thoát khỏi cảnh sống cô đơn, chờ đợi của hiện tại. Nhưng cũng ngay lập tức nàng nhận thức được hiện thực không gì khác ngoài: khổ đau, chia lìa và vô vọng, càng mong mỏi, khát khao lại càng bế tắc, tuyệt vọng. Thật bi kịch khi càng muốn thoát ra thì nàng càng bị nỗi sầu muộn trói chặt hệt như người sắp đuối nước tưởng đã tìm thấy chiếc phao cứu sinh. Nào ngờ…
Hình ảnh “ngọn đèn” vốn là thi liệu quen thuộc trong ca dao viết về nỗi nhớ tình yêu:
“Đèn thương nhớ aiMà đèn mà đèn không tắt”
Hay:
“Mong anh mà chẳng thấy anhThiếp tôi buồn bã khêu quanh ngọn đèn”
Rồi lại:
“Đêm qua gió bấc mưa dầmĐèn lầm với bóng, bóng lầm với ai?”
Trò chuyện với “ngọn đèn” là thế! Song, “lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” – là lời người chinh phụ tự bạch với chính mình. Tính từ “bi thiết” không chỉ diễn tả nỗi buồn mà hơn thế, đó còn là nỗi đau tự ý thức về tình cảnh cô đơn và nỗi sầu không ai chia sẻ được đang trở đi trở lại vò xé tâm can người chinh phụ.
Tâm trạng của người chinh phụ, cuối cùng, được bộc lộ thông qua ngoại hình nhân vật:
“Buồn rầu chẳng nói nên lờiHoa đèn kia với bóng người khá thương”
Nét mặt và dáng vẻ “buồn rầu”, cô đơn, tiều tụy ấy là kết quả của những chuỗi ngày mòn mỏi đợi chờ, cho thấy sự sống kéo lê, tàn tạ, nhạt nhòa. Phải chăng đó chỉ là tồn tại, nào phải sống cuộc sống của một con người? Nhìn kiếp “hoa đèn” lụi tàn, người chinh phụ tự thương cho kiếp mình tàn lụi. Người và vật cuối cùng cũng chẳng khác gì nhau. Thật đáng thương! Thật đau xót! Đặc tả những nét ngoại hình ấy của nhân vật, ngòi bút không chỉ xoáy sâu vào từng ngóc ngách để mổ xẻ tâm lí nhân vật, mà hơn thế, chính tác giả và dịch giả đang sống và trăn trở cùng nhân vật, đau nỗi đau của nhân vật trữ tình. Đó là dùng chiều sâu của tâm hồn, chiều rộng của tình thương để thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ cùng nhân vật. Vì thế mà ở dòng thơ cuối cùng, lời nhân vật, lời tác giả và dịch giả dường như đã hòa làm một trong một niềm đồng cảm.
Sau những tháng ngày khắc khoải trong mong chờ: hết “dạo hiên vắng” lại “ngồi rèm thưa”, hết ngóng tin từ chim thước ngoài rèm, đến tìm kiếm một sự đồng cảm từ ngọn đèn trong rèm; người chinh phụ bắt đầu có cảm nhận sâu sắc về thời gian chờ đợi:
“Gà eo óc gáy sương năm trốngHoè phất phơ rủ bóng bốn bên.”
Trước tiên đó là cảm nhận về sự thay đổi của thiên nhiên, cảnh vật: đêm, tiếng gà nhức nhối suốt năm canh; ngày, sự dịch chuyển của bóng cây hòe trên mặt đất. Sự quan sát thiên nhiên này đã hé lộ tư thế của nhân vật trữ tình: người chinh phụ “ngồi nhẫn tàn canh” trong cảnh đợi chờ. Có thể nói, chờ mong đã trở thành tâm trạng thường trực của nàng. Từ láy tượng thanh “eo óc” và từ láy tượng hình “phất phơ” càng khắc sâu thêm không gian hiu quạnh, tĩnh lặng của cảnh vật, cũng như tâm trạng trống vắng, cô đơn của con người. Bút pháp “tả cảnh ngụ tình”, “lấy động tả tĩnh” đã được vận dụng một cách tinh tế, hiệu quả. Hình ảnh cây hòe trong màn đêm “phất phơ rủ bóng” cũng gợi lên cảm giác man mác buồn, xót xa. Hình ảnh “rủ bốn bên” của cây hòe còn biểu hiện bước đi của mặt trời trọn một ngày. Nếu như hình ảnh cây hòe bắt gặp trong bài “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi tượng trưng cho sự tươi tốt, căng tràn sức sống “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương” thì đến với cây hòe trong bài “Chinh phụ ngâm” lại được đặt trong đêm khuya thanh vắng, thấm đượm nỗi buồn. Từ đó ta thấy được nghệ thuật dùng từ của tác giả, đó là sự chọn lọc một cách tinh tế từ ngữ để biểu thị cảm xúc, tâm trạng.
Nếu như ở cặp song thất, cảm nhận của người chinh phụ về thời gian được gợi lên qua cái nhìn về cảnh vật, thì ở cặp câu lục bát, nhân vật trữ tình đã trực tiếp giãi bày cảm nhận, tâm trạng của mình:
“Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Xưa nay trong cảnh đợi chờ, bao giờ con người cũng cảm thấy thời gian chảy trôi với một nhịp điệu hết sức chậm rãi, như muốn trêu ngươi, kéo dài khoảnh khắc chờ đợi của con người. Như trong “Kinh Thi” của Trung Quốc từng ví “nhất nhật tựa tam thu” hay trong “Truyện Kiều”, khi miêu tả nỗi niềm tương tư trong tình yêu, Nguyễn Du cũng đã để Kim Trọng phải thốt lên: “Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dồn lại một ngày dài ghê!”. Trong Chinh phụ ngâm, thời gian chờ đợi của đôi lứa đang trong cảnh ngộ chia lìa dường như càng đáng sợ, khủng khiếp hơn, nhất là khi nó được cảm nhận từ một người thiếu phụ: từng khắc, từng giờ trôi đi như đã qua cả một năm vậy! Nỗi buồn tủi, cô đơn cũng theo đó mà vô cùng vô tận như biển xa.
Thủ pháp so sánh “như, tựa” với những hình ảnh tưởng chừng như khoa trương, ước lệ “khắc giờ như niên” rồi lại “mối sầu tựa biển”, nhưng lại rất thực với tâm trạng mòn mỏi, nỗi lòng ngổn ngang của người thiếu phụ có chồng đi chinh chiến. Bởi nó đã chuyển biến từ thời gian thật của ngoại cảnh (ở cặp song thất) đến thời gian của tâm lý (ở cặp lục bát này). So sánh bản diễn Nôm với nguyên tác, người đọc có thể thấy được thành công của bản dịch trong việc thể hiện nội dung tư tưởng, tình cảm của câu thơ. Nếu như trong bản chữ Hán của Đặng Trần Côn, đây là hai câu đoản cú “Sầu tự hải/Khắc như niên” thì trong bản diễn Nôm, ý thơ của nguyên tắc được diễn đạt tinh tế, sâu sắc và cảm động hơn. Đoàn Thị Điểm đã sử dụng tài tình thể song thất lục bát – vốn là thể thơ có khả năng dồi dào trong diễn đạt tâm tư tình cảm;vận dụng thành công các từ láy “đằng đẵng, dằng dặc” – một phương tiện ngôn từ đặc thù của tiếng Việt, để miêu tả chính xác, chân thật tâm trạng của nhân vật trữ tình. Bên cạnh đó bà còn hoán chuyển thứ tự hai câu thơ để mạch cảm xúc đi từ cảm nhận về ngoại cảnh “khắc giờ” cho đến lặn sâu vào nội tâm của con người “mối sầu”. Như vậy, trong không gian vô cùng và thời gian vô tận của sự chờ đợi, người chinh phụ chỉ thấy có mình đối diện đàm tâm với biển sầu của chính mình. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai quả thật tinh tế và sâu sắc khi nhận định rằng: “Đây là một trong những vần thơ mênh mông vô tận, như khối sầu trong lòng người yêu tự ngàn xưa”.
Trong sự bủa vây của mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa, người chinh phụ cố gắng tìm cách vượt ra khỏi, nhưng rốt cuộc vẫn không thoát nổi:
“Hương gượng đốt hồn đà mê mảiGương gượng soi lệ lại châu chanSắt cầm gượng gảy ngón đànDây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”
Nàng muốn làm mọi việc để quên đi nỗi nhớ chồng, nhưng xung quanh lại luôn là khung cảnh gợi nhớ, khơi dậy cảm giác về sự chia lìa lứa đôi hiện tại của nàng: “hương”, “gương” rồi sắt cầm” – đàn cầm và đàn sắt gảy hòa âm với nhau, thường dùng để ví cảnh vợ chồng hòa thuận, với dây đàn uyên ương và phím đàn loan phượng – hình ảnh biểu tượng của lứa đôi gắn bó: cặp uyên ương, loan phượng. Chính vì vậy, nỗi nhớ lại càng chất chồng. Cho nên, hết thảy ba lần lần người chinh phụ định làm những công việc bình thường của cuộc sống hằng ngày thì cũng chỉ là “gượng”. Chính phép điệp từ “gượng” gợi tả cử chỉ, dáng dấp: cố làm cho ra vẻ tự nhiên, bình thường khi đang có tâm trạng buồn, đồng thời nhấn mạnh sự gượng gạo đến tội nghiệp của nàng. Khi đốt hương, nàng lại chìm đắm vào nỗi sầu tủi miên man: “hồn đà mê mải”. Khi soi gương thì nàng lại nhớ hình ảnh cùng chồng soi chung nên không cầm được nước mắt “lệ lại châu chan”. Khi gắng “gảy ngón đàn” thì kinh sợ “dây uyên” bị “đứt”, lo ngại “phím loan” bị “chùng”, là những điềm gở báo hiệu sự không may của lứa đôi đang xa nhau. Ở những câu thơ này, yếu tố tự sự – thuật hành động, và yếu tố trữ tình – tả tâm trạng, xuất hiện sóng đôi, đan xen nhau. Trong cùng một câu thơ, vế trước chỉ việc làm, vế sau là sự biểu hiện tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình: “Hương gượng đốt / hồn đà mê mải” rồi “Gương gượng soi / lệ lại châu chan.” Thủ pháp đối kết hợp với liệt kê, đảo ngữ – đưa bổ ngữ chỉ vật lên trước hành động: “hương gượng đốt, gương gượng soi, sắt cầm gượng gảy, dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng” có tác dụng rất lớn đối với việc xây dựng yếu tố tự sự. Bên cạnh đó, từ ngữ cũng được Đoàn Thị Điểm lựa chọn, sử dụng rất “đắt”: “mê mải, châu chan, kinh, ngại” đã biểu đạt đến tận cùng các sắc thái tình cảm, cung bậc tâm trạng của nhân vật trữ tình. Chưa đến nỗi như người thiếu phụ ngày xưa vọng phu hóa đá, nhưng nàng chinh phụ của chúng ta đã phải sống trong nỗi cô đơn, buồn nhớ, sầu lo triền miên không dứt. Mọi nỗ lực nhằm xua tan đi buồn nhớ đều bất lực, vô dụng. Không thể thay đổi cảnh sống hiện tại, người chinh phụ lại càng khắc khoải âu sầu, càng rơi vào tuyệt vọng. Đó là sự bế tắc khủng hoảng đến độ trở thành bi kịch.
Đoạn trích đã thể hiện sự đồng cảm của tác giả – dịch giả khi khắc họa thành công bi kịch tâm trạng của người chinh phụ: khát khao được giãi bày, chia sẻ mâu thuẫn với hiện thực cô đơn, sầu muộn. Người chinh phụ đã bật lên tiếng nói thầm kín của lòng mình.
“Nếu như có những tư tưởng của thời đại, thì cũng có những hình thức của thời đại” (Bielinski). Trong văn học phong kiến “phi ngã”, Chinh phụ ngâm nói chung và đoạn trích nói riêng, ra đời để cất lên tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người, đặc biệt là người phụ nữ; qua đó, tố cáo chiến tranh phi nghĩa đương thời
Tiếng nói ấy xuất phát từ tấm lòng nhân đạo cao cả và tư tưởng nhân văn tiến bộ, và có ý nghĩa khai phá quan trọng: là tiền đề cho tinh thần nhân đạo đề cao quyền sống và quyền hạnh phúc lứa đôi của con người ở văn học giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX trỗi dậy mạnh mẽ trong Truyện Kiều, Cung oán ngâm, thơ Hồ Xuân Hương… sau này.
Hình ảnh ước lệ tượng trưng, giàu sức gợi hình, biểu cảm: sắt cầm, dây uyên, phím loan”. Đoạn trích đã chọn lọc đắt giá, khai thác hiệu quả những từ thuần Việt (thầm gieo, đòi phen, khá thương, gượng, kinh, ngại), đặc biệt hàng loạt những từ láy tượng thanh, tượng hình đậm đà tính dân tộc (eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, thăm thẳm, đau đáu); các biện pháp nghệ thuật thường xuất hiện trong thơ văn cổ (đối, điệp, nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, câu hỏi tu từ,…). Thể song thất lục bát của bản diễn Nôm góp phần quan trọng diễn tả được những trạng thái tình cảm miên man không dứt, phù hợp với giai điệu chung của khúc ngâm.
Có thể nói rằng cả khúc ngâm đọng thành một “mối sầu vạn cổ” mà không gây nhàm chán vì sự diễn biến tinh vi mà phong phú, đa dạng của đời sống nội tâm nhân vật. Chỉ riêng đoạn trích này, tâm trạng của người chinh phụ đã có những chuyển biến luân phiên: ngóng trông ngoại cảnh để tìm mối đồng cảm, nhưng không thành để rồi quay về độc thoại với nỗi cô đơn sầu muộn ngổn ngang trong sâu thẳm lòng mình; khi lóe sáng chút hy vọng, lúc lại rơi vào hố sâu tuyệt vọng, ủ rũ, bế tắc. Nếu nói rằng, lời lẽ trong “Chinh phụ ngâm” là sự “hoàn toàn thống nhất giữa ý, tình và âm thanh, nhịp điệu, những câu thơ đẹp vào bậc nhất trong thơ Việt Nam” (Hoài Thanh) thì đoạn trích này là một minh chứng.
16 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – Mẫu 2
Chinh Phụ Ngâm là một trong những tác phẩm văn học trung đại xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam mà ở đó, lồng ghép những mạch cảm xúc, câu chuyện thấm đẫm nỗi bi thương về thân phận người phụ nữ thời kỳ lúc bấy giờ, đồng thời gián tiếp miêu tả chân thực bức tranh hiện thực xã hội cay đắng, bất công.
