Vận dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm theo phương pháp Montessori

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây  (3.25 MB, 106 trang )

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………………..1
1. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………………………………………………1
2. Mục đích nghiên cứu ………………………………………………………………………………………2
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu ………………………………………………….2
4. Giả thuyết khoa học ………………………………………………………………………………………..2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………………………………………………………………..3
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ………………………………………………………………………3
7. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………………………………………3
8. Những đóng góp của đề tài ………………………………………………………………………………5
9. Cấu trúc của khóa luận ……………………………………………………………………………………5
Chương 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI VÀ
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁC QUAN CỦA TRẺ 3  4 TUỔI …………………………6
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu …………………………………………………………………………….6
1.2. Cơ sở lý luận ……………………………………………………………………………………………….9
1.2.1. Lý luận chung về phương pháp Montessori ………………………………………………….9
1.2.2. Giác quan và đặc điểm phát triển giác quan cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường Mầm non
………………………………………………………………………………………………………………………25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 …………………………………………………………………………………… 29
Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
MONTESSORI NHẰM PHÁT TRIỂN GIÁC QUAN CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM
NON……………………………………………………………………………………………………………….30
2.1 Tổng quan về khách thể và địa bàn nghiên cứu ………………………………………………30
2.2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu việc vận dụng phương pháp Montessoi vào
quá trình phát triển giác quan cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường Mầm non ……………………….32
2.3. Xây dựng các tiêu chí đánh giá và thang đánh giá s ự phát triển giác
quan của trẻ 3 – 4 tuổi …………………………………………………………………………………34
2.4. Kết quả khảo sát thực trạng …………………………………………………………………………36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 …………………………………………………………………………………… 43
Chương 3. QUY TRÌNH TỔ CHỨC PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI VÀ BƯỚC
ĐẦU THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM ………………………………………………………………………44

3.1. Quy trình tổ chức phương pháp Montessori vào quá trình phát triển giác quan cho
trẻ …………………………………………………………………………………………………………………..44
3.1.1.Cơ sở định hướng cho việc xây dựng và lựa chọn các nội dung để dạy theo
phương pháp Montessori …………………………………………………………………………………..44
3.1.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính quy trình …………………………………………………………44
3.1.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống ………………………………………………………….45
3.1.2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn ………………………………………………………….45
3.1.2.4. Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức, hiệu quả và đảm bảo an toàn ………………..45
3.1.3 Quy trình vận dụng phương pháp Montessori ………………………………………………45
3.1.4. Thiết kế các bài tập phát triển giác quan cho trẻ 3  4 tuổi ……………………………46
3.2. Thử nghiệm sư phạm ………………………………………………………………………………….54
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 …………………………………………………………………………………… 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………………………69

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Các tiêu chí và thang đánh giá …………………………………………………………….34
Bảng 2.2: Hiểu biết của giáo viên về phương pháp Montessori ……………………………..36
Bảng 2.3: Mức độ sử dụng các phương pháp để phát triển giác quan cho trẻ …………..36
Bảng 2.4: Mức độ vận dụng phương pháp Montessori vào quá trình phát triển giác
quan cho trẻ …………………………………………………………………………………………………….37
Bảng 2.5: Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc phát triển giác quan cho trẻ ….38
Bảng 2.6: Giác quan được giáo viên chú trọng nhiều nhất khi dạy trẻ …………………….38
Bảng 2.7: Các hoạt động phát triển giác quan cho trẻ ……………………………………………39
Bảng 2.8: Hình thức tổ chức các hoạt động phát triển giác quan cho trẻ………………….40
Bảng 2.9: Mức độ phát triển giác quan của trẻ 3 – 4 tuổi ……………………………………….40
Bảng 3.1: Mức độ biểu hiện các tiêu chí đánh giá của trẻ trước thử nghiệm…………….56
Bảng 3.2 ………………………………………………………………………………………………………….57

Bảng 3.3 ………………………………………………………………………………………………………….58
Bảng 3.4 ………………………………………………………………………………………………………….60
Bảng 3.5 ………………………………………………………………………………………………………….61
Bảng 3.6 ………………………………………………………………………………………………………….62
Bảng 3.7 ………………………………………………………………………………………………………….63

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Mức độ biểu hiện trung bình các tiêu chí ………………………………………….56
Biểu đồ 3.2: Khả năng phát triển thị giác của trẻ ………………………………………………….57
Biểu đồ 3.3: Khả năng phát triển thính giác của trẻ ………………………………………………59
Biểu đồ 3.4: Khả năng phát triển xúc giác của trẻ ………………………………………………..60
Biểu đồ 3.5: Khả năng phát triển vị giác của trẻ …………………………………………………..61
Biểu đồ 3.6: Khả năng phát triển khứu giác của trẻ ………………………………………………62
Biểu đồ 3.7: Mức độ biểu hiện trung bình các tiêu chí ………………………………………….64

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Giác quan có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển toàn diện nhân
cách của trẻ.
Thế giới xung quanh vô cùng phong phú, đa dạng, có biết bao điều mới lạ, bí
ẩn và đầy hấp dẫn đối với trẻ thơ. Thế giới xung quanh sinh động là vậy, thích thú
là vậy, vì thế trẻ tò mò muốn biết, khát khao được khám phá, tìm hiểu về chúng.
Một trong những hình thức đáp ứng nhu cầu muốn tìm tòi, khám phá của trẻ đó là
thông qua các giác quan.
Thông qua các giác quan trẻ có thể nắm được các đặc điểm về hình dáng, màu
sắc, hình khối, chất liệu, to  nhỏ, dài  ngắn, mùi vị, âm thanh,của các sự vật
hiện tượng xung quanh. Vì vậy, phát triển các giác quan cho trẻ chính là tạo nền
tảng và điều kiện thuận lợi để trẻ khám phá, tìm hiểu và thu nhận những hiểu biết về

thế giới xung quanh. Không những thế phát triển giác quan còn góp phần quan
trọng vào việc phát triển chuẩn cảm giác và làm cho các giác quan của trẻ trở nên
tinh nhạy hơn. Chính vì vậy, việc phát triển các giác quan cho trẻ từ khi còn nhỏ là
rất cần thiết.
1.2. Mục tiêu của giáo dục mầm non trong chương trình đổi mới hiện nay là
xây dựng môi trường giáo dục Lấy trẻ làm trung tâm giúp trẻ phát triển tốt về thể
chất, trí tuệ, thẫm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho
trẻ vào lớp một. Bước đầu giúp trẻ phát triển hoàn thiện các giác quan, phát huy ở
trẻ khả năng quan sát, nhận biết và phân biệt được các đặc điểm của đối tượng
thông qua các giác quan. Để đạt được mục tiêu đó thì việc lựa chọn, vận dụng các
phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động để giúp trẻ phát triển là rất cần thiết.
Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều phương pháp giáo dục tiên tiến dành cho lứa
tuổi mầm non, trong đó có Phương pháp Giáo dục Montessori.
1.3. Phương pháp Giáo dục Montessori là một phương pháp sư phạm giáo dục
trẻ em dựa trên nghiên cứu và kinh nghiệm của bác sĩ và nhà giáo dục Ý Maria
Montessori (1870  1952). Phương pháp Montessori nhằm hướng tới sự phát triển
toàn diện nhân cách của trẻ thông qua các cơ vận động, các giác quan và các hoạt
động trí tuệ. Qua quan sát, Montessori nhận thấy, trẻ em luôn có sự vận động, hoạt
động và di chuyển để khám phá thế giới xung quanh, trẻ muốn làm chủ thế giới