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Không gian hiên vắng, ngay từ những vần thơ đầu đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận u buồn, kết hợp với các động từ như “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, bồn chồn, thấp thỏm của người phụ nữ dưới mái hiên nghèo, những ngày động cứ lặp lại vô nghĩa, càng thể hiện sự hoang hoải và trống rỗng trong tâm trí. Và rồi dường như, nhân vật đang phân tâm để đối thoại độc thoại với chính mình, mà lại vừa có cảm giác như một lời trách móc:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
Bắt đầu từ đây, người chinh phụ bộc lộ nỗi lòng cô đơn và sự nhớ mong, nhớ thương khôn xiết đến người chinh phụ nơi chiến trận phương xa. Nàng không chỉ mang nỗi nhớ đơn thuần, mà còn mang trong lòng sự khắc khoải khôn nguôi, trằn trọc khi không nhận được tin tức về người chinh phụ. Hình ảnh chim thước – loài vật báo tin tốt lành xuất hiện chính là sự minh họa rõ nhất cho nỗi lòng ấy. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm mọi không gian, thậm chí lan thấm vào nhuốm vào màu không gian một sắc buồn ảm đạm. Càng nhớ, càng mong mỏi được giãi bày, và ngọn đèn trở thành người tri kỉ trong vò võ cô đơn để người chinh phụ tâm sự. Ca dao xưa đã từng có bài ca dao khăn thương nhớ ai, cũng miêu tả hoàn cảnh của người phụ nữ trong vò võ đêm trường, một mình bầu bạn với ngọn đèn khuya, chính ngọn đèn khuya leo lét, lạnh lẽo càng nhấn mạnh thêm tình cảnh trơ trọi lẻ loi của người chinh phụ:
“Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
Người chinh phụ tự thương cho thân phận mình, bỗng nhận thấy trong bóng đèn dầu kia phản chiếu lên bức tường với số phận, thân phận mình như nhập hòa làm một, nỗi buồn mượn ngọn đèn để san sẻ nhưng cũng chẳng thể thỏa nỗi nhớ mong, niềm khát khao đồng điệu.
“Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Không gian khi càng về sáng, càng yên tĩnh, đó cũng là không gian mà tâm trạng những người cô đơn càng thêm đơn độc, lẻ loi biết nhường nào. Cảnh vật xung quanh cũng heo hút, phất phơ, các từ eo óc, phất phơ, càng gợi cho ta cảm giác rằng người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nỗi nhớ vốn vô hình, vốn không thể cân đong đo đếm, nay được định lượng hóa bằng sự đằng đằng của tháng năm, bằng sự rộng dài của dòng thời gian trường cửu, càng thêm quay quắt và trở nên trơ trọi. Và giờ đây, nỗi nhớ đã trở thành mối sầu tựa miền ải xa, nghĩa là nó không chỉ thuộc về cảm xúc, mà còn đang mang những âu lo, khắc khoải, rợn ngợp về tương lai.
Những phím đàn gảy lên càng gợi cảm giác về sự đơn độc, về sự hoang hoải trống vắng trong tâm hồn, và tràn ngập những nỗi sợ hãi về tương lai, về sự cách lý.
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã lột tả một cách sống động chân thực cảm xúc cô đơn và nỗi nhớ thương khắc khoải đến quặn thắt của người chinh phụ, đồng thời qua đó gián tiếp vạch trần tội ác của chế độ chiến tranh phi nghĩa năm xưa, khiến gia đình phải tan tác, đau thương.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 3
Có thể nói, ở mỗi thời đại, văn học đều là tấm gương phản chiếu lên được mặt tốt và mặt xấu của xã hội. Khai thác và đào sâu vào những vấn đề thuộc về nội tâm của con người. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm là một điển hình tiêu biểu như thế, đặc biệt là mười sáu câu đầu đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. Đoạn trích phản ánh lên tội ác của những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã làm cho người chinh phụ phải rơi vào tình cảnh cô đơn lẻ loi, tâm trạng đau khổ khắc khoải khôn nguôi. Hãy cùng thả lòng mình đến với 16 câu đầu đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” để cảm nhận rõ nét hơn nỗi cô đơn của người vợ có chồng đi chinh chiến.
Đoạn trích ra đời vào thế kỉ XVIII. Đầu đời vua Lê Hiển Tông, triều đình sai quân đánh dẹp, nhiều trai tráng trong làng phải từ giả người thân ra trận. Khi ấy, cảm nhận được nỗi khổ của những người nông dân, đặc biệt là người vợ lính. Đặng Trần Côn đã viết nên tác phẩm, bằng chữ Hán là một khúc ngâm đầy cảm xúc. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” nằm từ câu 193 -216 và từ câu 228 – 252 trong nguyên tác. Khi vừa ra đời tác phẩm đã nhận được rất nhiều sự chú ý từ những nhà yêu thơ, đã có nhiều bản dịch ra chữ Nôm, nhưng bản dịch hiện tại là thành công nhất được viết theo thể song thất lục bát là thể thơ thuần túy của người Việt Nam. Nhưng sau khi bản dịch ra đời lại có tranh cãi rằng bản dịch đấy là của Phan Huy Ích hay Đoàn Thị Điểm. Phần lớn cho rằng là của Đoàn Thị Điểm bởi bà cũng có hoàn cảnh giống như người chinh phụ (bà có chồng đi sứ ở Trung Quốc). Mười sáu câu đầu đoạn trích là khung cảnh người chinh phụ chờ đợi chồng trong hoàn cảnh u buồn, đơn độc. Những hành động được tiếp diễn đưa cảm xúc lên cao trào.
Mở đầu cho cảm xúc cô đơn, đau buồn kéo dài theo không gian và thời gian vô tận là hành động chậm rãi:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Hành động được hiện ra với dáng vóc đầy suy tư của người chinh phụ. Nhịp thơ nhẹ nhàng, như để đi vào cảm xúc. Những động từ “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, không gian im lặng đến mức nghe từng tiếng bước chân. Người chinh phụ dường như đang suy nghĩ trăn trở nên nàng “ngồi” mà lòng thì chẳng để tâm. Tác giả đã sử dụng hình ảnh ” rủ thác đòi phen”- kéo màng lên rồi lại buông màn xuống. Để cho thấy hành động lặp đi lặp lại vô nghĩ. Và rồi dường như có tiếng thầm thì trách móc:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
Người chinh phụ bắt đầu giãi bày nỗi niềm tâm sự của mình. Thực sự nàng đang rất nhớ người chinh phu điều đó được thể hiện rõ nét qua hình ảnh “chim thước”- chim khách, là loài chim thường mang tin tốt lành. Nàng trách chim thước chẳng báo một chút tin tức nào của người chồng, để nàng phải đợi mong, cô đơn khắc khoải. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm tất cả không gian bên trong và bên ngoài phòng khuê. Và nàng cũng cần lắm một người tâm sự cùng mình. “Đèn” được nhà thơ nhân hóa lên như một người bạn. Nếu với “Ca dao yêu thương tình nghĩa”: ” Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt” chiếc đèn nguyện cùng cô gái thao thức suốt đêm mộng mơ nhớ thương, thì với Chinh phụ ngâm chiếc đèn lại phũ phàng với người phụ nữ lẻ loi ấy. “Đèn” đã tắt khi người chinh phụ đang cần lắm một sự sẻ chia, “đèn” đã làm cho người chinh phụ nhận ra rằng “dù thế nào thì đèn cũng chỉ là vật vô tri vô giác” chẳng thể chia sẻ cùng nàng được. Tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” Như muốn cho người đọc cảm nhận người chinh phụ đã đi qua từng cảm xúc. Và đến khi tuyệt vọng nàng đã nói một câu mà nghe như xé lòng: Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” nàng xin nhận hết và chịu đựng hết nỗi cô đơn cho riêng mình. Bởi vì chẳng có ai bên cạnh để nàng chia sẻ. Biết bao nỗi niềm chất chứa chẳng nói thành lời:
“Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
Nỗi buồn u ám dưới màng đêm, nỗi buồn mà ngay cả nàng cũng chẳng thể nói nên lời được. Có lẽ do nỗi buồn ấy quá lớn và nó lại hiện lên mỗi ngày. Nghệ thuật so sánh “Hoa đèn” với “bóng người”, người chinh phụ nhìn hoa đèn mà nghĩ đến cuộc đời của mình có mau lụi tàn như chiếc hoa đèn kia hay không? Hay còn hẩm hiu hơn thế nữa? Càng nghĩ nàng càng thấy buồn, dường như lúc này cảnh vật cũng rũ xuống một màu đen tối:
“Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.Khác giời đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Trời đã khuya, không gian yên tĩnh, nghe từng tiếng gà gáy. Âm thanh vang lên “eo óc” thưa thớt, hình ảnh hoa hòe “rũ bóng bốn bên”, thời khắc cảnh vật mỏi mòn chìm vào đêm tối. Đã qua hết năm canh mà người chinh phụ vẫn còn thao thức với nỗi sầu khó vơi đi được. Sự so sánh “khắc giờ” như “niên”, một giờ dài bằng một năm, điều đó càng tô đậm hơn nỗi cô đơn. Thời gian cũng kéo dài cùng với nỗi sầu muộn của nàng. Cùng với từ láy “đằng đẵng”, “dằng dặc” cho thấy sự kéo dài triền miên đau đớn cứ mãi day dứt trong lòng. Nghệ thuật lấy động tả tỉnh làm nổi bật lên không gian, thời gian, lấy cái xa của biển cả để nói về cái buồn của lòng người là một cách miêu tả đầy tinh tế. Tiếp đến nàng muốn tìm những thú vui tao nhã, tập cách quên đi nỗi buồn trước mắt:
“Hương gượng đốt hồn đà mê mải,Gương gượng soi lệ lại châu chan.Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”
Nhưng nàng chẳng biết rằng những thú vui tao nhã này lại khi nàng chìm đắm vào nỗi sầu mênh mang. Khi đốt hương, hồn nàng lại rơi vào trạng thái mơ màng, nỗi sầu lại theo đó mà dâng lên. Rồi khi soi gương để tô son điểm phấn, nàng lại càng xót xa cho thân phận của mình, nhan sắc của một người phụ nữ đang dần phai mòn đi theo những tháng ngày lẻ loi, không có chồng bên cạnh để làm điểm tựa. Khi đánh đàn nàng lại sợ “dây uyên đứt”, “phím loan chùng” nàng sợ những điều không may xảy đến cuộc tình của nàng. Biết bao nỗi đau đau, nỗi sợ bủa vây lấy nàng. Điệp từ “gượng” được lặp lại ba lần cho thấy sự miễn cưỡng trong hành động. Cũng chỉ vì quá cô đơn, muốn quên đi mà nàng mới làm. Nhưng dù có thú vui tao nhã đến đâu, dù tô son điểm phấn hay đánh đàn thì cũng chẳng bao giờ nàng cảm thấy vui, bởi vì ngay lúc này với nàng là nỗi cô đơn mong mỏi chồng từ nơi chinh chiến sẽ trở về, mong được nghe một lời động viên an ủi từ người chồng của mình. Nhưng tất cả đều không!
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, sử dụng những điệp từ, so sánh nhiều hình ảnh để vẽ ra khung cảnh của người chinh phụ mang nhiều tâm trạng. Sự cô đơn, lẻ loi của người phụ nữ trong đêm tối. Và khi hình ảnh buồn khổ ấy hiện lên chân thực đến đâu thì càng vạch trần cái tội ác xấu xa của chiến tranh phi nghĩa đẩy biết bao gia đình rơi vào cảnh chia lìa. Mà niềm cảm thông lớn nhất là dành cho người chinh phụ, là phụ nữ nhưng họ phải hy sinh tuổi xuân để chờ chồng mà chẳng có chút tin tức, không có ai chia sẻ những nỗi buồn. Từ đấy cho ta thấy được cách chọn đề tài của Đặng Trần Côn rất mới mẻ, phù hợp với thời đại lúc bấy giờ. Cách miêu tả nội tâm đầy sâu sắc của ông, cho thấy ông là một người có vốn sống rất rộng. Đồng thời là sự sắc sảo trong cách dùng từ của hai dịch giả Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích đã tạo nên đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” rất thành công.
Thông qua mười sáu câu đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” càng giúp ta hiểu rõ nét hơn những nỗi cô đơn của người phụ nữ trong xã hội cũ khi có chồng đi chinh chiến. Nó là nỗi cô đơn da diết kéo dài theo không gian thời gian. Từ đó cho thấy hậu quả của chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Và là lời ca ngợi cho tác giả Đặng Trần Côn, ông quả là một nhà thơ tài năng và tác phẩm của ông đã chạm đến trái tim của đọc giả và vượt qua hàng trăm năm, nhưng mỗi lần nhắc về những tác phẩm chữ hán, người ta sẽ nghĩ ngay đến “Chinh phụ ngâm”. Ông đã để lại cho nền văn học nước nhà một áng văn hay.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 4
Đặng Trần Côn là một tác giả văn học nổi tiếng sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy biến động nên của đất nước khi mà chiến tranh đã làm chia cắt bao gia đình. Có biết bao nhiêu cặp vợ chồng vừa xây dựng hạnh phúc lứa đôi đã phải chia tay để chồng đi chinh chiến phương xa. Từ sự cảm thương với số phận con người trong thời chiến, ông đã viết nên tác phẩm “Chinh phụ ngâm”. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là một trong những đoạn trích tiêu biểu nói về tâm trạng cô đơn, lẻ bóng của người vợ trẻ khi chồng ra trận vắng nhà.
Ngay từ tám câu thơ đầu, tác giả đã mở ra một tâm trạng cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
Nỗi cô đơn của người chinh phụ đã được thể hiện trước hết qua hành động một mình nàng dạo hiên vắng. Buông rèm rồi lại cuốn rèm không biết bao nhiêu lần. Hành động này thể hiện sự bối rối, tâm trạng thất thần nhớ nhung khiến cho người phụ nữ còn không thể kiểm soát được hành động của mình. Đó là tâm trạng chờ đợi mong ngóng, tin tức người chồng phương xa. Nỗi buồn nỗi cô đơn của người chinh phụ còn được diễn tả qua sự đối bóng của người với ngọn đèn khuya.
Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Hai câu thơ được tác giả viết hình thức câu hỏi tu từ, thể hiện tâm trạng bế tắc của người chinh phụ. Nàng hỏi đèn để mong muốn tìm được một sự đồng cảm, sẻ chia, nhưng rồi tự trả lời rằng đèn không biết. Hình ảnh ngọn đèn cùng với nỗi lòng của người chinh phụ như càng góp phần khẳng định nỗi buồn triền miên, cô đơn, không ai chia sẻ.
Đoạn thơ 8 câu cuối có sự chuyển đổi tinh tế để phù hợp với diễn biến tâm trạng của người chinh phụ. Từ những lời tự sự miêu tả nội tâm, đến đoạn thơ này có sự kết hợp giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ của tác giả.
Gà eo óc gáy sương năm trống,Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
Đoạn thơ này, tác giả chủ yếu sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tức là dùng ngoại cảnh để miêu tả tâm trạng nhân vật, dùng cái chủ quan để miêu tả cái khách quan. Vì thế, trong bài thời gian vật lí đã biến thành thời gian tâm lý. Tiếng “gà eo óc gáy” là âm thanh báo hiệu năm canh và bóng cây “hòe” tĩnh mịch trong đêm nhằm làm tăng ấn tượng vắng vẻ, cô đơn đáng sợ.
Trong tâm trạng chờ đợi mỏi mòn đó người chinh phụ thấy thời gian trôi qua một cách chậm chạp, một khắc một giờ mà giống như một năm.
Và để giải tỏa nỗi niềm sầu muộn, người chinh phụ đã biết tìm đến những thú vui tao nhã thường ngày: “soi gương, đốt hương, gãy đàn”. Nhưng tất cả chỉ làm trong sự gượng gạo, miễn cưỡng chán chường.
Thành công của đoạn trích này là ở khả năng miêu tả tâm lí nhân vật vô cùng tinh tế với bút pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc của văn học trung đại và sử dụng hàng loạt các biện pháp tu từ: câu hỏi tu từ, điệp từ, điệp ngữ…
Chỉ với 16 câu thơ đầu, tác giả đã thể hiện được tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm được xem là tiếng kêu thương của người phụ nữ nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 5

“Chinh phụ ngâm khúc” là một trong những kiệt tác của danh sĩ, nhà thơ Đặng Trần Côn. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, được mọi người biết đến qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” bộc lộ rõ tâm trạng u buồn, nhớ nhung của người chinh phụ khi phải sống trong tình cảnh lẻ loi, vì chồng phải tham gia vào trận đánh chiến tranh tàn khốc. Tác phẩm thể hiện sâu sắc cảm hứng nhân đạo và sự lên án, tố cáo chiến tranh phi nghĩa khiến con người phải chia cắt.
Trong 16 câu thơ đầu tiên, tác giả thể hiện nỗi cô đơn của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi, cảm giác về thời gian chờ đợi, cố tìm cách giải khuây mà không được. Đến 11 câu thơ tiếp theo, thi nhân đã họa lại nỗi nhớ thương chồng ở phương xa của người chinh phụ khiến lòng nàng càng thêm ảm đạm. Trong những câu thơ còn lại, cảnh vật xung quanh càng khiến lòng người chinh phụ thêm rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi.
Những câu thơ đầu tiên chất chứa tâm trạng nhớ nhung, sầu muộn của người phụ nữ:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương”
Chúng ta thấy người chinh phụ khắc khoải chờ mong chồng dẫu ngày hay đêm. Nằm trong phòng, nàng hết buông rèm xuống lại cuốn rèm lên. Tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả từng động tác, cử chỉ, hành động được lặp đi, lặp lại nhiều lần của người chinh phụ. Những hành động ấy không xuất phát từ bất kỳ mục đích gì, tất cả đều là những động tác vô thức, không chủ đích, không ý nghĩa, cốt chỉ để biểu lộ tâm trạng cô đơn, lẻ loi của nàng. Người chinh phụ mong mỏi có được sự đồng cảm, nhưng thực tại lại càng thất vọng: “chim thước” chẳng chịu mách tin, “đèn” không hiểu được tâm sự của mình. Câu hỏi tu từ được sử dụng “đèn biết chăng?”, “đèn chẳng biết” phải chăng là lời thở than, thể hiện nỗi khắc khoải trong đợi chờ vô vọng, day dứt mãi khôn nguôi. Tâm trạng của nhân vật đã chuyển giọng kể tự nhiên, từ lời kể bên ngoài thành lời độc thoại nội tâm da diết, dằn vặt, ngậm ngùi. Hình ảnh “ngọn đèn”, “hoa đèn” cùng với cái bóng trên tường của chính mình gợi cho người đọc nhớ đến hình ảnh đèn không tắt trong bài ca dao vốn rất quen thuộc:
“Đèn thương nhớ aiMà đèn không tắt?Mắt thương nhớ aiMắt ngủ không yên?”
Nhận thấy trong tám câu thơ tiếp theo, người chinh phụ đã mượn cảnh thiên nhiên để diễn tả tâm trạng của mình, dùng cái khách quan để miêu tả sự chủ quan:
“Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.Hương gượng đốt hồn đà mê mải,Gương gượng soi lệ lại châu chan.Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”
Âm thanh “tiếng gà eo óc” báo hiệu canh năm, đồng thời như sự minh chứng rằng người vợ xa chồng đã thức suốt đêm dài. Hình ảnh “bóng hòe” ngoài sân, hết ngắn rồi dài, rủ xuống mặt đất, càng khiến không gian thêm ảm đạm, ngột ngạt. Thời gian của xa cách, nhớ thương cùng với tâm trạng da diết khôn nguôi. Cụm từ “gượng” được tác giả diễn tả cách đặc biệt, đi liền với các động từ “gảy”, “soi”, đốt” cùng những đồ vật “đàn”, “hương”, “gương”. Tất cả đều cho thấy, những thú vui tao nhã, những thói quen trang điểm hằng ngày của người phụ nữ, giờ đây vắng chồng, vắng niềm hạnh phúc, tiếng cười, bỗng được tiến hành một cách gượng ép. Đốt hương mà tâm hồn lại chìm đắm vào nỗi sầu tủi miên man. Soi gương lại không cầm được những giọt nước mắt không ngừng rơi vì tủi hổ. Đàn đứt dây, chùng lại, nào có thoát khỏi bể trời đơn côi?
Chúng ta thấy rằng chỉ vỏn vẹn 16 câu thơ đầu tiên, tác giả đã thể hiện rõ nỗi cô đơn, sầu tủi của người chinh phụ khi phải sống trong tình cảnh lẻ loi. Nàng cảm giác về thời gian trong đợi chờ, cố tìm cách giải khuây mà không được. Tác giả đã rất tinh tế khi diễn tả tâm trạng phong phú, tinh vi, sâu kín trong tình cảm của người phụ nữ, càng thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo dành cho người chinh phụ trong hoàn cảnh đơn côi, lẻ loi.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 6
Trong đề tài viết về chiến tranh, người ta thường viết nhiều về những tráng sĩ, những anh hùng đã chiến đấu, đã hi sinh vì non sông, đất nước. Rất ít tác giả viết về hình ảnh những người vợ, những người mẹ mòn mỏi chờ đợi tin tức của chồng mình, của con mình. Và có ai biết được rằng cái sự chờ đợi đó dường như là vô vọng, bế tắc bởi lẽ: “Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi”. Cảm thông trước cảnh buồn khổ của những người chinh phụ, Đặng Trần Côn đã sáng tác tác phẩm Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán và Đoàn Thị Điểm đã dịch bài thơ này ra chữ Nôm. Trong bản dịch này, có thể thấy xuất sắc nhất là đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. Đặc biệt là 16 câu thơ đầu tiên.
Ngay những câu đầu của tác phẩm Chinh phụ ngâm, tác giả đã vẽ nên cảnh chia tay giữa người chinh phụ và chinh phu: “Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”. Nói như thế có nghĩa là khi người chồng đã đi chinh chiến nơi biên ải xa xôi, người vợ phải ở nhà. Đó là hoàn cảnh của người chinh phụ trong hiện tại. Không những nêu lên hoàn cảnh hiện tại của người chinh phụ, 16 câu thơ đầu còn khắc họa hình ảnh của người vợ trẻ giữa không gian và thời gian. Về không gian, tác giả đã vẽ ra trước mắt chúng ta về hiên vắng, ngoài rèm, trong rèm. Đó là không gian hiu quạnh và vắng vẻ vô cùng.
Không chỉ thế, thời gian trong đoạn thơ này cũng được vẽ nên, đó là trục thời gian trôi chảy. Các hình ảnh hoa đèn, tiếng gà eo óc đã vẽ nên cái trục thời gian tuần hoàn: từ đêm đến đêm khuya và trời dần trở về sáng. Nói như thế có nghĩa là người chinh phụ đã thức suốt năm canh để chờ đợi, ngóng trông và gặm nhấm nỗi cô đơn, sầu muộn của mình.
Tóm lại, đoạn trích đã cho ta thấy được hình ảnh của người chinh phụ nổi bật giữa không gian và thời gian. Vậy giữa cái khoảng không gian quạnh vắng, cô đơn chiếc bóng ấy, giữa thời gian lê thê của năm canh ấy người chinh phụ đã làm gì?
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Hai câu thơ đầu đã cho chúng ta thấy hình ảnh của người chinh phụ với những hành động thật lạ kì. Người chinh phụ dạo hiên, người chinh phụ ngồi rèm. Thế nhưng, nàng dạo hiên mà thầm gieo từng bước, nàng ngồi rèm mà rủ thác đòi phen. Đó là hành động quanh quẩn, được lặp lại nhiều lần. Có thể thấy hành động này bất thường bởi lẽ nàng dạo hiên mà đếm từng bước chân. Nàng ngồi trước cửa sổ mà hết hạ rèm xuống rồi kéo rèm lên.
Hành động vô thức ấy cứ lặp đi lặp lại để cho thấy được rõ ràng bên trong người chinh phụ đang chất đầy tâm trạng. Nàng ngồi rèm, nàng dạo hiên không phải đề hòa mình với thiên nhiên, mà là để trông ngóng một điều gì đó. Có thể thấy, 2 câu thơ đầu đã đặc tả được sự cô đơn, lẻ loi, vắng bóng cũng như hé mở tâm trạng bên trong của người vợ trẻ này. Nàng đang chờ đợi, ngóng trông điều gì mà lòng thổn thức không yên. Và đến những câu thơ tiếp theo thì tâm sự của người chinh phụ đã được hé mở:
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Cụm từ “thước chẳng mách tin” hé lộ mọi tâm trạng của người chinh phụ. Thì ra người vợ trẻ ấy đang chờ đời con chim thước – con chim báo tin lành, tin của người chồng nơi biên ải xa xôi. Thế nhưng, con chim thước không đến và người chồng cũng bặt vô âm tín.
Tiếp theo đó, tác giả đã sử dụng thủ pháp đối lập giữa ngoài rèm với trong rèm và câu hỏi tu từ: “Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”. Chính cái thủ pháp đối lập và câu hỏi tu từ, một lần nữa cho chúng ta thấy được cái tâm trạng trách móc, buồn bã của người chinh phụ.
Bên cạnh đó, ta còn cảm nhận được sự tuyệt vọng của người vợ đang mòn mỏi chờ đợi tin tức của chồng. Những câu thơ đầu vẽ nên tình cảnh của người chinh phụ trong lẻ loi, cô đơn, vô vọng. Người chinh phụ ấy thật đáng thương biết bao. Và đáng thương hơn nữa khi nàng chỉ biết làm bạn với ngọn đèn:
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Với thủ pháp điệp từ: “đèn biết chăng”; “đèn có biết”. Tác giả đã vẽ nên dòng tâm trạng triền miên, day dứt, không nguôi của người vợ trẻ. Thêm vào đó, với câu hỏi tu từ” đèn có biết dường bằng chẳng biết” như là một nỗi ám ảnh, như là một tiếng lòng thổn thức không nguôi của người chinh phụ. Hai câu thơ này đã cho ta thấy tâm trạng buồn rầu, xót xa của người vợ khi chờ đợi mãi mà chưa có tin tức gì. Không chỉ thế, 2 câu thơ với câu hỏi tu từ đã tạo nên một dòng chảy tâm trạng triền miên, day dứt. Và dòng tâm trạng ấy lại trở nên dai dẳng hơn nữa, triền miên hơn nữa khi nó đặt giữa một không gian và thời gian chẳng bao giờ ngừng và đứt đoạn:
Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Bên cạnh việc sử dụng phép điệp, câu hỏi tu từ, đoạn thơ còn sử dụng nhiều hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng: hoa đèn, bóng người và cạm từ như bi thiếp, buồn rầu. Với những hình ảnh và cụm từ ấy, tác giả một lần nữa cho ta thấy sự cô đơn, sầu muộn. Đặc biệt hình ảnh hoa đèn khiến ta liên tưởng đến những câu ca dao thật hay thật đẹp về chuyện tình yêu:
Khăn thương nhớ ai,Khăn rơi xuống đất.Khăn thương nhớ ai,Khăn vắt lên vai.Khăn thương nhớ ai,Khăn chùi nước mắt.Đèn thương nhớ ai,Mà đèn không tắt.Mắt thương nhớ ai,Mắt ngủ không yên.Đêm qua em những lo phiền,Lo vì một nỗi không yên một bề…
Cô gái trong bài ca dao hay người vợ trẻ trong chinh phụ ngâm khúc đều phải mòn mỏi từng ngày, từng tháng, từng năm để ngóng trông tin tức của người yêu, người chồng. Không chỉ thế, hình ảnh hoa đèn và bóng người khá thương còn gợi ta liên tưởng đến chuyện người con gái nam xương của nguyễn dữ. Cả vũ nương trong tác phẩm này và người chinh phụ của đặng trần côn. Cảnh vật trong đoạn trích này vẫn không thay đổi, nhưng thời gian lại trôi chảy tuần hoàn:
Gà eo óc gáy sương năm trống,Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Cụm từ âm thanh “gà eo óc” đã diễn tả được sự trôi chảy của thời gian. Nếu như ở các câu thơ trước xuất hiện hình ảnh đèn-báo hiệu đã tối, hoa đèn – báo hiệu đã khuya, và cuối cùng là tiếng gà – báo hiệu trời đã sáng. Không chỉ có âm thanh tiếng gà eo óc mà còn có cả không gian qua hình ảnh lá hèo. Hình ảnh hòe phất phơ rủ bóng bốn bên gợi lên một không gian vắng lặng, tĩnh mịch, hoang vắng. Người xưa đã nói: Thức đêm mới biết đêm dài. Phải thức đêm mới biết được cái khoảng thời gian ấy trôi qua một cách lê thê. Người chinh phụ đã cảm nhận được dòng thời gian trôi chảy:
Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Thủ pháp so sánh “trích thơ” cùng với các từ láy đằng đẵng dằng dặc đã cho chúng ta cảm nhận được cái âm điệu sầu não, day dứt của đoạn thơ. Không chỉ tạo nên cái âm điệu sầu não, tác giả đã sử dụng thủ pháp lấy cảnh ngụ tình để thể hiện nỗi cô đơn, vắng bóng, sầu khổ của người chinh phụ. Nỗi nhớ ấy dài lê thẻ tựa cả một năm. Không những dài mà nỗi nhớ ấy còn rộng, sâu tự biển cả rộng lớn. Ai có thể thấy được bờ bến của biển khơi, ai có thể thấu được cái lòng đại dương kia đến tận đâu. Tấm lòng của người chinh phụ được ví von với những hình ảnh mang đậm sắc thái biểu cảm như thế.Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Trong đoạn thơ này tác giả đã liệt kê hàng loạt hành động của người chinh phụ. Người chinh phụ đốt hương,soi gương, gảy đàn. Thế nhưng những hành động ấy đều gượng gạo và miễn cưỡng. Nằng làm đó nhưng đó là hành động của người có xác mà không hồn. nàng làm đó nhưng bên trong tư tưởng tâm trí lại nghĩ về điều khác. Người chinh phụ đốt hương cầu mong hạnh phúc gđ, nhưng nàng đốt hương mà hồn đà mê mải. Nàng soi gương nhưng soi gương làm chi, trang điểm làm gì khi không có chồng bên cạnh. Hình ảnh người chinh phụ soi gương khiến ta liên tưởng đến bài thơ Khuê oán của vương xương linh. Trong bài thơ này, tác giả đã khắc họa hình ảnh người chinh phụ trang điểm sau đó lên lầu để ngắm cảnh. Nhưng lên đến lầu mới nghiệm ra nhiều điều:
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,Hối giao phu tế mịch phong hầu.