1

thông qua những thao tác trên đôi bàn tay của trẻ. Chính vì vậy, phương pháp giáo
dục này đã chú ý đến việc tích cực tổ chức các hoạt động cho trẻ cũng như tạo cơ
hội cho trẻ được trải nghiệm, khám phá qua các giác quan. Đây là một điều vô cùng
thuận lợi cho sự phát triển các giác quan cũng như các quá trình tâm lý ở trẻ. Bởi vì
thông qua hoạt động, mỗi đứa trẻ sẽ tác động vào thế giới và thực hiện những khám
phá nhằm tiếp thu, lĩnh hội các giá trị của thế giới xung quanh. Sự phát triển trí tuệ
của trẻ là thông qua sự vận động, hoạt động của chính bản thân trẻ. Cho nên, người

lớn càng tạo điều kiện để trẻ được vận động, hoạt động một cách tối đa thì tâm lý
của trẻ càng phát triển.
1.4. Cùng với yêu cầu ngày càng cao trong việc đổi mới phương pháp giảng
dạy theo chương trình giáo dục mầm non mới của Bộ giáo dục và đào tạo thì thực tế
hiện nay cho thấy, việc vận dụng phương pháp Montessori nhằm phát triển giác
quan cho trẻ vẫn chưa được chú trọng và thực hiện hiệu quả. Chính vì vậy, cần phải
có sự nghiên cứu thật kĩ lưỡng, vận dụng phương pháp Montessori theo một quy
trình hợp lí với quy trình phát triển sinh lí của trẻ thì sẽ phát triển giác quan cho trẻ,
từ đó nâng cao chất lượng giáo dục trẻ ở Trường mầm non. Xuất phát những lí do
trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Vận dụng phương pháp Montessori vào
quá trình phát triển giác quan cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường mầm non.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và vận dụng phương pháp Montessori vào quá trình phát triển giác
quan cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường mầm non, góp phần tích cực vào việc thực hiện
mục tiêu giáo dục mầm non hiện nay.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục trí tuệ cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quy trình tổ chức phương pháp Montessori vào quá trình phát triển giác quan
cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường mầm non.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu trong quá trình giáo dục trí tuệ cho trẻ, giáo viên biết cách vận dụng
phương pháp Montessori theo một quy trình hợp lí phù hợp với quy trình phát triển

2

sinh lí của trẻ thì sẽ giúp trẻ phát triển các giác quan, từ đó nâng cao chất lượng
nuôi dưỡng – chăm sóc – giáo dục trẻ ở Trường Mầm non.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nhiệm vụ sau:
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp Montessori và quá trình phát
triển giác quan cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường mầm non.
5.2. Nghiên cứu thực trạng và quá trình phát triển giác quan cho trẻ 3 – 4 tuổi ở
Trường mầm non.
5.3. Tổ chức thử nghiệm quy trình tổ chức phương pháp Montessori nhằm
phát triển giác quan cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường mầm non.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về phương pháp Montessori
nhằm phát triển giác quan cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường mầm non.
6.2. Giới hạn khách thể nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nghiên cứu trên 15 trẻ 3 – 4 tuổi và 20 giáo viên ở
Trường Mầm non Nghĩa Ninh – Đồng Hới – Quảng Bình.
6.3. Giới thiệu về thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 12/2016 đến tháng 5/2017.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên
cứu sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát
hóa, hệ thống hóa những nguồn tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
– Mục đích: Quan sát mức độ biểu hiện giác quan của trẻ trong các tiết học,
trong sinh hoạt hằng ngày và quan sát cách thức giáo viên tổ chức các hoạt động
cho trẻ.
– Biện pháp: Chúng tôi tiến hành dự giờ, quan sát các hoạt động của trẻ và
giáo viên ở Trường mầm non.

3

7.2.2. Phương pháp đàm thoại
– Mục đích: Trao đổi với giáo viên về việc vận dụng phương pháp Montessori
nhằm phát triển giác quan cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường mầm non.Trò chuyện với trẻ 3 – 4
tuổi thông qua các hoạt động hàng ngày để tìm hiểu mức độ nhận thức và sự phát triển
giác quan của trẻ. Đồng thời tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển
giác quan của trẻ.
– Biện pháp: Để thực hiện được điều đó, chúng tôi đã đàm thoại, trao đổi với
nhà quản lý, giáo viên và trẻ trong các hoạt động giúp trẻ phát triển giác quan.
7.2.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
– Mục đích: Nhằm thu thập các thông tin về thực trạng sử dụng phương pháp
Montessori của giáo viên, thực trạng phát triển giác quan của trẻ ở Trường mầm non.
– Biện pháp: Để thực hiện được điều đó, chúng tôi xây dựng phiếu điều tra và
tiến hành trên đối tượng là cán bộ quản lý, giáo viên mầm non.
7.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
– Mục đích: Nhằm thu thập kinh nghiệm quý báu của các nhà chuyên môn để
đưa ra kết luận chính xác hơn và khoa học hơn.
– Biện pháp: Dự giờ, trao đổi với các giáo viên.
7.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
– Mục đích: Đánh giá khả năng phát triển giác quan của trẻ 3  4 tuổi ở
Trường mầm non.
– Biện pháp: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu sản phẩm hoạt động, phân tích
kết quả thử nghiệm.
7.2.6. Phương pháp thử nghiệm sư phạm
– Mục đích: Thử nghiệm quy trình tổ chức nhằm minh chứng cho giả thuyết
đưa ra ban đầu.
– Biện pháp: Thử nghiệm sư phạm để áp dụng cách thức và quy trình tổ chức

phương pháp Montessori nhằm đánh giá hiệu quả thực tiễn của phương pháp với
quá trình phát triển giác quan của trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường mầm non.
7.3. Phương pháp toán học thống kê
– Mục đích: Vận dụng toán thống kê xử lý số liệu kết quả thu được từ kết quả
trên, từ đó đưa ra kết quả xác thực của việc vận dụng phương pháp Montessori vào
quá trình phát triển giác quan cho trẻ 3  4 tuổi ở Trường mầm non.

4

– Biện pháp: Sử dụng một số công thức toán học để xử lý những số liệu thu
được từ khảo sát thực trạng và thử nghiệm sư phạm.
8. Những đóng góp của đề tài
– Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lí luận về phương pháp Montessori
cũng như quá trình phát triển giác quan cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường Mầm non.
– Điều tra, khảo sát, phân tích làm sáng tỏ thực trạng tổ chức các hoạt động
trong quá trình sử dụng các phương pháp dạy học nói chung và phương pháp
Montessori nói riêng, những nguyên nhân cơ bản của thực trạng.
– Đề xuất cách thức, quy trình tổ chức cho giáo viên về vận dụng phương pháp
Montesori nhằm phát triển giác quan cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường Mầm non.
9. Cấu trúc của khóa luận
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Những lý luận cơ bản về phương pháp Montessori và quá trình
phát triển giác quan của trẻ 3 – 4 tuổi.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp Montessori nhằm
phát triển giác quan cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường Mầm non.
Chương 3: Quy trình tổ chức phương pháp Montessori và bước đầu thử
nghiệm sư phạm.
Phần kết luận và kiến nghị

5

Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI
VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁC QUAN CỦA TRẺ 3  4 TUỔI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
* Trên thế giới
Phương pháp Giáo dục Montessori là một phương pháp sư phạm giáo dục trẻ
em dựa trên nghiên cứu và kinh nghiệm của bác sĩ và nhà giáo dục Ý Maria
Montessori (1870 1952) [4]. Đây là phương pháp dạy học mang lại giá trị, hiệu
quả và giáo dục dục rất cáo, đặc biệt là quá trình giáo dục trẻ từ 0  6 tuổi. Chính vì
vậy, phương pháp dạy học Montessori đã được rất nhiều nhà giáo dục trẻ thế giới
quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều gốc độ khác nhau:
Maria Montessori cho rằng: Tiền đề của sự pháp triển là tôn trọng đặc thù của
trẻ, trẻ có thể đạt được hiệu quả học tập cao nhất khi được tự do hoạt động trong
môi trường xã hội [4]. Môi trường mà bà Maria Montessori nhắc đến đó phải là nơi
được chuẩn bị dựa trên chính nhu cầu của trẻ em trong từng thời kỳ phát triển của
trẻ, để hỗ trợ trẻ phát triển thuận theo tự nhiên. Bởi không phải người lớn là người
thầy vĩ đại sẽ truyền thụ cho trẻ mọi điều có thể giúp trẻ xây dựng con người mình,
mà chính là người thầy bên trong trẻ thúc đẩy trẻ tìm kiếm những bài học từ môi
trường xung quanh để định hình cá nhân mình.
Maria Montessori trong cuốn Phương pháp giáo dục Montessori – thời kỳ nhạy
cảm của trẻ cho rằng: Những đứa trẻ trải qua thời kì nhạy cảm đang nhận sự chỉ
huy từ một mệnh lệnh thần kì trong vô thức, ngay cả tâm hồn bé nhỏ của chúng
cũng nhận được sự khích lệ [12]. Trong quá trình phát triển từ 0 – 6 tuổi, trẻ chịu sự
chi phối của sức sống nội tại, ở một giai đoạn nào đó sẽ vô cùng chú ý tới những đặc
trưng của sự vật trong một môi trường nào đó, đồng thời không ngừng lặp lại quá
trình thực tiễn. Sau khi thuận lợi vượt qua thời kì nhạy cảm, trí tuệ của trẻ sẽ được

Xem thêm:  Lịch chiếu phim Quân Cửu Linh

nâng lên một tầm cao mới. Thời kì nhạy cảm không chỉ là giai đoạn quan trọng cho
việc học tập của trẻ mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển tâm hồn và tính cách của
chúng. Do vậy, các bậc phụ huynh,cô giáo nên tôn trọng những hành động mà tự
nhiên đã ban tặng cho trẻ, đồng thời đưa ra những định hướng cần thiết, giúp trẻ
không bỏ lỡ cơ hội duy nhất này.

6

Marie – Hélène Place trong cuốn Học Montessori để dạy trẻ theo phương
pháp Montessoricho rằng: Phương pháp Motessori tập trung vào 5 lĩnh vực: Thực
hành cuộc sống; Giáo dục phát triển giác quan; Nghệ thuật ngôn ngữ; Toán học và
hình học; Các chủ đề về văn hoá [22]. Tất cả các lĩnh vực này gắn bó chặt chẽ với
nhau theo cách bổ xung, hỗ trợ cho nhau. Đồ chơi và các dụng cụ học tập khác được
bày trong lớp để trẻ có thể nhìn thấy và có lựa chọn cho riêng mình rồi quyết định
một hoạt động – được gọi là công việc  theo sở thích của mình. Những sự lựa
chọn bao gồm sách, xếp hình, tạo hình, phân vai… Sau khi trẻ làm xong công
việc, chúng sẽ cất đồ chơi vào giá và chuyển sang công việc khác. Lịch sinh hoạt
hàng ngày cho phép trẻ có thời gian chơi một mình hoặc theo nhóm. Khi hướng dẫn
trẻ thì giáo viên có thể hướng dẫn từng trẻ một hoặc theo nhóm, nhưng hầu hết tất
cả các trao đổi về công việc thì là do các trẻ với nhau [22].
Theo E.M. Standing – học giả nghiên cứu Montessori cho rằng: Nếu so sánh
Montessori như Columbus phát hiện ra Châu Mỹ thì thật sự cũng không nói quá. Cái
mà Columbus phát hiện ra là lục địa mới ở bên ngoài, còn cái mà Montessori phát
hiện ra là lục địa mới bên trong tâm hồn trẻ. Đây thực sự là một phát hiện quan trọng,
chân thực như Châu Mĩ với Columbus và lực vạn vật hấp dẫn với Newton. Phát hiện
này chứ không phải là phương pháp giáo dục làm cho Montessori nổi tiếng [15].
Nhiều nhà giáo dục tại các nước Anh, Mỹ, Đức đã dành nhiều lời ca ngợi về
bà và phương pháp của bà như: Montessori là một trong những nhà giáo dục vĩ đại
nhất mang đến sự tiến bộ cho khoa học và được thế giới công nhận của thế kỉ XX;

Khi nói đến vấn đề giáo dục trẻ em không thể không nhắc đến phương pháp
Montessori; Trong lịch sử nền giáo dục, những nhà giáo dục được mọi người biết
đến như Montessori là không nhiều, chỉ có duy nhất phương pháp Montessori có thể
vượt qua sự khác biệt về lãnh thổ, thế giới quan, tôn giáo để nhanh chống được phổ
biến trên thế giới [12], [15].
Các tác giả Sagara Atsuko, Victor Seah,.. cũng tập trung nghiên cứu về
phương pháp dạy học Montessori và cho rằng: Trẻ em có một thời kỳ vô cùng quan
trọng gọi là Thời kỳ mẫn cảm. Thời kỳ mẫn cảm là chỉ một khoảng thời gian
ngắn trong thời thơ ấu của trẻ, khi mà tính nhạy cảm đối với một việc nhất định trở
nên đặc biệt nhạy bén. Vì vậy, việc ứng dụng thời kỳ mẫn cảm chính là tận dụng
Sức mạnh của giai đoạn phát triển – thứ năng lượng tự nhiên vô giá – vào giáo

7

dục. Tùy vào việc biết hay không biết sự thật về thời kỳ mẫn cảm này, mà con mắt
nhìn trẻ của chúng ta sẽ rất khác nhau. Nó trở thành chiếc chìa khóa giúp chúng ta mở
cánh cửa nuôi dạy trẻ hoặc hết sức vui vẻ hoặc vô cùng chán ngắt [1], [25].
Tờ nhật báo Brooklyn Eagle đã từng viết về bà như sau: Bà là người đã cải
cách hệ thống giáo dục trên toàn thế giới, là người phụ nữ dạy cho những đứa con
chậm phát triển trí tuệ biết đọc – biết viết. Phương pháp giáo dục của Montessori đã
thành công đến nỗi nó được áp dụng ở khắp các nước trên thế giới, từ nơi xa xôi
nhất ở phía đông bán cầu như Hàn Quốc, cho đến nơi xa xôi nhất ở phía tây là
Honolulu và cả nơi xa nhất ở phía nam như Argentina… [15].
Kể từ khi Montessori nổi tiếng đến nay, trẻ em trên khắp thế giới đã và đang
tiếp nhận phương pháp giáo dục tự chủ hoàn toàn khác với phương pháp truyền
thống. Hiện nay đã có hơn 25.000 trường học tại Mỹ, Anh, Pháp, Canada, đã áp
dụng thành công phương pháp này.
* Ở Việt Nam
TS. Hồ Lam Hồng cho rằng: Phương pháp Montessori góp phần hình thành

và phát triển một số đặc điểm, phẩm chất tâm lý nhân cách cơ bản ở trẻ em lứa tuổi
mầm non. Vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng phương pháp Montessori
nhằm hình thành và phát triển một số đặc điểm, phẩm chất tâm lý, nhân cách cho trẻ
mầm non là vấn đề cần quan tâm của những người làm công tác chăm sóc  giáo
dục trẻ mầm non [6].
TS. Trịnh Thị Xim đã cũng đã tập trung nghiên cứu về phương pháp Montessori
và khẳng định tầm quan trọng và thiết yếu về sự phát triển trong 6 năm đầu đời của
mỗi đứa trẻ. Trong giai đoạn này, khả năng nhận thức của đứa trẻ sẽ tác động đến
những hành vi, chuẩn mực về giáo dục trong suốt quãng đời sau này của trẻ [34].
ThS. Đinh Thị Thu Hằng cho rằng ba nhân tố chính trong một môi trường giáo
dục trẻ em đó là trẻ em, người lớn và môi trường với nguyên tắc Môi trường lấy trẻ
em làm trung tâm [3].
Các tác giả Ngô Hiếu Huy, Nguyễn Minh, Quốc Tú Hoa đều đề cao vai trò
của Phương pháp dạy học Montessori và nghiên cứu hướng dẫn những phương
pháp và ví dụ cụ thể để thể hiện chân lý của phương pháp giáo dục Montessori
giúp cho các bậc phụ huynh hiểu và nắm được phương pháp này trong quá trình
chăm sóc  giáo dục trẻ [7], [4], [12].