(Chợt thấy màu dương liễu tốt tươi ở đầu đường,Bỗng hối hận đã để chồng đi tòng quân để kiếm phong hầu.)
Khi trông thấy dáng liễu bên đường mới nhận ra thời gian trôi chảy vô tình, nhan sắc của nàng dần tàn phai và người chồng ngày ra đi chưa biết ngày trở về. Nhân vật trữ tình còn gảy đàn. Nàng gảy đàn để tìm đến thú vui tao nha. Mong rằng tiếng đàn kia sẽ làm vơi bớt nỗi muộn phiền. Thế nhưng, gảy đàn mà lại dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng:
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.
Câu thơ sử dụng điển tích dây uyên và phím loan. Chính 2 điện tích này đã diễn tả tâm trạng tiếp theo của người chinh phụ. Không chỉ cô đơn, không chỉ lẻ loi, không chỉ sầu muộn mà lúc này đây tràn đầy nỗi lo lắng và sợ hãi. Nàng sợ dây uyên ngại chùng sợ điềm gở sẽ đến, sợ vợ chồng chia lìa xa cách.
Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khỏa nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc. Khi Hương gượng đốt thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc Gương gượng soi thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn long phụng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia lìa đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy.
Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia Hai đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, hồng chí còn biết gửi nhớ thương theo cơn gió
Với thể thơ song thất lục bát, cách dùng từ, hình ảnh ước lệ, điệp từ điệp ngữ, nghệ thuật miêu tả nội tâm, 16 câu thơ đã thể hiện một cách tinh tế những cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ ở người chinh phụ, luôn khao khát được sống trong hạnh phúc, tình yêu lứa đôi. Đoạn trích còn thể hiện tấm lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc của tác giả với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ, cất lên tiếng kêu nhân đạo, phản đối chiến tranh phi nghĩa.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 7
Chinh Phụ Ngâm là một trong những tác phẩm văn học trung đại xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam mà ở đó, lồng ghép những mạch cảm xúc, câu chuyện thấm đẫm nỗi bi thương về thân phận người phụ nữ thời kỳ lúc bấy giờ, đồng thời gián tiếp miêu tả chân thực bức tranh hiện thực xã hội cay đắng, bất công.
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Không gian hiên vắng, ngay từ những vần thơ đầu đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận u buồn, kết hợp với các động từ như “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, bồn chồn, thấp thỏm của người phụ nữ dưới mái hiên nghèo, những ngày động cứ lặp lại vô nghĩa, càng thể hiện sự hoang hoải và trống rỗng trong tâm trí. Và rồi dường như, nhân vật đang phân tâm để đối thoại độc thoại với chính mình, mà lại vừa có cảm giác như một lời trách móc:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
Bắt đầu từ đây, người chinh phụ bộc lộ nỗi lòng cô đơn và sự nhớ mong, nhớ thương khôn xiết đến người chinh phụ nơi chiến trận phương xa. Nàng không chỉ mang nỗi nhớ đơn thuần, mà còn mang trong lòng sự khắc khoải khôn nguôi, trằn trọc khi không nhận được tin tức về người chinh phụ. Hình ảnh chim thước – loài vật báo tin tốt lành xuất hiện chính là sự minh họa rõ nhất cho nỗi lòng ấy. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm mọi không gian, thậm chí lan thấm vào nhuốm vào màu không gian một sắc buồn ảm đạm. Càng nhớ, càng mong mỏi được giãi bày, và ngọn đèn trở thành người tri kỉ trong vò võ cô đơn để người chinh phụ tâm sự. Ca dao xưa đã từng có bài ca dao khăn thương nhớ ai, cũng miêu tả hoàn cảnh của người phụ nữ trong vò võ đêm trường, một mình bầu bạn với ngọn đèn khuya, chính ngọn đèn khuya leo lét, lạnh lẽo càng nhấn mạnh thêm tình cảnh trơ trọi lẻ loi của người chinh phụ:
“Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
Người chinh phụ tự thương cho thân phận mình, bỗng nhận thấy trong bóng đèn dầu kia phản chiếu lên bức tường với số phận, thân phận mình như nhập hòa làm một, nỗi buồn mượn ngọn đèn để san sẻ nhưng cũng chẳng thể thỏa nỗi nhớ mong, niềm khát khao đồng điệu.
“Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Không gian khi càng về sáng, càng yên tĩnh, đó cũng là không gian mà tâm trạng những người cô đơn càng thêm đơn độc, lẻ loi biết nhường nào. Cảnh vật xung quanh cũng heo hút, phất phơ, các từ eo óc, phất phơ, càng gợi cho ta cảm giác rằng người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nỗi nhớ vốn vô hình, vốn không thể cân đong đo đếm, nay được định lượng hóa bằng sự đằng đằng của tháng năm, bằng sự rộng dài của dòng thời gian trường cửu, càng thêm quay quắt và trở nên trơ trọi. Và giờ đây, nỗi nhớ đã trở thành mối sầu tựa miền ải xa, nghĩa là nó không chỉ thuộc về cảm xúc, mà còn đang mang những âu lo, khắc khoải, rợn ngợp về tương lai.
Những phím đàn gảy lên càng gợi cảm giác về sự đơn độc, về sự hoang hoải trống vắng trong tâm hồn, và tràn ngập những nỗi sợ hãi về tương lai, về sự cách lý
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã lột tả một cách sống động chân thực cảm xúc cô đơn và nỗi nhớ thương khắc khoải đến quặn thắt của người chinh phụ, đồng thời qua đó gián tiếp vạch trần tội ác của chế độ chiến tranh phi nghĩa năm xưa, khiến gia đình phải tan tác, đau thương.

Xem thêm:  Tin tưởng trong tiếng Anh là gì

#Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #câu #đầu #bài #thơ #Tình #cảnh #lẻ #loi #của #người #chinh #phụ

Phân tích 16 câu đầu bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ gồm 2 dàn ý chi tiết kèm theo 7 bài văn mẫu hay, được đánh giá cao. Qua 7 bài phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu giúp các bạn lớp 10 có nhiều ý tưởng tham khảo, biết cách chọn lọc để tránh tình trạng trùng lặp ý, thiếu ý, lạc đề hoặc triển khai ý không cân xứng.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu giúp chúng ta hiểu rõ nét hơn những nỗi cô đơn của người phụ nữ trong xã hội cũ khi có chồng đi chinh chiến. Nó là nỗi cô đơn da diết kéo dài theo không gian thời gian. Từ đó cho thấy hậu quả của chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Vậy sau đây là 7 bài văn mẫu phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu, mời các bạn cùng đón đọc nhé.
Dàn ý Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu
1. Mở bài 
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích
Đặng Trần Côn (không rõ năm sinh năm mất) quê ở làng Nhân Mục, Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội, sống vào thời Lê Trung Hưng.
Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là tác phẩm viết bằng chữ Hán gây tiếng vang lớn trong giới nho sĩ đương thời với nhiều bản dịch và phỏng dịch Nôm khác nhau (Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khản, Phan Huy Ích, Bạch Liên Am Nguyễn). Bản hiện hành là bản dịch thành công nhất.
Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (từ câu 193 đến 216) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.
– Giới thiệu khái quát 16 câu thơ đầu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.
a. Hành động lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, vô vị
– “Thầm reo từng bước”: Bước chân lặng lẽ dạo trên hiên vắng.
– “Rủ thác đòi phen”: Vào trong phòng cuốn rèm, buông rèm
→ Hành động lặp lại đi lặp lại một cách vô thức, thể hiện sự bần thần, bất định của người chinh phụ
– Chữ “vắng, thưa”: Không chỉ gợi sự vắng lặng của không gian mà còn cho thấy nỗi trống vắng trong lòng người người chinh phụ
b. Thao thức ngóng trông tin chồng
– Ban ngày:
Người chinh phụ gửi niềm hi vọng vào tiếng chim thước – loài chim khách báo tin lành.
Nhưng thực tế “thước chẳng mách tin”: Tin tức chồng vẫn bặt vô âm tín.
– Ban đêm:
Người chinh phụ thao thức cùng ngọn đèn hi vọng đèn biết tin tức về chồng, san sẻ nỗi lòng cùng nàng.
Thực tế: “Đèn chẳng biết” “lòng thiếp riêng bi thiết” Câu thơ có hình thức đặc biệt khẳng định rồi lại phủ định, ngọn đèn có biết cũng như không vì nó chỉ là vật vô tri không thể san sẻ nỗi lòng cùng người chinh phụ.
So sánh với bài ca dao “khăn thương nhớ ai”, bài ca dao cũng có xuất hiện hình ảnh ngọn đèn. Nếu “đèn” trong bài ca dao là tri âm tri kỉ với người phụ nữ thì ở đây ngọn “đèn” lay lắt lại cứa sâu thêm nỗi đau trong lòng người.
– Hình ảnh so sánh “hoa đèn” và “bóng người”.
“Hoa đèn” dầu bấc ngọn đèn, thực tế là than. Cũng giống như ngọn đèn cháy hết mình để rồi chỉ con hoa đèn tàn lụi, người phụ nữ đau đáu hết lòng chờ chồng nhưng cuối cùng nhận lại sự cô đơn, trống trải.
Liên hệ với nỗi cô đơn của Thúy Kiều sau khi từ biệt Thúc Sinh trở về với chiếc bóng năm canh:
c. Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về ngoại cảnh.
– “Gà gáy”, “sương”, “hòe”: Là những hình ảnh gắn với cuộc sống thôn quê bình dị, yên ả
– Từ láy “eo óc, phất phơ”: Cực tả vẻ hoang vu, ớn lạnh đến ghê rợn của cảnh vật.
→ Dưới con mắt trống trải cô đơn cả người chinh phụ, những cảnh vật vốn gắn với cuộc sống yên bình, êm ả nay trở nên khác thường, hoang vu, ớn lạnh. Đó là cách nói tả cảnh để ngụ tình.
d. Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về thời gian.
– “Khắc giờ đằng đẵng”, “mối sầu dằng dặc”: Thể hiện sự dàn trải của nỗi nhớ miên man không dứt.
– Biện pháp so sánh kết hợp với các từ láy giàu giá trị gợi hình gợi cảm “dằng dặc, đằng đẵng” cho thấy sự cảm nhận khác thường về thời gian, mỗi phút mỗi giờ ngắn ngủi trôi qua mà nặng nề như một năm dài, thời gian càng dài mối sầu càng nặng nề hơn.
→ Câu thơ cực tả nỗi cô đơn tột cùng tột độ trong lòng người chinh phụ
e. Hoạt động gắng gượng duy trì nếp sống hằng ngày.
– Điệp từ “gượng”: nhấn mạnh sự cố gắng gò ép mình của người chinh phụ
– Mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm:
Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành
Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.
Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.
⇒ Tiểu kết:
– Nội dung: Khắc họa tâm trạng cô đơn, lẻ loi, trống vắng của người phụ nữ, ẩn sau đó thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nỗi đau khổ của con người.
– Nghệ thuật:
Giọng thơ trầm buồn, khắc khoải, da diết, trầm lắng
Khắc họa nội tâm nhân vật tài tình, tinh tế thông qua hành động nhân vật, yếu tố ngoại cảnh, độc thoại nội tâm
Các biện pháp tu từ: So sánh, điệp từ, từ láy.
3. Kết bài 
– Khái quát lại giá trị nội dung của đoạn thơ đối với đoạn trích: Khắc họa tâm trạng cô đơn, lẻ loi, trống vắng của người phụ nữ, ẩn chứa thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nỗi đau khổ của con người.
Dàn ý phân tích 16 câu đầu bài tình cảnh lẻ loi
I. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Đặng Trần Côn và tác phẩm Chinh phụ ngâm
– Giới thiệu về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
II. Thân bài
1. 16 câu đầu: Nỗi cơ đơn, lẻ loi của người chinh phụ
a) 8 câu thơ đầu
– Không gian:
Hiên vắng: vắng vẻ, hiu quạnh
Khuê phòng: cô đơn, nhớ nhung
– Thời gian:
Đèn: ban đêm, thời gian của tâm trạng
Hoa đèn: thời gian qua lâu gợi nỗi niềm khắc khoải
– Hành động của người chinh phụ:
+ Dạo – gieo từng bước: đi đi lại lại, quanh quanh, quẩn quẩn
⇒ Nỗi nhớ như ngưng đọng trong từng bước đi
Rủ thác: hành động vô thức, không có chủ đích
Nghe ngóng tin tức: nhớ mong, khao khát người chồng trở về
Giãi bày, chia sẻ với ngọn đèn – vật vô tri vô giác
– Biện pháp nghệ thuật:
Điệp ngữ vòng: đèn biết chăng – đèn có biết, diễn tả tâm trạng buồn triền miên, kéo dài lê thê trong thời gian và không gian, dường như không bao giờ đứt, ngừng.
Câu hỏi tu từ: đèn biết chăng? ⇒ như một lời than thở, thể hiện nỗi khắc khoải đợi chờ và hi vọng luôn day dứt không yên trong người chinh phụ.
b) 8 câu thơ còn lại
– Cảnh vật thiên nhiên:
+ Gà eo óc gáy – sương năm trống: gà gáy báo hiệu canh năm, báo hiệu người vợ trẻ xa chồng đã thao thức suốt đêm
⇒ Tiếng gà khắc khoải như xoáy sâu vào tính chất tĩnh lặng của không gian, đồng thời cũng xoáy sâu vào tâm trạng người chinh phụ
+ Hòe phất phơ: cảnh vật quạnh hiu
– Cảm thức của người chinh phụ về thời gian:
Hòe: bóng cây hòe ngoài sân, trong vườn ngắn rồi lại dài, dài rồi lại ngắn, thể hiện sự trôi đi của thời gian – thời gian của xa cách và nhớ thương
Thời gian của tâm trạng:
Khắc, giờ ———— niên
Mối sầu ———— biển xa
– Hành động của người chinh phụ:
Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành
Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.
Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.
⇒ Sự mâu thuẫn giữa cảm xúc và lí trí
⇒ 16 câu thơ đầu thể hiện tình cảnh lẻ loi, nỗi cô đơn sầu muộn của người chinh phụ.
2. Nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ
a) 6 câu thơ đầu
– Hình ảnh thiên nhiên:
Gió đông: gió mùa xuân, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên.
Non Yên: núi Yên Nhiên, nơi phương bắc xa xăm – nơi người chồng đang chinh chiến.
– Biện pháp nghệ thuật
Hình ảnh ước lệ: non Yên.
Điệp ngữ vòng: non Yên, trời
Từ láy: thăm thẳm, đau đáu.
⇒ Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, không chỉ là không gian vô tận ngăn cách hai vợ chồng, mà còn là nỗi nhớ không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà.
b) 2 câu còn lại
– Hai câu thơ mang tính khái quát, triết lý sâu sắc
– Lời thơ chuyển sang độc thoại nội tâm, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng người chinh phụ với hình ảnh người chinh phụ tràn ngập trong tâm tưởng.
⇒ 8 câu thơ cuối như lời gửi gắm nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa xôi.
III. Kết bài
– Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
– Liên hệ với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến có chồng đi lính
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 1
Là con người, ai cũng khiếp sợ chiến tranh, bởi chiến tranh gắn liền với máu và nước mắt. Vào thế kỉ thứ XVIII, tình hình xã hội nước ta vô cùng rối ren, chính trị bất ổn, chiến tranh liên miên. Triều đình cần nhiều binh lính để chiến đấu. Vì vậy, rất nhiều trai tráng đã từ giã gia đình và gia nhập quân ngũ. Nhưng “cổ lai chinh chiến khứ nhân hồi” tức có nghĩa là xưa nay, đi chiến đấu có mấy ai trở về. Thật vậy, sự ra đi không hẹn ngày về của những người chồng đã khiến cho người vợ của họ, những người thiếu phụ đã trở thành những người chinh phụ. Người khuê phụ trong bài thơ “Khuê oán” của Vương Xương Linh từng thốt:
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,Hối giao phu tế mịch phong hầu.
Nỗi niềm này một lần nữa chúng ta lại bắt gặp trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” nguyên tác của Đặng Trần Côn. Đây là đoạn trích trong khúc ngâm được xem là tiêu biểu nhất cho thể loại khúc ngâm trong văn học Việt Nam. Dưới trí tuệ của dịch giả Đoàn Thị Điểm – người “tài sắc nương tử xưa hiếm nay không, xuất khẩu thành chương, bản chất thông minh” mà tuyệt tác Hán ngôn “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn một lần nữa thăng hoa. Đặc biệt 16 câu đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” – bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm, dù ngắn nhưng Đoàn Thị Điểm đã làm nổi bật lên bức tranh tâm trạng của người chinh phụ với những cảm nhận về thời gian chờ đợi và nỗi cô đơn, buồn nhớ, sầu lo dành cho người chinh phu:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bướcNgồi rèm thưa rủ thác đòi phen…Sắt cầm gượng gảy ngón đànDây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”
Nửa đầu thế kỷ XVIII, “chính sự hư hỏng, thuế khóa nặng nề”, khắp nơi nông dân vùng lên khởi nghĩa và chúa Trịnh đã tiến hành nhiều cuộc đánh dẹp. Những cảnh vợ chồng chia lìa, nhà cửa ly tán đã khiến Đặng Trần Côn xúc động mà làm ra khúc ngâm. Tác phẩm là lời tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa; đồng thời là tiếng nói khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi vốn ít được thơ văn các thời kỳ trước chú ý. Nguyên tác “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn gồm 477 câu viết bằng chữ Hán theo thể trường đoản cú. Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, có lẽ do đồng điệu với người chinh phụ, đã diễn Nôm thành 408 câu song thất lục bát. Đoạn trích trên được trích từ câu 193 đến câu 288 của nguyên tắc, là tình cảnh và tâm trạng của người chinh phụ trong những năm tháng chồng đi đánh trận: tình cảnh cô đơn và khát khao được giãi bày, chia sẻ.
Tâm trạng của người chinh phụ trước hết được bộc lộ thông qua không gian và hành động:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bướcNgồi rèm thưa rủ thác đòi phen”
Thủ pháp đối “hiên vắng” với “rèm thưa” không chỉ miêu tả không gian mà còn hé lộ tâm trạng. “Hiên vắng” cho thấy chẳng có ai ngoài người chinh phụ nhưng thực chất trong nhà còn có cha mẹ chồng và các con, đâu chỉ mình nàng. Song, cái vắng lặng kia của không gian phải chăng toát ra từ cõi lòng cô đơn, trống vắng của người chinh phụ? Qua con mắt ngóng trông, bức rèm dẫu có dày, cũng trở thành “rèm thưa”. Ngoài không gian, hành động nhân vật cũng là phương tiện miêu tả nội tâm nhân vật hiệu quả. Hai câu thơ có đến bốn động từ chỉ hoạt động: “dạo”, “ngồi, “rủ”, “thác” nhưng trọng tâm câu thơ lại không rơi vào những chữ ấy mà nó nằm ở những trạng từ diễn tả tính chất của hành động: “thầm gieo từng bước” và “đòi phen”. “Thầm gieo từng bước” không phải “đi” hay “bước” mà là “gieo” tức âm thầm mà vẫn nặng lòng, làm nặng luôn cả bước chân! Bước chân nặng nề ấy dường như độc giả còn bắt gặp trong “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều:
Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoảiNgán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ
Bài thơ “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều cũng là một bài thơ viết về nỗi lòng của người phụ nữ
Thật buồn khi những bước chân ấy đều là những bước chân mang nỗi lòng của những người phụ nữ đáng thương. Còn “đòi phen” là một từ cổ, có nghĩa là “nhiều lận”. Động tác buông rèm và cuốn rèm được lặp đi lặp lại trong dáng vẻ vô hồn, vô thức. Không có gì thay đổi, nghĩa là kết quả của chuỗi ngày đợi chờ trong mỏi mòn, hy vọng trong vô vọng. Đó là sự tái hiện nhiều khoảnh khắc giống nhau, đó cũng là sự dồn nén tâm trạng.
Không chỉ qua không gian và hành động mà tâm trạng của người chinh phụ còn được bộc lộ rõ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tinTrong rèm dường đã có đèn biết chăng?Đèn có biết dường bằng chẳng biếtLòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”
Hướng ra “ngoài rèm”, nàng mong chờ chim thước báo tin vui, rằng chồng đã trở về an lành. Nhưng tuyệt nhiên, điều nhận lại chỉ là sự im lặng đến đáng sợ: “Ngoài rèm thước chẳng mách tin”, và thế là đành trở về độc thoại trong nỗi cô đơn của chính mình. Câu thơ như một cái lắc đầu tuyệt vọng. Câu hỏi tu từ “trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” mang hình thức đối thoại với ngọn đèn, nhưng thực chất là độc thoại nội tâm đấy thôi, nào có ai để mà giãi bày, chia sẻ! Thủ pháp đối “trong rèm – ngoài rèm” cho thấy một hiện thực tù túng: nhìn ra ngoài hay nhìn vào trong thì cuối cùng cũng chỉ quanh quẩn, trói buộc bên song cửa sổ, trong một không gian chật hẹp. Không gian tự thân đã chứa đựng khả năng biểu đạt tâm trạng. Càng vắng lặng, chật hẹp, tù túng thì càng cảm nhận rõ hơn hết nỗi trống vắng, cô đơn. Và vì thế mà càng bị nỗi sầu bủa vây, không cách nào giải tỏa.
Cách nói có vẻ mâu thuẫn “Đèn có biết dường bằng chẳng biết” cho thấy một nỗi hụt hẫng, thất vọng. Ngọn đèn được nhân hoá với mục đích thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ nỗi lòng của người chinh phụ. Nhưng suy cho cùng đèn cũng chỉ là một vật vô tri vô giác mà thôi! Trong tâm hồn người chinh phụ tưởng chừng đã lóe lên niềm vui, bởi đã có người đồng cảm, sẻ chia, để thỏa niềm khao khát được giãi bày và thoát khỏi cảnh sống cô đơn, chờ đợi của hiện tại. Nhưng cũng ngay lập tức nàng nhận thức được hiện thực không gì khác ngoài: khổ đau, chia lìa và vô vọng, càng mong mỏi, khát khao lại càng bế tắc, tuyệt vọng. Thật bi kịch khi càng muốn thoát ra thì nàng càng bị nỗi sầu muộn trói chặt hệt như người sắp đuối nước tưởng đã tìm thấy chiếc phao cứu sinh. Nào ngờ…
Hình ảnh “ngọn đèn” vốn là thi liệu quen thuộc trong ca dao viết về nỗi nhớ tình yêu:
“Đèn thương nhớ aiMà đèn mà đèn không tắt”
Hay:
“Mong anh mà chẳng thấy anhThiếp tôi buồn bã khêu quanh ngọn đèn”
Rồi lại:
“Đêm qua gió bấc mưa dầmĐèn lầm với bóng, bóng lầm với ai?”
Trò chuyện với “ngọn đèn” là thế! Song, “lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” – là lời người chinh phụ tự bạch với chính mình. Tính từ “bi thiết” không chỉ diễn tả nỗi buồn mà hơn thế, đó còn là nỗi đau tự ý thức về tình cảnh cô đơn và nỗi sầu không ai chia sẻ được đang trở đi trở lại vò xé tâm can người chinh phụ.
Tâm trạng của người chinh phụ, cuối cùng, được bộc lộ thông qua ngoại hình nhân vật:
“Buồn rầu chẳng nói nên lờiHoa đèn kia với bóng người khá thương”
Nét mặt và dáng vẻ “buồn rầu”, cô đơn, tiều tụy ấy là kết quả của những chuỗi ngày mòn mỏi đợi chờ, cho thấy sự sống kéo lê, tàn tạ, nhạt nhòa. Phải chăng đó chỉ là tồn tại, nào phải sống cuộc sống của một con người? Nhìn kiếp “hoa đèn” lụi tàn, người chinh phụ tự thương cho kiếp mình tàn lụi. Người và vật cuối cùng cũng chẳng khác gì nhau. Thật đáng thương! Thật đau xót! Đặc tả những nét ngoại hình ấy của nhân vật, ngòi bút không chỉ xoáy sâu vào từng ngóc ngách để mổ xẻ tâm lí nhân vật, mà hơn thế, chính tác giả và dịch giả đang sống và trăn trở cùng nhân vật, đau nỗi đau của nhân vật trữ tình. Đó là dùng chiều sâu của tâm hồn, chiều rộng của tình thương để thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ cùng nhân vật. Vì thế mà ở dòng thơ cuối cùng, lời nhân vật, lời tác giả và dịch giả dường như đã hòa làm một trong một niềm đồng cảm.
Sau những tháng ngày khắc khoải trong mong chờ: hết “dạo hiên vắng” lại “ngồi rèm thưa”, hết ngóng tin từ chim thước ngoài rèm, đến tìm kiếm một sự đồng cảm từ ngọn đèn trong rèm; người chinh phụ bắt đầu có cảm nhận sâu sắc về thời gian chờ đợi:
“Gà eo óc gáy sương năm trốngHoè phất phơ rủ bóng bốn bên.”
Trước tiên đó là cảm nhận về sự thay đổi của thiên nhiên, cảnh vật: đêm, tiếng gà nhức nhối suốt năm canh; ngày, sự dịch chuyển của bóng cây hòe trên mặt đất. Sự quan sát thiên nhiên này đã hé lộ tư thế của nhân vật trữ tình: người chinh phụ “ngồi nhẫn tàn canh” trong cảnh đợi chờ. Có thể nói, chờ mong đã trở thành tâm trạng thường trực của nàng. Từ láy tượng thanh “eo óc” và từ láy tượng hình “phất phơ” càng khắc sâu thêm không gian hiu quạnh, tĩnh lặng của cảnh vật, cũng như tâm trạng trống vắng, cô đơn của con người. Bút pháp “tả cảnh ngụ tình”, “lấy động tả tĩnh” đã được vận dụng một cách tinh tế, hiệu quả. Hình ảnh cây hòe trong màn đêm “phất phơ rủ bóng” cũng gợi lên cảm giác man mác buồn, xót xa. Hình ảnh “rủ bốn bên” của cây hòe còn biểu hiện bước đi của mặt trời trọn một ngày. Nếu như hình ảnh cây hòe bắt gặp trong bài “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi tượng trưng cho sự tươi tốt, căng tràn sức sống “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương” thì đến với cây hòe trong bài “Chinh phụ ngâm” lại được đặt trong đêm khuya thanh vắng, thấm đượm nỗi buồn. Từ đó ta thấy được nghệ thuật dùng từ của tác giả, đó là sự chọn lọc một cách tinh tế từ ngữ để biểu thị cảm xúc, tâm trạng.
Nếu như ở cặp song thất, cảm nhận của người chinh phụ về thời gian được gợi lên qua cái nhìn về cảnh vật, thì ở cặp câu lục bát, nhân vật trữ tình đã trực tiếp giãi bày cảm nhận, tâm trạng của mình:
“Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Xưa nay trong cảnh đợi chờ, bao giờ con người cũng cảm thấy thời gian chảy trôi với một nhịp điệu hết sức chậm rãi, như muốn trêu ngươi, kéo dài khoảnh khắc chờ đợi của con người. Như trong “Kinh Thi” của Trung Quốc từng ví “nhất nhật tựa tam thu” hay trong “Truyện Kiều”, khi miêu tả nỗi niềm tương tư trong tình yêu, Nguyễn Du cũng đã để Kim Trọng phải thốt lên: “Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dồn lại một ngày dài ghê!”. Trong Chinh phụ ngâm, thời gian chờ đợi của đôi lứa đang trong cảnh ngộ chia lìa dường như càng đáng sợ, khủng khiếp hơn, nhất là khi nó được cảm nhận từ một người thiếu phụ: từng khắc, từng giờ trôi đi như đã qua cả một năm vậy! Nỗi buồn tủi, cô đơn cũng theo đó mà vô cùng vô tận như biển xa.