8

Đã có một số tài liệu dịch và một số bài báo do tác giả trong nước viết về
phương pháp Montessori như: 2004, Nguyễn Hồng Phượng viết về ý nghĩa của các
bài tập thực tiễn cuộc sống của phương pháp dạy học Montessori. 2008, NXB Lao
động đã ra mắt độc giả Việt Nam cuốn sách: Dạy con trước tuổi lên 3  Phương
pháp giáo dục Montessori.
Phương pháp Montessoi bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ năm 2003. Với nhiều
ưu điểm vượt trội, phương pháp Montessori đã được đưa vào chương trình giảng
dạy khoảng 50 – 70 Trường Mầm non công lập và tư thục ở Việt Nam, từ Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tuy nhiên đa phần chỉ dừng

lại ở mức độ tham khảo hoặc áp dụng một phần ý tưởng và giáo cụ mà Montessori
sáng tạo. Trong khi đó, số lượng trường Montessori thực thụ ở Việt Nam đáp ứng
đầy đủ các tiêu chuẩn của cộng đồng Montessori Mỹ hay liên hiệp Montessori quốc
tế rất ít. Bởi yêu cầu về cơ sở vật chất, môi trường giáo dục và đội ngũ giáo viên
yêu cầu rất cao. Với cơ sở vật chất hiện đại của một Trường Mầm non quốc tế, bộ
giáo cụ đặt từ nước ngoài đúng theo tiêu chuẩn Montessori cùng với đội ngũ giáo
viên được đào tạo quy cách, có thể nói Trường Mầm non Việt Mỹ đã tạo ra môi
trường giáo dục Mầm non sát với tiêu chuẩn Montessori ngay tại Việt Nam.
Trên cơ sở tìm hiểu về phương pháp Montessori, chúng tôi đi đến nghiên cứu
việc vận dụng phương pháp Montessori vào quá trình phát triển giác quan cho trẻ 3 – 4
tuổi, chúng tôi có thể khẳng định rằng đề tài nghiên cứu này của chúng tôi đề cập tới là
hoàn toàn mới, không lặp lại nghiên cứu của các đề tài đã có trước đó với mong muốn
góp một phần công sức của mình vào việc phát triển giác quan cho trẻ, nâng cao chất
lượng nuôi dưỡng – chăm sóc – giáo dục trẻ.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Lý luận chung về phương pháp Montessori
1.2.1.1. Khái niệm phương pháp dạy học
Thuật ngữ Phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp ( Methodos) có nghĩa là
con đường để đạt được mục đích. Theo đó, phương pháp dạy học là con đường để
đạt được mục đích dạy học. Hiểu theo nghĩa rộng, phương pháp dạy học là những
hình thức và cách thức hoạt động chung của giáo viên và học sinh, thông qua đó và
bằng cách đó giáo viên và học sinh lĩnh hội hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh
trong những điều kiện học tập cụ thể [2].

9

Theo nghĩa hẹp, phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt
động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đặt
được mục đích dạy học. Phương pháp dạy học cụ thể quy định những mô hình hành

động của giáo viên và học sinh, được thể hiện trong hình thức và tiến trình phương
pháp (tình tự xác định gồm các bước, các hoạt động dạy học, quy định thời gian và
logic hành động). Tóm lại, phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo
viên và học sinh trong quá trình dạy học nhằm giải quyết các nhiệm vụ dạy học [2].
1.2.1.2. Khái niệm phương pháp Montessori
Phương pháp Giáo dục Montessori là một phương pháp sư phạm giáo dục trẻ
em dựa trên nghiên cứu và kinh nghiệm của bác sĩ và nhà giáo dục Ý Maria
Montessori (1870 -1952). Đây là phương pháp với tiến trình giáo dục đặc biệt dựa
vào việc học qua cảm giác. Phương pháp giáo dục Montessori về cơ bản là xây
dựng mô hình phát triển cho con người, của con người và các cách tiếp cận giáo dục
đều dựa trên mô hình đó [4].
Bản chất của phương pháp giáo dục Montessori chính là hoạt động tự do của
trẻ trong môi trường đã được chuẩn bị với sự hướng dẫn trực tiếp rất hạn chế của
giáo viên. Hay nói cách khác, phương pháp giáo dục Montessori ưu tiên những điều
kiện tốt nhất cho trẻ. Các hoạt động giáo dục được thiết kế xuất phát từ nhu cầu,
hứng thú, khả năng, trình độ và điều kiện cụ thể của từng trẻ. Đây cũng chính là
những biểu hiện của quan điểm lấy trẻ làm trung tâm mà các chuyên gia giáo dục
Việt Nam đã xác định khi xâydựng chương trình Giáo dục Mầm non 2009 [4].
Phương pháp Montessori chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và cho phép trẻ
phát triển tuỳ theo những khả năng riêng của mình và thời gian riêng của mình. Do
đó việc tổ chức các lớp học theo mô hình Montessorri phải đảm bảo sự tôn trọng tính
riêng biệt của mỗi trẻ và phải bố trí phòng học và bài học phù hợp những nhu cầu và
mục đích của mỗi em. Ngoài ra, khi làm việc với giáo cụ, trẻ còn học cách thể hiện sự
quan tâm tới người khác, yêu cái đẹp, sự ngăn nắp trật tự, tinh thần trách nhiệm [4].
1.2.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của phương pháp Montessori
Sinh ra tại Chiaravalla, gần thành phố Ancona thất lộc ở Noordwijk (Hà Lan)
ngày 6 tháng 5 năm 1952. Sau khi tốt nghiệp y khoa, làm trợ y trong một bệnh viện
thần kinh. Bà sang ngành giáo dục và thành lập ở thành phố La Mã (Rome) năm

10

1907 nhà trẻ đầu tiên (Casa di Bambini) mà kết quả thành đạt được quảng bá khắp
nơi Phương pháp Montessori [9].
Montessori bắt đầu phát triển phương pháp và triết lý giáo dục của mình vào
năm 1897, sau khi tham dự khóa học giáo dục tại trường Đại học Rome và nghiên
cứu các thuyết giáo dục hai trăm năm trước đó. Năm 1907, bà mở lớp học đầu tiên
của mình mang tên Casa dei Bambini, hay còn gọi là Childrens House (Ngôi Nhà
Trẻ Thơ) tại một khu căn hộ nằm ở thủ đô Roma. Ngay từ ban đầu, Montessori đã
bắt đầu thực hiện phương pháp giáo dục của mình thông qua quan sát những gì trẻ
trải nghiệm với môi trường xung quanh, với các giáo cụ và bài học được thiết kế
dành riêng cho trẻ. Bà thường gọi công việc mà mình đang làm là Giáo dục mang
tính khoa học. Phương pháp Montessori sau đó được phát triển và mở rộng ra toàn
nước Mỹ năm 1911 và được biết đến rất nhiều thông qua các phương tiện thông tin,
đặc biệt đã được xuất bản thành sách. Tuy nhiên do xuất hiện nhiều mâu thuẫn giữa
Montessori và một số nhà giáo dục Mỹ khác, đặc biệt sau khi cuốn The Montessori
System Examined (tạm dịch là Khảo Sát Hệ Thống Giáo Dục Montessori) do
một nhà giáo dục học nổi tiếng William Heard Kilpatrick phát hành, đã hạn chế
truyền bá tư tưởng của bà và sau năm 1914 phương pháp Montessori đã bị lu mờ đi.
Nó chỉ thực sự trở lại, thâm nhập vào nước Mỹ vào năm 1960 và được áp dụng tại
hàng nghìn trường học ở quốc gia này. Tiến sĩ Montessori tiếp tục công tác giảng
dạy của mình trong suốt quãng đời còn lại của mình, nghiên cứu và phát triển toàn
diện quá trình hình thành, phát triển tâm lý của trẻ từ giai đoạn sơ sinh đến 24 tuổi.
Ngoài ra, bà cũng đã xây dựng các phương pháp tiếp cận giáo dục đối với những trẻ
từ 0 – 3 tuổi, từ 3 – 6 tuổi và từ 6 – 12 tuổi. Chương trình dành cho trẻ từ 12 – 18 tuổi
cũng được bà nghiên cứu và lên chương trình, tuy nhiên nó không được phát triển
vào thời của bà [9].
1.2.1.4. Đặc điểm của phương pháp Montessori
Đặc điểm nổi trội ở phương pháp Montessori là nhấn mạnh đến vai trò của
tính tự lập, lấy khả năng tự học làm nền tảng cơ sở, chú trọng vào việc khai thác