Thủ pháp so sánh “như, tựa” với những hình ảnh tưởng chừng như khoa trương, ước lệ “khắc giờ như niên” rồi lại “mối sầu tựa biển”, nhưng lại rất thực với tâm trạng mòn mỏi, nỗi lòng ngổn ngang của người thiếu phụ có chồng đi chinh chiến. Bởi nó đã chuyển biến từ thời gian thật của ngoại cảnh (ở cặp song thất) đến thời gian của tâm lý (ở cặp lục bát này). So sánh bản diễn Nôm với nguyên tác, người đọc có thể thấy được thành công của bản dịch trong việc thể hiện nội dung tư tưởng, tình cảm của câu thơ. Nếu như trong bản chữ Hán của Đặng Trần Côn, đây là hai câu đoản cú “Sầu tự hải/Khắc như niên” thì trong bản diễn Nôm, ý thơ của nguyên tắc được diễn đạt tinh tế, sâu sắc và cảm động hơn. Đoàn Thị Điểm đã sử dụng tài tình thể song thất lục bát – vốn là thể thơ có khả năng dồi dào trong diễn đạt tâm tư tình cảm;vận dụng thành công các từ láy “đằng đẵng, dằng dặc” – một phương tiện ngôn từ đặc thù của tiếng Việt, để miêu tả chính xác, chân thật tâm trạng của nhân vật trữ tình. Bên cạnh đó bà còn hoán chuyển thứ tự hai câu thơ để mạch cảm xúc đi từ cảm nhận về ngoại cảnh “khắc giờ” cho đến lặn sâu vào nội tâm của con người “mối sầu”. Như vậy, trong không gian vô cùng và thời gian vô tận của sự chờ đợi, người chinh phụ chỉ thấy có mình đối diện đàm tâm với biển sầu của chính mình. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai quả thật tinh tế và sâu sắc khi nhận định rằng: “Đây là một trong những vần thơ mênh mông vô tận, như khối sầu trong lòng người yêu tự ngàn xưa”.
Trong sự bủa vây của mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa, người chinh phụ cố gắng tìm cách vượt ra khỏi, nhưng rốt cuộc vẫn không thoát nổi:
“Hương gượng đốt hồn đà mê mảiGương gượng soi lệ lại châu chanSắt cầm gượng gảy ngón đànDây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”
Nàng muốn làm mọi việc để quên đi nỗi nhớ chồng, nhưng xung quanh lại luôn là khung cảnh gợi nhớ, khơi dậy cảm giác về sự chia lìa lứa đôi hiện tại của nàng: “hương”, “gương” rồi sắt cầm” – đàn cầm và đàn sắt gảy hòa âm với nhau, thường dùng để ví cảnh vợ chồng hòa thuận, với dây đàn uyên ương và phím đàn loan phượng – hình ảnh biểu tượng của lứa đôi gắn bó: cặp uyên ương, loan phượng. Chính vì vậy, nỗi nhớ lại càng chất chồng. Cho nên, hết thảy ba lần lần người chinh phụ định làm những công việc bình thường của cuộc sống hằng ngày thì cũng chỉ là “gượng”. Chính phép điệp từ “gượng” gợi tả cử chỉ, dáng dấp: cố làm cho ra vẻ tự nhiên, bình thường khi đang có tâm trạng buồn, đồng thời nhấn mạnh sự gượng gạo đến tội nghiệp của nàng. Khi đốt hương, nàng lại chìm đắm vào nỗi sầu tủi miên man: “hồn đà mê mải”. Khi soi gương thì nàng lại nhớ hình ảnh cùng chồng soi chung nên không cầm được nước mắt “lệ lại châu chan”. Khi gắng “gảy ngón đàn” thì kinh sợ “dây uyên” bị “đứt”, lo ngại “phím loan” bị “chùng”, là những điềm gở báo hiệu sự không may của lứa đôi đang xa nhau. Ở những câu thơ này, yếu tố tự sự – thuật hành động, và yếu tố trữ tình – tả tâm trạng, xuất hiện sóng đôi, đan xen nhau. Trong cùng một câu thơ, vế trước chỉ việc làm, vế sau là sự biểu hiện tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình: “Hương gượng đốt / hồn đà mê mải” rồi “Gương gượng soi / lệ lại châu chan.” Thủ pháp đối kết hợp với liệt kê, đảo ngữ – đưa bổ ngữ chỉ vật lên trước hành động: “hương gượng đốt, gương gượng soi, sắt cầm gượng gảy, dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng” có tác dụng rất lớn đối với việc xây dựng yếu tố tự sự. Bên cạnh đó, từ ngữ cũng được Đoàn Thị Điểm lựa chọn, sử dụng rất “đắt”: “mê mải, châu chan, kinh, ngại” đã biểu đạt đến tận cùng các sắc thái tình cảm, cung bậc tâm trạng của nhân vật trữ tình. Chưa đến nỗi như người thiếu phụ ngày xưa vọng phu hóa đá, nhưng nàng chinh phụ của chúng ta đã phải sống trong nỗi cô đơn, buồn nhớ, sầu lo triền miên không dứt. Mọi nỗ lực nhằm xua tan đi buồn nhớ đều bất lực, vô dụng. Không thể thay đổi cảnh sống hiện tại, người chinh phụ lại càng khắc khoải âu sầu, càng rơi vào tuyệt vọng. Đó là sự bế tắc khủng hoảng đến độ trở thành bi kịch.
Đoạn trích đã thể hiện sự đồng cảm của tác giả – dịch giả khi khắc họa thành công bi kịch tâm trạng của người chinh phụ: khát khao được giãi bày, chia sẻ mâu thuẫn với hiện thực cô đơn, sầu muộn. Người chinh phụ đã bật lên tiếng nói thầm kín của lòng mình.
“Nếu như có những tư tưởng của thời đại, thì cũng có những hình thức của thời đại” (Bielinski). Trong văn học phong kiến “phi ngã”, Chinh phụ ngâm nói chung và đoạn trích nói riêng, ra đời để cất lên tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người, đặc biệt là người phụ nữ; qua đó, tố cáo chiến tranh phi nghĩa đương thời
Tiếng nói ấy xuất phát từ tấm lòng nhân đạo cao cả và tư tưởng nhân văn tiến bộ, và có ý nghĩa khai phá quan trọng: là tiền đề cho tinh thần nhân đạo đề cao quyền sống và quyền hạnh phúc lứa đôi của con người ở văn học giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX trỗi dậy mạnh mẽ trong Truyện Kiều, Cung oán ngâm, thơ Hồ Xuân Hương… sau này.
Hình ảnh ước lệ tượng trưng, giàu sức gợi hình, biểu cảm: sắt cầm, dây uyên, phím loan”. Đoạn trích đã chọn lọc đắt giá, khai thác hiệu quả những từ thuần Việt (thầm gieo, đòi phen, khá thương, gượng, kinh, ngại), đặc biệt hàng loạt những từ láy tượng thanh, tượng hình đậm đà tính dân tộc (eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, thăm thẳm, đau đáu); các biện pháp nghệ thuật thường xuất hiện trong thơ văn cổ (đối, điệp, nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, câu hỏi tu từ,…). Thể song thất lục bát của bản diễn Nôm góp phần quan trọng diễn tả được những trạng thái tình cảm miên man không dứt, phù hợp với giai điệu chung của khúc ngâm.
Có thể nói rằng cả khúc ngâm đọng thành một “mối sầu vạn cổ” mà không gây nhàm chán vì sự diễn biến tinh vi mà phong phú, đa dạng của đời sống nội tâm nhân vật. Chỉ riêng đoạn trích này, tâm trạng của người chinh phụ đã có những chuyển biến luân phiên: ngóng trông ngoại cảnh để tìm mối đồng cảm, nhưng không thành để rồi quay về độc thoại với nỗi cô đơn sầu muộn ngổn ngang trong sâu thẳm lòng mình; khi lóe sáng chút hy vọng, lúc lại rơi vào hố sâu tuyệt vọng, ủ rũ, bế tắc. Nếu nói rằng, lời lẽ trong “Chinh phụ ngâm” là sự “hoàn toàn thống nhất giữa ý, tình và âm thanh, nhịp điệu, những câu thơ đẹp vào bậc nhất trong thơ Việt Nam” (Hoài Thanh) thì đoạn trích này là một minh chứng.
16 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – Mẫu 2
Chinh Phụ Ngâm là một trong những tác phẩm văn học trung đại xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam mà ở đó, lồng ghép những mạch cảm xúc, câu chuyện thấm đẫm nỗi bi thương về thân phận người phụ nữ thời kỳ lúc bấy giờ, đồng thời gián tiếp miêu tả chân thực bức tranh hiện thực xã hội cay đắng, bất công.
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Không gian hiên vắng, ngay từ những vần thơ đầu đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận u buồn, kết hợp với các động từ như “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, bồn chồn, thấp thỏm của người phụ nữ dưới mái hiên nghèo, những ngày động cứ lặp lại vô nghĩa, càng thể hiện sự hoang hoải và trống rỗng trong tâm trí. Và rồi dường như, nhân vật đang phân tâm để đối thoại độc thoại với chính mình, mà lại vừa có cảm giác như một lời trách móc:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
Bắt đầu từ đây, người chinh phụ bộc lộ nỗi lòng cô đơn và sự nhớ mong, nhớ thương khôn xiết đến người chinh phụ nơi chiến trận phương xa. Nàng không chỉ mang nỗi nhớ đơn thuần, mà còn mang trong lòng sự khắc khoải khôn nguôi, trằn trọc khi không nhận được tin tức về người chinh phụ. Hình ảnh chim thước – loài vật báo tin tốt lành xuất hiện chính là sự minh họa rõ nhất cho nỗi lòng ấy. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm mọi không gian, thậm chí lan thấm vào nhuốm vào màu không gian một sắc buồn ảm đạm. Càng nhớ, càng mong mỏi được giãi bày, và ngọn đèn trở thành người tri kỉ trong vò võ cô đơn để người chinh phụ tâm sự. Ca dao xưa đã từng có bài ca dao khăn thương nhớ ai, cũng miêu tả hoàn cảnh của người phụ nữ trong vò võ đêm trường, một mình bầu bạn với ngọn đèn khuya, chính ngọn đèn khuya leo lét, lạnh lẽo càng nhấn mạnh thêm tình cảnh trơ trọi lẻ loi của người chinh phụ:
“Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
Người chinh phụ tự thương cho thân phận mình, bỗng nhận thấy trong bóng đèn dầu kia phản chiếu lên bức tường với số phận, thân phận mình như nhập hòa làm một, nỗi buồn mượn ngọn đèn để san sẻ nhưng cũng chẳng thể thỏa nỗi nhớ mong, niềm khát khao đồng điệu.
“Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Không gian khi càng về sáng, càng yên tĩnh, đó cũng là không gian mà tâm trạng những người cô đơn càng thêm đơn độc, lẻ loi biết nhường nào. Cảnh vật xung quanh cũng heo hút, phất phơ, các từ eo óc, phất phơ, càng gợi cho ta cảm giác rằng người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nỗi nhớ vốn vô hình, vốn không thể cân đong đo đếm, nay được định lượng hóa bằng sự đằng đằng của tháng năm, bằng sự rộng dài của dòng thời gian trường cửu, càng thêm quay quắt và trở nên trơ trọi. Và giờ đây, nỗi nhớ đã trở thành mối sầu tựa miền ải xa, nghĩa là nó không chỉ thuộc về cảm xúc, mà còn đang mang những âu lo, khắc khoải, rợn ngợp về tương lai.
Những phím đàn gảy lên càng gợi cảm giác về sự đơn độc, về sự hoang hoải trống vắng trong tâm hồn, và tràn ngập những nỗi sợ hãi về tương lai, về sự cách lý.
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã lột tả một cách sống động chân thực cảm xúc cô đơn và nỗi nhớ thương khắc khoải đến quặn thắt của người chinh phụ, đồng thời qua đó gián tiếp vạch trần tội ác của chế độ chiến tranh phi nghĩa năm xưa, khiến gia đình phải tan tác, đau thương.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 3
Có thể nói, ở mỗi thời đại, văn học đều là tấm gương phản chiếu lên được mặt tốt và mặt xấu của xã hội. Khai thác và đào sâu vào những vấn đề thuộc về nội tâm của con người. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm là một điển hình tiêu biểu như thế, đặc biệt là mười sáu câu đầu đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. Đoạn trích phản ánh lên tội ác của những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã làm cho người chinh phụ phải rơi vào tình cảnh cô đơn lẻ loi, tâm trạng đau khổ khắc khoải khôn nguôi. Hãy cùng thả lòng mình đến với 16 câu đầu đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” để cảm nhận rõ nét hơn nỗi cô đơn của người vợ có chồng đi chinh chiến.
Đoạn trích ra đời vào thế kỉ XVIII. Đầu đời vua Lê Hiển Tông, triều đình sai quân đánh dẹp, nhiều trai tráng trong làng phải từ giả người thân ra trận. Khi ấy, cảm nhận được nỗi khổ của những người nông dân, đặc biệt là người vợ lính. Đặng Trần Côn đã viết nên tác phẩm, bằng chữ Hán là một khúc ngâm đầy cảm xúc. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” nằm từ câu 193 -216 và từ câu 228 – 252 trong nguyên tác. Khi vừa ra đời tác phẩm đã nhận được rất nhiều sự chú ý từ những nhà yêu thơ, đã có nhiều bản dịch ra chữ Nôm, nhưng bản dịch hiện tại là thành công nhất được viết theo thể song thất lục bát là thể thơ thuần túy của người Việt Nam. Nhưng sau khi bản dịch ra đời lại có tranh cãi rằng bản dịch đấy là của Phan Huy Ích hay Đoàn Thị Điểm. Phần lớn cho rằng là của Đoàn Thị Điểm bởi bà cũng có hoàn cảnh giống như người chinh phụ (bà có chồng đi sứ ở Trung Quốc). Mười sáu câu đầu đoạn trích là khung cảnh người chinh phụ chờ đợi chồng trong hoàn cảnh u buồn, đơn độc. Những hành động được tiếp diễn đưa cảm xúc lên cao trào.
Mở đầu cho cảm xúc cô đơn, đau buồn kéo dài theo không gian và thời gian vô tận là hành động chậm rãi:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Hành động được hiện ra với dáng vóc đầy suy tư của người chinh phụ. Nhịp thơ nhẹ nhàng, như để đi vào cảm xúc. Những động từ “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, không gian im lặng đến mức nghe từng tiếng bước chân. Người chinh phụ dường như đang suy nghĩ trăn trở nên nàng “ngồi” mà lòng thì chẳng để tâm. Tác giả đã sử dụng hình ảnh ” rủ thác đòi phen”- kéo màng lên rồi lại buông màn xuống. Để cho thấy hành động lặp đi lặp lại vô nghĩ. Và rồi dường như có tiếng thầm thì trách móc:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
Người chinh phụ bắt đầu giãi bày nỗi niềm tâm sự của mình. Thực sự nàng đang rất nhớ người chinh phu điều đó được thể hiện rõ nét qua hình ảnh “chim thước”- chim khách, là loài chim thường mang tin tốt lành. Nàng trách chim thước chẳng báo một chút tin tức nào của người chồng, để nàng phải đợi mong, cô đơn khắc khoải. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm tất cả không gian bên trong và bên ngoài phòng khuê. Và nàng cũng cần lắm một người tâm sự cùng mình. “Đèn” được nhà thơ nhân hóa lên như một người bạn. Nếu với “Ca dao yêu thương tình nghĩa”: ” Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt” chiếc đèn nguyện cùng cô gái thao thức suốt đêm mộng mơ nhớ thương, thì với Chinh phụ ngâm chiếc đèn lại phũ phàng với người phụ nữ lẻ loi ấy. “Đèn” đã tắt khi người chinh phụ đang cần lắm một sự sẻ chia, “đèn” đã làm cho người chinh phụ nhận ra rằng “dù thế nào thì đèn cũng chỉ là vật vô tri vô giác” chẳng thể chia sẻ cùng nàng được. Tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” Như muốn cho người đọc cảm nhận người chinh phụ đã đi qua từng cảm xúc. Và đến khi tuyệt vọng nàng đã nói một câu mà nghe như xé lòng: Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” nàng xin nhận hết và chịu đựng hết nỗi cô đơn cho riêng mình. Bởi vì chẳng có ai bên cạnh để nàng chia sẻ. Biết bao nỗi niềm chất chứa chẳng nói thành lời:
“Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
Nỗi buồn u ám dưới màng đêm, nỗi buồn mà ngay cả nàng cũng chẳng thể nói nên lời được. Có lẽ do nỗi buồn ấy quá lớn và nó lại hiện lên mỗi ngày. Nghệ thuật so sánh “Hoa đèn” với “bóng người”, người chinh phụ nhìn hoa đèn mà nghĩ đến cuộc đời của mình có mau lụi tàn như chiếc hoa đèn kia hay không? Hay còn hẩm hiu hơn thế nữa? Càng nghĩ nàng càng thấy buồn, dường như lúc này cảnh vật cũng rũ xuống một màu đen tối:
“Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.Khác giời đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Trời đã khuya, không gian yên tĩnh, nghe từng tiếng gà gáy. Âm thanh vang lên “eo óc” thưa thớt, hình ảnh hoa hòe “rũ bóng bốn bên”, thời khắc cảnh vật mỏi mòn chìm vào đêm tối. Đã qua hết năm canh mà người chinh phụ vẫn còn thao thức với nỗi sầu khó vơi đi được. Sự so sánh “khắc giờ” như “niên”, một giờ dài bằng một năm, điều đó càng tô đậm hơn nỗi cô đơn. Thời gian cũng kéo dài cùng với nỗi sầu muộn của nàng. Cùng với từ láy “đằng đẵng”, “dằng dặc” cho thấy sự kéo dài triền miên đau đớn cứ mãi day dứt trong lòng. Nghệ thuật lấy động tả tỉnh làm nổi bật lên không gian, thời gian, lấy cái xa của biển cả để nói về cái buồn của lòng người là một cách miêu tả đầy tinh tế. Tiếp đến nàng muốn tìm những thú vui tao nhã, tập cách quên đi nỗi buồn trước mắt:
“Hương gượng đốt hồn đà mê mải,Gương gượng soi lệ lại châu chan.Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”
Nhưng nàng chẳng biết rằng những thú vui tao nhã này lại khi nàng chìm đắm vào nỗi sầu mênh mang. Khi đốt hương, hồn nàng lại rơi vào trạng thái mơ màng, nỗi sầu lại theo đó mà dâng lên. Rồi khi soi gương để tô son điểm phấn, nàng lại càng xót xa cho thân phận của mình, nhan sắc của một người phụ nữ đang dần phai mòn đi theo những tháng ngày lẻ loi, không có chồng bên cạnh để làm điểm tựa. Khi đánh đàn nàng lại sợ “dây uyên đứt”, “phím loan chùng” nàng sợ những điều không may xảy đến cuộc tình của nàng. Biết bao nỗi đau đau, nỗi sợ bủa vây lấy nàng. Điệp từ “gượng” được lặp lại ba lần cho thấy sự miễn cưỡng trong hành động. Cũng chỉ vì quá cô đơn, muốn quên đi mà nàng mới làm. Nhưng dù có thú vui tao nhã đến đâu, dù tô son điểm phấn hay đánh đàn thì cũng chẳng bao giờ nàng cảm thấy vui, bởi vì ngay lúc này với nàng là nỗi cô đơn mong mỏi chồng từ nơi chinh chiến sẽ trở về, mong được nghe một lời động viên an ủi từ người chồng của mình. Nhưng tất cả đều không!
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, sử dụng những điệp từ, so sánh nhiều hình ảnh để vẽ ra khung cảnh của người chinh phụ mang nhiều tâm trạng. Sự cô đơn, lẻ loi của người phụ nữ trong đêm tối. Và khi hình ảnh buồn khổ ấy hiện lên chân thực đến đâu thì càng vạch trần cái tội ác xấu xa của chiến tranh phi nghĩa đẩy biết bao gia đình rơi vào cảnh chia lìa. Mà niềm cảm thông lớn nhất là dành cho người chinh phụ, là phụ nữ nhưng họ phải hy sinh tuổi xuân để chờ chồng mà chẳng có chút tin tức, không có ai chia sẻ những nỗi buồn. Từ đấy cho ta thấy được cách chọn đề tài của Đặng Trần Côn rất mới mẻ, phù hợp với thời đại lúc bấy giờ. Cách miêu tả nội tâm đầy sâu sắc của ông, cho thấy ông là một người có vốn sống rất rộng. Đồng thời là sự sắc sảo trong cách dùng từ của hai dịch giả Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích đã tạo nên đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” rất thành công.
Thông qua mười sáu câu đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” càng giúp ta hiểu rõ nét hơn những nỗi cô đơn của người phụ nữ trong xã hội cũ khi có chồng đi chinh chiến. Nó là nỗi cô đơn da diết kéo dài theo không gian thời gian. Từ đó cho thấy hậu quả của chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Và là lời ca ngợi cho tác giả Đặng Trần Côn, ông quả là một nhà thơ tài năng và tác phẩm của ông đã chạm đến trái tim của đọc giả và vượt qua hàng trăm năm, nhưng mỗi lần nhắc về những tác phẩm chữ hán, người ta sẽ nghĩ ngay đến “Chinh phụ ngâm”. Ông đã để lại cho nền văn học nước nhà một áng văn hay.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 4
Đặng Trần Côn là một tác giả văn học nổi tiếng sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy biến động nên của đất nước khi mà chiến tranh đã làm chia cắt bao gia đình. Có biết bao nhiêu cặp vợ chồng vừa xây dựng hạnh phúc lứa đôi đã phải chia tay để chồng đi chinh chiến phương xa. Từ sự cảm thương với số phận con người trong thời chiến, ông đã viết nên tác phẩm “Chinh phụ ngâm”. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là một trong những đoạn trích tiêu biểu nói về tâm trạng cô đơn, lẻ bóng của người vợ trẻ khi chồng ra trận vắng nhà.
Ngay từ tám câu thơ đầu, tác giả đã mở ra một tâm trạng cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
Nỗi cô đơn của người chinh phụ đã được thể hiện trước hết qua hành động một mình nàng dạo hiên vắng. Buông rèm rồi lại cuốn rèm không biết bao nhiêu lần. Hành động này thể hiện sự bối rối, tâm trạng thất thần nhớ nhung khiến cho người phụ nữ còn không thể kiểm soát được hành động của mình. Đó là tâm trạng chờ đợi mong ngóng, tin tức người chồng phương xa. Nỗi buồn nỗi cô đơn của người chinh phụ còn được diễn tả qua sự đối bóng của người với ngọn đèn khuya.
Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Hai câu thơ được tác giả viết hình thức câu hỏi tu từ, thể hiện tâm trạng bế tắc của người chinh phụ. Nàng hỏi đèn để mong muốn tìm được một sự đồng cảm, sẻ chia, nhưng rồi tự trả lời rằng đèn không biết. Hình ảnh ngọn đèn cùng với nỗi lòng của người chinh phụ như càng góp phần khẳng định nỗi buồn triền miên, cô đơn, không ai chia sẻ.
Đoạn thơ 8 câu cuối có sự chuyển đổi tinh tế để phù hợp với diễn biến tâm trạng của người chinh phụ. Từ những lời tự sự miêu tả nội tâm, đến đoạn thơ này có sự kết hợp giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ của tác giả.
Gà eo óc gáy sương năm trống,Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
Đoạn thơ này, tác giả chủ yếu sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tức là dùng ngoại cảnh để miêu tả tâm trạng nhân vật, dùng cái chủ quan để miêu tả cái khách quan. Vì thế, trong bài thời gian vật lí đã biến thành thời gian tâm lý. Tiếng “gà eo óc gáy” là âm thanh báo hiệu năm canh và bóng cây “hòe” tĩnh mịch trong đêm nhằm làm tăng ấn tượng vắng vẻ, cô đơn đáng sợ.
Trong tâm trạng chờ đợi mỏi mòn đó người chinh phụ thấy thời gian trôi qua một cách chậm chạp, một khắc một giờ mà giống như một năm.
Và để giải tỏa nỗi niềm sầu muộn, người chinh phụ đã biết tìm đến những thú vui tao nhã thường ngày: “soi gương, đốt hương, gãy đàn”. Nhưng tất cả chỉ làm trong sự gượng gạo, miễn cưỡng chán chường.
Thành công của đoạn trích này là ở khả năng miêu tả tâm lí nhân vật vô cùng tinh tế với bút pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc của văn học trung đại và sử dụng hàng loạt các biện pháp tu từ: câu hỏi tu từ, điệp từ, điệp ngữ…
Chỉ với 16 câu thơ đầu, tác giả đã thể hiện được tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm được xem là tiếng kêu thương của người phụ nữ nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 5

“Chinh phụ ngâm khúc” là một trong những kiệt tác của danh sĩ, nhà thơ Đặng Trần Côn. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, được mọi người biết đến qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” bộc lộ rõ tâm trạng u buồn, nhớ nhung của người chinh phụ khi phải sống trong tình cảnh lẻ loi, vì chồng phải tham gia vào trận đánh chiến tranh tàn khốc. Tác phẩm thể hiện sâu sắc cảm hứng nhân đạo và sự lên án, tố cáo chiến tranh phi nghĩa khiến con người phải chia cắt.
Trong 16 câu thơ đầu tiên, tác giả thể hiện nỗi cô đơn của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi, cảm giác về thời gian chờ đợi, cố tìm cách giải khuây mà không được. Đến 11 câu thơ tiếp theo, thi nhân đã họa lại nỗi nhớ thương chồng ở phương xa của người chinh phụ khiến lòng nàng càng thêm ảm đạm. Trong những câu thơ còn lại, cảnh vật xung quanh càng khiến lòng người chinh phụ thêm rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi.
Những câu thơ đầu tiên chất chứa tâm trạng nhớ nhung, sầu muộn của người phụ nữ:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương”
Chúng ta thấy người chinh phụ khắc khoải chờ mong chồng dẫu ngày hay đêm. Nằm trong phòng, nàng hết buông rèm xuống lại cuốn rèm lên. Tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả từng động tác, cử chỉ, hành động được lặp đi, lặp lại nhiều lần của người chinh phụ. Những hành động ấy không xuất phát từ bất kỳ mục đích gì, tất cả đều là những động tác vô thức, không chủ đích, không ý nghĩa, cốt chỉ để biểu lộ tâm trạng cô đơn, lẻ loi của nàng. Người chinh phụ mong mỏi có được sự đồng cảm, nhưng thực tại lại càng thất vọng: “chim thước” chẳng chịu mách tin, “đèn” không hiểu được tâm sự của mình. Câu hỏi tu từ được sử dụng “đèn biết chăng?”, “đèn chẳng biết” phải chăng là lời thở than, thể hiện nỗi khắc khoải trong đợi chờ vô vọng, day dứt mãi khôn nguôi. Tâm trạng của nhân vật đã chuyển giọng kể tự nhiên, từ lời kể bên ngoài thành lời độc thoại nội tâm da diết, dằn vặt, ngậm ngùi. Hình ảnh “ngọn đèn”, “hoa đèn” cùng với cái bóng trên tường của chính mình gợi cho người đọc nhớ đến hình ảnh đèn không tắt trong bài ca dao vốn rất quen thuộc:
“Đèn thương nhớ aiMà đèn không tắt?Mắt thương nhớ aiMắt ngủ không yên?”
Nhận thấy trong tám câu thơ tiếp theo, người chinh phụ đã mượn cảnh thiên nhiên để diễn tả tâm trạng của mình, dùng cái khách quan để miêu tả sự chủ quan:
“Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.Hương gượng đốt hồn đà mê mải,Gương gượng soi lệ lại châu chan.Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”
Âm thanh “tiếng gà eo óc” báo hiệu canh năm, đồng thời như sự minh chứng rằng người vợ xa chồng đã thức suốt đêm dài. Hình ảnh “bóng hòe” ngoài sân, hết ngắn rồi dài, rủ xuống mặt đất, càng khiến không gian thêm ảm đạm, ngột ngạt. Thời gian của xa cách, nhớ thương cùng với tâm trạng da diết khôn nguôi. Cụm từ “gượng” được tác giả diễn tả cách đặc biệt, đi liền với các động từ “gảy”, “soi”, đốt” cùng những đồ vật “đàn”, “hương”, “gương”. Tất cả đều cho thấy, những thú vui tao nhã, những thói quen trang điểm hằng ngày của người phụ nữ, giờ đây vắng chồng, vắng niềm hạnh phúc, tiếng cười, bỗng được tiến hành một cách gượng ép. Đốt hương mà tâm hồn lại chìm đắm vào nỗi sầu tủi miên man. Soi gương lại không cầm được những giọt nước mắt không ngừng rơi vì tủi hổ. Đàn đứt dây, chùng lại, nào có thoát khỏi bể trời đơn côi?
Chúng ta thấy rằng chỉ vỏn vẹn 16 câu thơ đầu tiên, tác giả đã thể hiện rõ nỗi cô đơn, sầu tủi của người chinh phụ khi phải sống trong tình cảnh lẻ loi. Nàng cảm giác về thời gian trong đợi chờ, cố tìm cách giải khuây mà không được. Tác giả đã rất tinh tế khi diễn tả tâm trạng phong phú, tinh vi, sâu kín trong tình cảm của người phụ nữ, càng thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo dành cho người chinh phụ trong hoàn cảnh đơn côi, lẻ loi.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 6
Trong đề tài viết về chiến tranh, người ta thường viết nhiều về những tráng sĩ, những anh hùng đã chiến đấu, đã hi sinh vì non sông, đất nước. Rất ít tác giả viết về hình ảnh những người vợ, những người mẹ mòn mỏi chờ đợi tin tức của chồng mình, của con mình. Và có ai biết được rằng cái sự chờ đợi đó dường như là vô vọng, bế tắc bởi lẽ: “Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi”. Cảm thông trước cảnh buồn khổ của những người chinh phụ, Đặng Trần Côn đã sáng tác tác phẩm Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán và Đoàn Thị Điểm đã dịch bài thơ này ra chữ Nôm. Trong bản dịch này, có thể thấy xuất sắc nhất là đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. Đặc biệt là 16 câu thơ đầu tiên.