Xem thêm:  Unit trong Kpop là gì

tiềm năng sẵn có, không áp đặt trẻ, chỉ quan sát đưa ra gợi ý và hỗ trợ khả năng tự
phát triển của trẻ. Ngoài ra, phương pháp này rất tôn trọng sự phát triển tâm sinh lý
tự nhiên của trẻ, cũng như trang bị đầy đủ cho trẻ các kiến thức khoa học công nghệ

11

tiến bộ và hiện đại. Tổ chức AMI (Hiệp Hội Montessori Quốc tế) và AMS (Hiệp
Hội Montessori Mỹ) đã nêu ra đặc điểm của phương pháp học Montessori như sau:
* Đặc điểm thứ nhất: Trẻ trong lớp học Montessori học thông qua sự trải
nghiệm các giác quan.
Montessori xây dựng một môi trường giáo dục với hệ thống giáo cụ gồm các
vật thật, mô hình cụ thể được sắp xếp vào các góc hoạt động trong lớp học
Montessori. Trong môi trường lớp học Montessori, trẻ thỏa sức làm việc với các
giáo cụ bằng cách trải nghiệm tất cả các giác quan như thị giác, thính giác, vị giác,
khứu giác và xúc giác. Thông qua những ấn tượng thu được từ các giác quan, trẻ dễ
dàng lĩnh hội kiến thức nhân loại, những khái niệm trừu tượng, từ đó giúp trẻ phát
triển ngôn ngữ, nhận thức và tư duy. Chẳng hạn, trẻ hiểu khái niệm lịch sử một
cách dễ dàng khi làm việc với giáo cụ đồng hồ cát thuộc lĩnh vực lịch sử. Cùng
với sự hướng dẫn của giáo viên và trực tiếp chứng kiến những hạt cát chảy xuống,
trẻ hiểu lịch sử là những sự kiện đã xảy ra và tích dần theo thời gian như những
hạt cát đọng lại phía dưới đồng hồ [17].
* Đặc điểm thứ hai: Phương pháp giáo dục Montessori luôn đề cao nét tính
cách riêng biệt, sự độc lập của trẻ.
Phương pháp này chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và cho phép trẻ phát triển
tùy theo những khả năng riêng và thời gian riêng của mình. Tính độc lập của trẻ
hình thành từ môi trường lớp học được thiết kế đặc biệt. Montessori tin rằng trẻ
được giáo dục một cách tự nhiên chứ không phải dựa vào sự can thiệp của giáo
viên. Do đó, trong lớp học Montessori trẻ có quyền tự do lựa chọn công việc mà bản
thân trẻ hứng thú. Trẻ thực hiện công việc theo nhịp độ, tiến độ của bản thân, trẻ có

thể làm công việc trong thời gian dài mà không bị ngắt quãng giữa chừng. Trẻ tự
đánh giá công việc của mình một cách khách quan thông qua hoạt động độc lập với
giáo cụ. Trẻ tự biết bản thân đã làm đúng hay sai ở đâu vì giáo cụ Montessori có
chức năng Giáo dục tự động. Có nghĩa là khi trẻ làm sai, chính giáo cụ như
Người thầy sẽ chỉ cho trẻ thấy cái sai để trẻ tự điều chỉnh và tự hoàn thiện công
việc của mình. Điều này giải thích vì sao chúng tôi sử dụng thuật ngữ Giáo cụ
Montessori thay vì Học cụ hay Học liệu, ngay cả khi trẻ tự hoạt động với nó mà
không có sự hướng dẫn của giáo viên [17].

12

* Đặc điểm thứ ba: Montessori xây dựng môi trường giáo dục là những lớp
học có sự trộn lẫn lứa tuổi.
Đây là một xã hội Tự nhiên có khoảng cách về lứa tuổi giữa các trẻ. Nếu
như trong lớp học truyền thống, trẻ học theo nhóm cùng độ tuổi, việc học xuất phát
từ những nhu cầu bên ngoài như thứ bậc, cạnh tranh thì việc học của trẻ trong lớp
học Montessori diễn ra tự nhiên, nhẹ nhàng. Trẻ tự chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi
lẫn nhau. Trẻ nhỏ hỏi trẻ lớn khi không biết hoặc chưa thành thục một công việc
nào đó. Nhìn các anh chị làm được những công việc khó, tự bản thân trẻ sẽ nảy sinh
mong muốn học hỏi để được như anh, chị. Còn anh, chị khi chỉ dẫn cho em sẽ có cơ
hội được củng cố những điều đã học, thì cảm thấy tự tin hơn và những nét tính cách
của một nhà lãnh đạo tương lai cũng dần được hình thành từ đó. Đặc biệt ở các gia
đình Việt Nam hiện nay thường chỉ có từ 1 – 2 con, trong gia đình có rất ít anh chị
em, môi trường này giúp cho trẻ có cơ hội học tập và giao lưu với những đứa trẻ
không cùng độ tuổi và làm quen với những đứa trẻ có tính cách khác nhau, từ đó
chúng có thể học hỏi cái hay, cái tốt của nhau, cùng giúp đỡ nhau, điều này rất có
lợi cho việc bồi dưỡng lòng nhân ái của trẻ [17].
Ví dụ: Khi nhìn thấy đứa trẻ nhỏ tuổi hơn khóc đòi mẹ, đứa trẻ lớn hơn sẽ đến
lau nước mắt và dỗ đứa bé kia rằng: Em ơi, em đừng khóc, lúc tan học mẹ sẽ đến

đón em mà. Hoặc khi nhìn thấy đưa trẻ nhỏ tuổi hơn không cẩn thận để rơi bim
bim xuống đất, nó sẽ tiến đến nhặt lên giúp đứa bé kia. Trong khi đứa trẻ khác giúp
đỡ đứa trẻ nhỏ tuổi thì ở bên cạnh còn có đứa trẻ lớn tuổi hơn một chút cũng bắt
chước học theo nó.
1.2.1.5. Các yếu tố xây dựng phương pháp giáo dục Montessori
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm của phương pháp Montessori chúng tôi thấy
rằng phương pháp giáo dục Montessori gồm hai yếu tố xây dựng trọng tâm:
* Thứ nhất: Môi trường giáo dục.
Montessori nhấn mạnh môi trường giáo dục là yếu tố xây dựng hàng đầu cho
phương pháp giáo dục của bà. Theo bà, môi trường giáo dục là nơi giúp trẻ phát
triển, vì vậy cần phải chuẩn bị một môi trường học tốt [17].
Môi trường học được chuẩn bị tốt có nghĩa là: Trước khi trẻ đến lớp mọi thứ
trong lớp đã được chuẩn bị và sắp xếp gọn gàng, không gian lớp học được bố trí phù
hợp, thỏa mãn yêu cầu Tâm trí tiếp nhận và Thời kì nhạy cảm của trẻ từ 0 – 6

13

tuổi, kích thích sự phát triển toàn diện cả về trí lực, thể chất, tình cảm và các kỹ năng
xã hội khác, đồng thời cũng có thể đảm bảo sức khỏe và sự an toàn cho trẻ. Môi trường
đó không chỉ thỏa mãn những nhu cầu của trẻ mà còn phải loại bỏ những chướng ngại
vật làm cản trở sự phát triển của chúng. Phương pháp giáo dục Montessori tạo môi
trường tốt giúp trẻ có thể tự mình tìm tòi, khám phá cuộc sống, nhanh chóng thích ứng
với môi trường xung quanh. Môi trường giáo dục mà Montessori xây dựng có nhiều
điểm khác biệt với môi trường giáo dục truyền thống.
Phương pháp dạy học Montessori

Phương pháp dạy học truyền thống

– Lớp học chia thành nhiều khu vực khác – Lớp học chia thành các góc: Góc học

nhau: Khu sinh hoạt hằng ngày, khu toán tập, góc phân vai, góc xây dựng, góc nghệ
học, khu khoa học, khu địa lý, khu ngôn thuật, góc thiên nhiên.
ngữ, khu nghệ thuật,…
– Không gian lớp học bố trí đơn giản, – Không gian lớp học bố trí đẹp mắt, hấp
không cầu kì, phức tạp.

dẫn, sinh động.

– Trên tường không dán các tờ quảng cáo, – Trên tường được vẽ trang trí các câu
bản đồ, tranh ảnh mà treo các bức họa của chuyện, các nhân vật ngộ nghĩnh, hoa văn,
các họa sĩ nỗi tiếng trên Thế giới.

tranh ảnh,…

– Lớp học sử dụng các giá sách đựng các – Sử dụng các giá đựng đồ dùng, đồ chơi
bộ giáo cụ theo thứ tự từ đơn giản đến theo các góc khác nhau phù hợp, gần gũi,
phức tạp, từ trái sang phải, từ trên xuống quen thuộc với cuộc sống hằng ngày của
dưới.

trẻ.

– Không gian lớp học ít có sự thay đổi, đa – Không gian lớp học thường thay đổi theo
phần chỉ bổ sung thêm số lượng các bộ các chủ đề chủ điểm ở trường để tạo được
giáo cụ.

sự hấp dẫn, mới lạ đối với trẻ.

Qua đó chúng tôi thấy rằng, môi trường lớp học Montessori có nhiều điểm khác
biệt đối với phương pháp giáo dục truyền thống. Môi trường này tạo ra cho trẻ không
gian tự lập, tự lựa chọn và tiến hành các hoạt động, thao tác và vận dụng các bộ giáo cụ

nhằm phát triển năng lực của mình. Từ đó, giáo viên sẽ khuyến khích, động viên trẻ
tích cực, hăng hái tham gia vào các hoạt động nhằm phát huy ở trẻ sự tìm tòi, sáng tạo
và khám phá về các đồ dùng, đồ chơi và thực hành cuộc sống xung quanh.

14

* Thứ hai: Vai trò của giáo viên Montessori.
Điều trước tiên không thể thiếu ở giáo viên mầm non là tình yêu thương đối
với trẻ, luôn luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm của mình, thực sự là người mẹ hiền
thứ hai và kiên trì trong quá trình dạy trẻ, có lòng nhiệt tình và có lòng ham muốn
môn học. Nắm vững phương pháp giáo dục dành cho trẻ, phải tìm các giải pháp và
sử dụng các biện pháp dạy trẻ sao cho phù hợp, sáng tạo và thường xuyên thay đổi
các hình thức tổ chức cho trẻ để tránh sự nhàm chán. Giáo viên phải là người có
kinh nghiệm, phải có tính linh hoạt, tính tích cực tìm tòi, sáng tạo, học hỏi kinh
nghiệm qua mạng, từ bạn bè đồng nghiệp. Giáo viên phải là người có kiến thức
chuyên môn vững vàng. Có sáng tạo trong lời dẫn dắt bài dạy để gây hứng thú cho
trẻ, thường xuyên nghiên cứu sưu tầm các bài thơ, câu truyện, trò chơi phù hợp để
lồng ghép tích hợp vào bài dạy. Nhưng vị trí của giáo viên ở trong lớp học thì ngày
càng có sự thay đổi. Điều đó được thể hiện như sau:
Phương pháp giáo dục Montessori

Phương pháp dạy học truyền thống

– Giáo viên ở vị trí bị động, trẻ ở vị trí – Giáo viên ở vị trí chủ động, trẻ ở vị trí
chủ động.

bị động.

– Khi trẻ làm sai thì giáo viên để trẻ tự – Trẻ làm sai thì giáo viên sửa lỗi ngay

nhận ra và tự điều chỉnh lỗi sai của mình.

cho trẻ.

– Giáo viên là người tạo dựng môi – Giáo viên trực tiếp tham gia vào các
trường, người hướng dẫn và người quan hoạt động dạy học
sát trẻ.
– Môi trường và phương pháp giảng dạy – Giáo viên thực hiện kỷ luật với mỗi trẻ
sẽ khuyến khích cá nhân tự kỷ luật
vi phạm

1.2.1.6. Các nguyên tắc giáo dục của Montessori
1.2.1.6.1. Phát hiện và tận dụng tiềm lực của trẻ
Trẻ có khả năng quan sát rất tốt, có thể tiếp nhận rất nhiều hình ảnh, không chỉ
là hình ảnh đồ vật mà còn là các động tác, ngoài hình ảnh sự vật, trẻ còn quan sát
mối quan hệ giữa các sự vật nữa. Khi người lớn còn chưa chú ý đến thì trẻ đã quan
sát và tiếp nhận rất nhiều thông tin rồi [9].

15

Do đó, cách giáo dục thực hiện hiệu quả chỉ có một, đó là nhất định phải duy
trì sự hứng thú học tập cao độ và khả năng chú ý mạnh mẽ của trẻ. Nói cách khác,
đó là giúp cho trẻ tự học hỏi thông qua nội lực của chúng. Chúng ta đã quen với
việc ôm ấp một kì vọng nhất định nào đó đối với trẻ, đồng thời lấy những tiêu chuẩn
của bản thân để xây dựng nên những cách thức nuôi dạy trẻ. Do đó, chúng ta chỉ có
thể chấp nhận những sở thích của trẻ phù hợp với mong đợi của chúng ta, rồi thực
hiện việc bồi dưỡng của mình một cách nghiêm túc.
Thực ra với một đứa trẻ ngây thơ, thì sở thích là do trời sinh và có thể biểu
hiện trên bất cứ phương diện nào. Chỉ cần cha mẹ để tâm quan sát, là sẽ phát hiện ra

khuynh hướng sở thích của con bất cứ lúc nào. Một khi bị thu hút bởi một điều gì
đó, ngay lập tức trẻ sẽ dừng mọi hoạt động đang làm khác. Khi đang tản bộ, trẻ có
thể bò trên đất xem lũ kiến, khi đang bơi trẻ có thể mở to mắt nhìn phong cảnh dưới
nước, thậm chí khi ăn cơm trẻ cũng có thể bốc giá đỗ lên ngắm nghía một lúc. Trẻ
thường hay lặp lại những sự việc chúng cảm thấy có hứng thú, hễ là sự việc hay
động tác do trẻ tự lặp lại thì đều là thứ mà trẻ thấy thích và có sự hấp dẫn [9].
1.2.1.6.2. Cha mẹ cần trở thành nhà giáo dục thông thái
Chúng ta dường như chỉ chú ý đến việc trẻ cần ánh sáng và không khí trong
lành, hay điều này quả thực là thứ không thể thiếu, nhưng chúng chỉ có ích đối với
thể xác mà thôi. Dẫu cho ánh sáng đẹp đẽ đó có chiếu ngập cơ thể, thì trong tâm
hồn của trẻ cũng không thể có nổi một tia sáng nhỏ khi mà người lớn đã dùng sức
một cách vô tri, mù quáng để phá hỏng công việc xây đắp nội tâm đầy tính đặc
trưng, chậm chạp, yếu ớt mà rất quan trọng với trẻ [9].
Việc mà cha mẹ nên làm đó là cho trẻ tiếp nhận được ánh sáng, đồng thời hãy
để ánh sáng đó chiếu rọi được vào tận tâm hồn trẻ. Hãy giúp trẻ thực hiện được
nguyện vọng của chúng, đây cũng chính là bản năng bẩm sinh của các bậc cha mẹ.
Ngoài ra, chúng ta còn cần hiểu rõ những lí luận giáo dục cơ bản và những kiến
thức thông thường về trẻ nhỏ, đồng thời nghiên cứu bản thân một cách có hệ thống,
vứt bỏ những quan niệm quyền uy của bậc cha mẹ truyền thống, hãy chuẩn bị tâm lí
thật tốt để có thể giúp đỡ và quan sát bị động. Quyền uy của cha mẹ không phải
dựa trên khuôn mặt nghiêm khắc, sự uy nghiêm thực sự nằm ở việc cha mẹ có thể
đưa ra những sự giúp đỡ cần thiết cho trẻ hay không. Cha mẹ cần phải khống chế
nóng nảy của bản thân kể cả khi tức giận cũng không được biểu hiện ra trước mắt,