Ngay những câu đầu của tác phẩm Chinh phụ ngâm, tác giả đã vẽ nên cảnh chia tay giữa người chinh phụ và chinh phu: “Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”. Nói như thế có nghĩa là khi người chồng đã đi chinh chiến nơi biên ải xa xôi, người vợ phải ở nhà. Đó là hoàn cảnh của người chinh phụ trong hiện tại. Không những nêu lên hoàn cảnh hiện tại của người chinh phụ, 16 câu thơ đầu còn khắc họa hình ảnh của người vợ trẻ giữa không gian và thời gian. Về không gian, tác giả đã vẽ ra trước mắt chúng ta về hiên vắng, ngoài rèm, trong rèm. Đó là không gian hiu quạnh và vắng vẻ vô cùng.
Không chỉ thế, thời gian trong đoạn thơ này cũng được vẽ nên, đó là trục thời gian trôi chảy. Các hình ảnh hoa đèn, tiếng gà eo óc đã vẽ nên cái trục thời gian tuần hoàn: từ đêm đến đêm khuya và trời dần trở về sáng. Nói như thế có nghĩa là người chinh phụ đã thức suốt năm canh để chờ đợi, ngóng trông và gặm nhấm nỗi cô đơn, sầu muộn của mình.
Tóm lại, đoạn trích đã cho ta thấy được hình ảnh của người chinh phụ nổi bật giữa không gian và thời gian. Vậy giữa cái khoảng không gian quạnh vắng, cô đơn chiếc bóng ấy, giữa thời gian lê thê của năm canh ấy người chinh phụ đã làm gì?
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Hai câu thơ đầu đã cho chúng ta thấy hình ảnh của người chinh phụ với những hành động thật lạ kì. Người chinh phụ dạo hiên, người chinh phụ ngồi rèm. Thế nhưng, nàng dạo hiên mà thầm gieo từng bước, nàng ngồi rèm mà rủ thác đòi phen. Đó là hành động quanh quẩn, được lặp lại nhiều lần. Có thể thấy hành động này bất thường bởi lẽ nàng dạo hiên mà đếm từng bước chân. Nàng ngồi trước cửa sổ mà hết hạ rèm xuống rồi kéo rèm lên.
Hành động vô thức ấy cứ lặp đi lặp lại để cho thấy được rõ ràng bên trong người chinh phụ đang chất đầy tâm trạng. Nàng ngồi rèm, nàng dạo hiên không phải đề hòa mình với thiên nhiên, mà là để trông ngóng một điều gì đó. Có thể thấy, 2 câu thơ đầu đã đặc tả được sự cô đơn, lẻ loi, vắng bóng cũng như hé mở tâm trạng bên trong của người vợ trẻ này. Nàng đang chờ đợi, ngóng trông điều gì mà lòng thổn thức không yên. Và đến những câu thơ tiếp theo thì tâm sự của người chinh phụ đã được hé mở:
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Cụm từ “thước chẳng mách tin” hé lộ mọi tâm trạng của người chinh phụ. Thì ra người vợ trẻ ấy đang chờ đời con chim thước – con chim báo tin lành, tin của người chồng nơi biên ải xa xôi. Thế nhưng, con chim thước không đến và người chồng cũng bặt vô âm tín.
Tiếp theo đó, tác giả đã sử dụng thủ pháp đối lập giữa ngoài rèm với trong rèm và câu hỏi tu từ: “Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”. Chính cái thủ pháp đối lập và câu hỏi tu từ, một lần nữa cho chúng ta thấy được cái tâm trạng trách móc, buồn bã của người chinh phụ.
Bên cạnh đó, ta còn cảm nhận được sự tuyệt vọng của người vợ đang mòn mỏi chờ đợi tin tức của chồng. Những câu thơ đầu vẽ nên tình cảnh của người chinh phụ trong lẻ loi, cô đơn, vô vọng. Người chinh phụ ấy thật đáng thương biết bao. Và đáng thương hơn nữa khi nàng chỉ biết làm bạn với ngọn đèn:
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Với thủ pháp điệp từ: “đèn biết chăng”; “đèn có biết”. Tác giả đã vẽ nên dòng tâm trạng triền miên, day dứt, không nguôi của người vợ trẻ. Thêm vào đó, với câu hỏi tu từ” đèn có biết dường bằng chẳng biết” như là một nỗi ám ảnh, như là một tiếng lòng thổn thức không nguôi của người chinh phụ. Hai câu thơ này đã cho ta thấy tâm trạng buồn rầu, xót xa của người vợ khi chờ đợi mãi mà chưa có tin tức gì. Không chỉ thế, 2 câu thơ với câu hỏi tu từ đã tạo nên một dòng chảy tâm trạng triền miên, day dứt. Và dòng tâm trạng ấy lại trở nên dai dẳng hơn nữa, triền miên hơn nữa khi nó đặt giữa một không gian và thời gian chẳng bao giờ ngừng và đứt đoạn:
Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Bên cạnh việc sử dụng phép điệp, câu hỏi tu từ, đoạn thơ còn sử dụng nhiều hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng: hoa đèn, bóng người và cạm từ như bi thiếp, buồn rầu. Với những hình ảnh và cụm từ ấy, tác giả một lần nữa cho ta thấy sự cô đơn, sầu muộn. Đặc biệt hình ảnh hoa đèn khiến ta liên tưởng đến những câu ca dao thật hay thật đẹp về chuyện tình yêu:
Khăn thương nhớ ai,Khăn rơi xuống đất.Khăn thương nhớ ai,Khăn vắt lên vai.Khăn thương nhớ ai,Khăn chùi nước mắt.Đèn thương nhớ ai,Mà đèn không tắt.Mắt thương nhớ ai,Mắt ngủ không yên.Đêm qua em những lo phiền,Lo vì một nỗi không yên một bề…
Cô gái trong bài ca dao hay người vợ trẻ trong chinh phụ ngâm khúc đều phải mòn mỏi từng ngày, từng tháng, từng năm để ngóng trông tin tức của người yêu, người chồng. Không chỉ thế, hình ảnh hoa đèn và bóng người khá thương còn gợi ta liên tưởng đến chuyện người con gái nam xương của nguyễn dữ. Cả vũ nương trong tác phẩm này và người chinh phụ của đặng trần côn. Cảnh vật trong đoạn trích này vẫn không thay đổi, nhưng thời gian lại trôi chảy tuần hoàn:
Gà eo óc gáy sương năm trống,Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Cụm từ âm thanh “gà eo óc” đã diễn tả được sự trôi chảy của thời gian. Nếu như ở các câu thơ trước xuất hiện hình ảnh đèn-báo hiệu đã tối, hoa đèn – báo hiệu đã khuya, và cuối cùng là tiếng gà – báo hiệu trời đã sáng. Không chỉ có âm thanh tiếng gà eo óc mà còn có cả không gian qua hình ảnh lá hèo. Hình ảnh hòe phất phơ rủ bóng bốn bên gợi lên một không gian vắng lặng, tĩnh mịch, hoang vắng. Người xưa đã nói: Thức đêm mới biết đêm dài. Phải thức đêm mới biết được cái khoảng thời gian ấy trôi qua một cách lê thê. Người chinh phụ đã cảm nhận được dòng thời gian trôi chảy:
Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Thủ pháp so sánh “trích thơ” cùng với các từ láy đằng đẵng dằng dặc đã cho chúng ta cảm nhận được cái âm điệu sầu não, day dứt của đoạn thơ. Không chỉ tạo nên cái âm điệu sầu não, tác giả đã sử dụng thủ pháp lấy cảnh ngụ tình để thể hiện nỗi cô đơn, vắng bóng, sầu khổ của người chinh phụ. Nỗi nhớ ấy dài lê thẻ tựa cả một năm. Không những dài mà nỗi nhớ ấy còn rộng, sâu tự biển cả rộng lớn. Ai có thể thấy được bờ bến của biển khơi, ai có thể thấu được cái lòng đại dương kia đến tận đâu. Tấm lòng của người chinh phụ được ví von với những hình ảnh mang đậm sắc thái biểu cảm như thế.Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Trong đoạn thơ này tác giả đã liệt kê hàng loạt hành động của người chinh phụ. Người chinh phụ đốt hương,soi gương, gảy đàn. Thế nhưng những hành động ấy đều gượng gạo và miễn cưỡng. Nằng làm đó nhưng đó là hành động của người có xác mà không hồn. nàng làm đó nhưng bên trong tư tưởng tâm trí lại nghĩ về điều khác. Người chinh phụ đốt hương cầu mong hạnh phúc gđ, nhưng nàng đốt hương mà hồn đà mê mải. Nàng soi gương nhưng soi gương làm chi, trang điểm làm gì khi không có chồng bên cạnh. Hình ảnh người chinh phụ soi gương khiến ta liên tưởng đến bài thơ Khuê oán của vương xương linh. Trong bài thơ này, tác giả đã khắc họa hình ảnh người chinh phụ trang điểm sau đó lên lầu để ngắm cảnh. Nhưng lên đến lầu mới nghiệm ra nhiều điều:
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,Hối giao phu tế mịch phong hầu.
(Chợt thấy màu dương liễu tốt tươi ở đầu đường,Bỗng hối hận đã để chồng đi tòng quân để kiếm phong hầu.)
Khi trông thấy dáng liễu bên đường mới nhận ra thời gian trôi chảy vô tình, nhan sắc của nàng dần tàn phai và người chồng ngày ra đi chưa biết ngày trở về. Nhân vật trữ tình còn gảy đàn. Nàng gảy đàn để tìm đến thú vui tao nha. Mong rằng tiếng đàn kia sẽ làm vơi bớt nỗi muộn phiền. Thế nhưng, gảy đàn mà lại dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng:
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.
Câu thơ sử dụng điển tích dây uyên và phím loan. Chính 2 điện tích này đã diễn tả tâm trạng tiếp theo của người chinh phụ. Không chỉ cô đơn, không chỉ lẻ loi, không chỉ sầu muộn mà lúc này đây tràn đầy nỗi lo lắng và sợ hãi. Nàng sợ dây uyên ngại chùng sợ điềm gở sẽ đến, sợ vợ chồng chia lìa xa cách.
Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khỏa nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc. Khi Hương gượng đốt thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc Gương gượng soi thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn long phụng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia lìa đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy.
Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia Hai đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, hồng chí còn biết gửi nhớ thương theo cơn gió
Với thể thơ song thất lục bát, cách dùng từ, hình ảnh ước lệ, điệp từ điệp ngữ, nghệ thuật miêu tả nội tâm, 16 câu thơ đã thể hiện một cách tinh tế những cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ ở người chinh phụ, luôn khao khát được sống trong hạnh phúc, tình yêu lứa đôi. Đoạn trích còn thể hiện tấm lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc của tác giả với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ, cất lên tiếng kêu nhân đạo, phản đối chiến tranh phi nghĩa.
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 7
Chinh Phụ Ngâm là một trong những tác phẩm văn học trung đại xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam mà ở đó, lồng ghép những mạch cảm xúc, câu chuyện thấm đẫm nỗi bi thương về thân phận người phụ nữ thời kỳ lúc bấy giờ, đồng thời gián tiếp miêu tả chân thực bức tranh hiện thực xã hội cay đắng, bất công.
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Không gian hiên vắng, ngay từ những vần thơ đầu đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận u buồn, kết hợp với các động từ như “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, bồn chồn, thấp thỏm của người phụ nữ dưới mái hiên nghèo, những ngày động cứ lặp lại vô nghĩa, càng thể hiện sự hoang hoải và trống rỗng trong tâm trí. Và rồi dường như, nhân vật đang phân tâm để đối thoại độc thoại với chính mình, mà lại vừa có cảm giác như một lời trách móc:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
Bắt đầu từ đây, người chinh phụ bộc lộ nỗi lòng cô đơn và sự nhớ mong, nhớ thương khôn xiết đến người chinh phụ nơi chiến trận phương xa. Nàng không chỉ mang nỗi nhớ đơn thuần, mà còn mang trong lòng sự khắc khoải khôn nguôi, trằn trọc khi không nhận được tin tức về người chinh phụ. Hình ảnh chim thước – loài vật báo tin tốt lành xuất hiện chính là sự minh họa rõ nhất cho nỗi lòng ấy. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm mọi không gian, thậm chí lan thấm vào nhuốm vào màu không gian một sắc buồn ảm đạm. Càng nhớ, càng mong mỏi được giãi bày, và ngọn đèn trở thành người tri kỉ trong vò võ cô đơn để người chinh phụ tâm sự. Ca dao xưa đã từng có bài ca dao khăn thương nhớ ai, cũng miêu tả hoàn cảnh của người phụ nữ trong vò võ đêm trường, một mình bầu bạn với ngọn đèn khuya, chính ngọn đèn khuya leo lét, lạnh lẽo càng nhấn mạnh thêm tình cảnh trơ trọi lẻ loi của người chinh phụ:
“Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
Người chinh phụ tự thương cho thân phận mình, bỗng nhận thấy trong bóng đèn dầu kia phản chiếu lên bức tường với số phận, thân phận mình như nhập hòa làm một, nỗi buồn mượn ngọn đèn để san sẻ nhưng cũng chẳng thể thỏa nỗi nhớ mong, niềm khát khao đồng điệu.
“Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Không gian khi càng về sáng, càng yên tĩnh, đó cũng là không gian mà tâm trạng những người cô đơn càng thêm đơn độc, lẻ loi biết nhường nào. Cảnh vật xung quanh cũng heo hút, phất phơ, các từ eo óc, phất phơ, càng gợi cho ta cảm giác rằng người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nỗi nhớ vốn vô hình, vốn không thể cân đong đo đếm, nay được định lượng hóa bằng sự đằng đằng của tháng năm, bằng sự rộng dài của dòng thời gian trường cửu, càng thêm quay quắt và trở nên trơ trọi. Và giờ đây, nỗi nhớ đã trở thành mối sầu tựa miền ải xa, nghĩa là nó không chỉ thuộc về cảm xúc, mà còn đang mang những âu lo, khắc khoải, rợn ngợp về tương lai.
Những phím đàn gảy lên càng gợi cảm giác về sự đơn độc, về sự hoang hoải trống vắng trong tâm hồn, và tràn ngập những nỗi sợ hãi về tương lai, về sự cách lý
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã lột tả một cách sống động chân thực cảm xúc cô đơn và nỗi nhớ thương khắc khoải đến quặn thắt của người chinh phụ, đồng thời qua đó gián tiếp vạch trần tội ác của chế độ chiến tranh phi nghĩa năm xưa, khiến gia đình phải tan tác, đau thương.

Back to top button