Xem thêm:  Truyện ngắn đăng báo tường ngày 20-11

16

phấn đấu cải thiện những khuyết điểm đã biết của bản thân, không ngừng cải thiện
chính mình, tôn trọng những hành vi của trẻ [9].
1.2.1.6.3. Tôn trọng tính cách của trẻ

Nhiệm vụ đầu tiên của nhà giáo dục là phát hiện tính cách của trẻ và tôn trọng
tính cách đó. Khi chúng ta do e sợ trẻ sẽ gây om sòm mà không để cho trẻ ở bên
cạnh mình, thì đó là hành động không tôn trọng trẻ. Khi chúng ta đang ăn tối, trẻ lại
đang khóc lóc ở một gian phòng khác, đó có thể là do trẻ bị cách li, cô lập một chỗ.
Rõ ràng là, nếu đối xử với người lớn, chúng ta tuyệt nhiên không sử dụng phương
pháp thiếu tôn trọng đó [9].
Chúng ta nên đối xử với trẻ giống như đối xử với bất kì người nào khác, để cho
trẻ ngồi giữa chúng ta, hơn nữa chúng ta còn nên cảm thấy đó là điều vinh hạnh của
mình. Chúng ta nên vui vẻ khi nhìn thấy trẻ, đồng thời cho phép trẻ ở gần mình [9].
1.2.1.6.4. Tạo cho trẻ một môi trường thích hợp
Trẻ chỉ có thể trưởng thành trong một môi trường không gò bó, thích hợp với
độ tuổi của chúng, có như vậy tâm lí trẻ mới có thể phát triển được một cách tự
nhiên thành thục. Môi trường này có đầy sự ấm áp của tình yêu, có dinh dưỡng
phong phú, tất cả những gì thuộc về môi trường này đều là để dung nạp, chứ không
phải làm hại trẻ [9].
1.2.1.6.5. Học cách quan sát trẻ
Sở thích, kì vọng hoặc hạn chế của người lớn đều có thể xâm nhập vào tâm trí
trẻ con, khiến nội tâm của trẻ thay đổi, việc can thiệp quá nhiều sẽ khiến trẻ mất cơ
hội tự giáo dục bản thân. Do đó, để tâm trí trẻ được phát triển một cách tự nhiên, tốt
nhất cha mẹ nên giữ thái độ trung lập, bình tĩnh quan sát những nhu cầu và sự phát
triển của trẻ, đem lại cho trẻ sự giúp đỡ cần thiết, thận trọng khi biểu đạt sở thích và
kì vọng của mình, tuyệt đối không được dễ dàng ra lệnh cấm.
Dẫu cho các bậc phụ huynh có kì vọng trẻ trở nên thế này hay thế kia thì cũng
đừng nên nóng vội, chỉ cần quan sát thật kĩ, hướng dẫn bằng lời nói và hành động là
đã đủ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, trẻ sẽ dần dần nổ lực theo hướng làm hài
lòng cha mẹ một cách không ý thức, điều này được gọi là Hiệu ứng kì vọng. Do
đó, việc cha mẹ kì vọng vào trẻ ở mức độ hợp lí, đảm nhận vai trò là một khán giả
vui vẻ, đó chính là nguồn cỗ vũ lớn nhất đối với trẻ.

17

1.2.1.6.6. Trân trọng tính nhạy cảm của trẻ
Khi còn ở giai đoạn sơ sinh, trẻ thường hay nhạy cảm với những đồ vật đẹp và
những thứ có màu sắc, đến khi được một tuổi trẻ bắt đầu hứng thú với những đồ vật
nhỏ mà người lớn không chú ý đến. Trẻ sẽ có những cái nhìn khác hoàn toàn với
người lớn, không chỉ là cự li hay mức độ to nhỏ của sự vật, mà cái trẻ quan tâm
chính là những tiểu tiết nhỏ. Đó chính là biểu hiện của tính nhạy cảm ở trẻ [9].
Trẻ sẽ học tập thông qua tính nhạy cảm với sự vật – một đặc tính chỉ có ở trẻ
nhỏ, những điều trẻ học được nhờ mỗi khả năng đều có những giai đoạn mẫn cảm
nhất định. Chỉ cần môi trường của trẻ có thể đáp ứng hết những nhu cầu của chúng,
thì tất cả sẽ đều xảy ra từ từ, không cần người lớn chú ý quá kĩ càng.
Trong giai đoạn mẫn cảm, trẻ có thể học được cách tự mình điều tiết và lĩnh
hội được sự việc. Điều này cũng giống như ánh sáng khiến nội tâm tỏa sáng, giống
như một cục pin tiếp thêm cho trẻ năng lượng. Chính nhờ tính nhạy cảm này mà trẻ
có được những cách hành xử với thế giới bên ngoài một cách độc lập và mạnh mẽ.
Trẻ có đầy ắp sức sống và sự nhiệt tình đối với tất thảy, có thể dễ dàng học được
mọi việc. Nếu như trong thời gian này, trẻ không được hành động theo sự chỉ huy
của tính nhạy cảm, trẻ sẽ vĩnh viễn mất đi sức mạnh trời phú này [9].
1.2.1.6.7. Không có độc lập sẽ không có tự do
Cá tính của trẻ nhất định phải có được biểu hiện tự do và tích cực, khiến trẻ có
được sự độc lập thông qua nổ lực bản thân.
Thế nhưng, chúng ta theo thói quen lại thường chăm sóc trẻ từng li từng tí. Ai
cũng đều biết rằng, dạy một đứa trẻ tự ăn, tự mặc, tự giặt áo quần là một việc hết
sức đơn điệu mà lại khó khăn. Việc này đòi hỏi người lớn phải nhẫn nại nhiều hơn
nhiều so với việc bón cho trẻ ăn, giặt áo quần và mặc áo quần hộ trẻ, nhưng việc đó
mới là giáo dục, việc còn lại chỉ đơn thuần là chăm sóc mà thôi.
Đối với người mẹ công việc chăm sóc trẻ có thể nói là một việc quá dễ dàng,
nhưng đối với trẻ thì đó là một việc rất không có lợi, do chúng ta đã đóng chặt cánh
cửa giúp trẻ tự mình học hỏi, đồng thời đặt thêm rào cản trên con đường trưởng thành

của trẻ. Cũng giống như một người qúy tộc sở hữu rất nhiều nô bộc, ông ta ngày càng
ỷ lại vào việc có người khác phục vụ, đến cuối cùng trên thực tế lại trở thành nô lệ
của kẻ khác, hơn nữa đợi đến khi ông ta nhận thức ra được mức độ nghiêm trọng của
vấn đề và muốn có sự độc lập thì đã không còn khả năng độc lập nữa rồi [9].

18

1.2.1.6.8. Tin tưởng vào tự giáo dục ở trẻ
Luyện tập cảm giác bao gồm cả việc tự giáo dục, điều này có ý nghĩa rất lớn
đối với việc phát triển trí lực. Nếu như được luyện tập lặp lại nhiều lần thì việc tự
giáo dục sẽ giúp cho quá trình cảm giác tâm lí của trẻ ngày càng hoàn thiện hơn,
giúp trẻ biến cảm giác về sự vật thành quan niệm đối với vật thể.
Với vai trò là người dẫn dắt trẻ tự giáo dục, chúng ta nhất định phải làm được
những việc sau: cố gắng hết sức giảm thiểu việc can thiệp, giúp đỡ trẻ nỗ lực hướng
đến những mục tiêu đúng đắn trong quá trình tự giáo dục. Công việc của chúng ta
chỉ là dạy đúng trẻ phát âm và gọi tên một cách chính xác là được rồi – chúng ta
không làm thêm bất cứ việc gì ngoài việc đọc to tên gọi của sự vật, phát âm to, rõ
ràng, để cho trẻ nghe rõ từng âm tiết [9].
1.2.1.6.9.Thành thực trả lời những câu hỏi của trẻ
Trẻ em thường thích hỏi đủ thứ trên đời, cái gì cũng muốn biết rõ chân tướng.
Người lớn nên coi đó là một việc thú vị, đừng nên cảm thấy phiền phức, bởi chúng
ta đang được đối mặt với một tinh thần ham học hỏi, nhưng đồng thời cũng nên chú
ý, trẻ không thể tiếp thu được những lời giải thích quá dài dòng, chỉ cần đưa cho trẻ
một câu trả lời đơn giản và nên cố gắng dùng những sự vật cụ thể để giải thích vấn
đề. Rốt cuộc phải giải thích sự việc đến mức độ nào trẻ mới cảm thấy hài lòng. Điều
đó cần sự tổng kết và quan sát tỉ mỉ của các bậc phụ huynh [9].
Còn một sự thật nữa phải thừa nhận, đó là trẻ có thể không ngừng đặt câu hỏi
bằng mọi cách chỉ để thu hút sự chú ý của cha mẹ, từ đó mà nảy sinh ra hình thức ỷ
lại vào việc đặt câu hỏi. Đây không phải là hình thức giao lưu lành mạnh, chỉ là do

trẻ đang dùng câu hỏi để cha mẹ buộc phải ở bên mình suốt mà thôi. Đối với tình
huống này, những câu hỏi của trẻ sẽ có hình thức rất rõ ràng: thiếu đi ý mới mà toàn
là sự trùng lặp. Ví dụ: Tại sao trời lại có màu xanh? Nếu chúng ta đưa ra câu trả lời ,
trẻ sẽ lại tiếp tục hỏi: Tại sao cây có màu xanh? Tại sao đất lại màu nâu? Tóc tại sao
lại có màu đen?.
1.2.1.6.10. Không nên sợ trùng lặp
Có đôi khi, khoảnh khắc khiến chúng ta cảm thấy hạnh phúc và bình yên
không phải là khi tiếp xúc với một sự vật mới mà là khi gặp lại những sự vật đã
quen thuộc. Chúng ta thường thích nghe đi nghe lại một bài hát, xem đi xem lại một
bộ phim, ăn mãi một món ăn hoặc gặp gỡ một nhóm bạn đã quen thân. Từ đó,

19

chúng ta có thể liên tưởng đến trẻ nhỏ, việc lặp đi lặp lại một việc đơn giản là cách
duy nhất để trẻ có thể nắm bắt một năng lực nào đó, vận dụng tính chủ động cũng là
giai đoạn bắt buộc phục vụ cho sự phát triển tính tự chủ của trẻ.
Số liệu thống kê đã chỉ ra rằng, để học được một từ đơn giản, trẻ cần lặp lại
khoảng 25 – 40 lần, còn để học một động tác, trẻ cần phải lặp lại đến hàng trăm lần.
Đó là do khả năng ghi nhớ thông tin của não tương đối dễ dàng, còn khả năng ghi
nhớ thông tin của cơ bắp cũng sẽ không dễ dàng bị giảm sút, những kĩ thuật học
được từ nhỏ sẽ không dễ gì biến mất đi [9].
1.2.1.6.11. Thận trọng khi khen thưởng và trừng phạt
Một người được hưởng tự do nhưng biết tự khống chế bản thân sẽ theo đuổi
những phần thưởng thực tế có thể kích thích và khích lệ mình và bỏ qua phần
thưởng mà mình không hề hứng thú. Một đứa trẻ có tính chủ động cũng như vậy.
Với bất cứ tiến bộ nào của con, bạn cũng đều nên khen ngợi: Con thật giỏi
Có một số người thường lấy bánh kẹo ra để thưởng cho những đưa trẻ biết nghe lời
hoặc phạt trẻ bằng cách đứng vào một góc tường, đó là những việc hết sức hiệu quả.
Nhưng trong lòng, trẻ không hề tìm thấy mối liên quan giữa miếng bánh và việc

đứng ở góc tường với những hành động của mình. Mới đầu có thể trẻ sẽ thấy thích
thú trước những trò thưởng phạt thế này, nhưng dần dần thái độ cứng nhắc không hề
thay đổi của người lớn sẽ làm chuyển biến nội tâm của trẻ, cảm nhận của trẻ đối với
bản thân sự việc đã suy giảm đi nhiều, trẻ chỉ hiểu rằng phản ứng của cha mẹ mới là
cái quan trọng then chốt quyết định vận mệnh của mình. Từ đó trẻ sẽ ỷ lại vào thái
độ và hành động chỉ đạo của cha mẹ, tính tự chủ trong nội tâm của trẻ đã bị thay thế
bởi những yếu tố khách quan [9].
Vì vậy người lớn cần dùng hậu quả trực quan của hành vi làm hình phạt dành
cho trẻ, hạn chế dùng những yếu tố vật chất không liên quan đến việc thưởng phạt.
Ví dụ: Khi trẻ làm hỏng đồ chơi thì không nên mua đồ chơi mới cho trẻ, việc
thiếu sót đồ chơi sẽ khiến trẻ hiểu được hậu quả của việc làm hỏng đồ chơi.
Hãy thưởng bằng cách biểu dương và khen ngợi mặt tinh thần và cố gắng hết
sức hạn chế việc dùng vật chất làm phần thưởng, càng không được dùng tiền làm
phần thưởng. Khen thưởng và xử phạt đều phải liên quan chặt chẽ với nhau giữa
thời gian và nội dung hành vi của trẻ, thời gian để càng lâu thì hiệu quả càng giảm.

20

Vì vậy khi trẻ làm việc tốt thì nên khen ngợi ngay và khi làm những điều xấu, điều
không tốt thì cần có những biện pháp xử phạt.
1.2.1.6.12. Giáo dục là không chờ đợi
Ngay từ thuở lọt lòng thì tâm hồn trẻ có khả năng học tập và tiếp thu vượt xa
những gì chúng ta tưởng tượng, năng lực này là bẩm sinh. Kể từ khi cất tiếng khóc
chào đời, trẻ bắt đầu tiếp thu đầy đủ những thông tin của môi trường bên ngoài, đến
khi trẻ phát triển tới giai đoạn tự ý thức (khoảng 3 tuổi), trẻ đã có thể tiến lên có tính
định hướng. Như vậy, chúng ta đều đã ý thức được điều này: Giáo dục nên bắt đầu
ngay từ khi trẻ mới được sinh ra, giáo dục càng sớm, hiệu quả càng cao.
Một vấn đề khác nữa mà chúng ta cần quan tâm là: Chúng ta rốt cuộc nên giáo
dục cho trẻ như thế nào đây? Hãy để cho sinh linh này tự do phát triển, đây chính là

nhiệm vụ đầu tiên của một nhà giáo dục. Khi dạy cho trẻ dưới 6 tuổi, nguyên tắc
đầu tiên là hãy để cho trẻ tham dự vào cuộc sống của chúng ta. Trong quá trình
trưởng thành, trẻ nhất định phải mô phỏng theo rất nhiều cử chỉ, hành động của
người lớn. Nếu như không quan sát cách làm như thế nào, trẻ sẽ không học được
tốt, cũng giống như một người bị điếc sẽ không thể học cách nói vậy [9].
1.2.1.7. So sánh phương pháp giáo dục truyền thống với phương pháp giáo
dục Montessori
Phương pháp Montessori được hình thành và xây dựng dựa trên những quan
sát đầy suy luận khoa học của bà Maria Montessori. Bà nhận thấy rằng trẻ thơ có
một khả năng dễ dàng để hấp thụ kiến thức từ môi trường xung quanh, trẻ có thể
thực hiện mọi việc một cách tự nhiên mà không cần có sự trợ giúp của người lớn.
Chính vì vậy mà phương pháp Montessori tạo nên những đứa trẻ thực sự khác biệt
với phương pháp giáo dục truyền thống. Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về
phương pháp Montessori chúng tôi nhận thấy một số điểm khác biệt giữa phương
pháp giáo dục truyền thống và phương pháp Montessori như sau:
PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC

PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI

TRUYỀN THỐNG

– Tập trung vào sự phát triển nhận thức

– Tập trung vào sự phát triển xã hội

– Chủ yếu dạy và hướng dẫn từng cá nhân

– Chủ yếu dạy và hướng dẫn cho cả nhóm
(lớp)

21

Back to top button