Vai trò của vi khuẩn Lactic trong nuôi tôm

1. Đặc điểm chung của vi khuẩn lactic
Vi khuẩn lactic thường có đặc điểm chung là Gram dương, oxidase và catalase âm, hình que hoặc hình cầu, không hình thành bào tử, không di động, kỵ khí dễ hình thành và lên men carbohydrate để tạo thành sản phẩm cuối cùng. là axit lactic (Abee và cộng sự, 1999). Ngoài ra, nó cũng tạo ra axit axetic, etanol, các hợp chất thơm, vi khuẩn, exopolysaccharid và một số enzym quan trọng khác (De Vuyst và Leroy, 2007).

Hình 1: Lactobacillus plantarum và Lactobacillus lactis Vi khuẩn lactic có thể phát triển ở các nhiệt độ khác nhau, nhưng hầu hết chúng phát triển ở nhiệt độ tối ưu 20 – 30C, một số loài ưa nhiệt phát triển ở nhiệt độ cao hơn 50 – 30C. 55C. Vi khuẩn lactic chịu được nồng độ muối cao, pH tối ưu cho hầu hết vi khuẩn lactic là gần điểm trung tính (pH 7,0).
3. Khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh thông qua việc sản xuất các hợp chất kháng khuẩn của lacti
Vi khuẩn lactic thể hiện một loạt các hoạt động kháng khuẩn. Trong số các hoạt động này, việc sản xuất axit lactic và axit axetic là quan trọng nhất. Ngoài ra, một số chủng vi khuẩn axit lactic được biết là sản xuất các hợp chất kháng khuẩn như etanol, axit formic, axit béo, hydrogen peroxide, diacetyl, reuterin, reutericyclin và đặc biệt là bacteriocin. Bên cạnh việc sản xuất các hợp chất như vi khuẩn, một số vi khuẩn axit lactic cũng có thể tổng hợp các peptit kháng khuẩn khác góp phần vào việc bảo quản an toàn thực phẩm. Một trong những đặc điểm của các hợp chất kháng khuẩn là khả năng chống lại các mầm bệnh đường ruột như Escherichia coli, Salmonella và Vibrio spp. (De Vuyst và Leroy, 2007). Sản phẩm chính của quá trình lên men là các axit hữu cơ, tùy theo loại vi sinh vật và điều kiện môi trường mà sản phẩm axit tạo ra khác nhau (Yang, 2000).
Axit lactic là sản phẩm chính của quá trình lên men lactic. Axit lactic làm giảm pH môi trường ảnh hưởng đến pH nội bào của vi khuẩn gây bệnh, do đó ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh. Khi axit lactic đi qua màng tế bào, nó sẽ giải phóng proton H +, làm axit hóa không gian nội bào, phá hủy cơ chế vận chuyển qua màng tế bào, gây chết tế bào vi khuẩn (Đặng Phương Nga và cộng sự, 2007). Mặt khác, độ pH giảm cũng ức chế quá trình đường phân, tế bào vi khuẩn cạn kiệt năng lượng dẫn đến chết tế bào.
Vì vậy, việc sử dụng các sản phẩm có chứa vi khuẩn lactic vào đường ruột của vật nuôi sẽ làm giảm độ pH trong ruột, không cho vi khuẩn gây bệnh phát triển, từ đó giảm tác hại đối với vi sinh vật.

  • Hydrogen peroxide và carbon dioxide
Xem thêm:  Cách làm mịn các cạnh trong photoshop cs6

Đặc tính kháng khuẩn của hydrogen peroxide chủ yếu thông qua việc tạo ra các chất ôxy hóa mạnh như ôxy nguyên tử, các gốc superoxide và các gốc hydroxyl tự do. Các chủng Lactobacillus, Lactococcus sinh hydrogen peroxide có khả năng ức chế Staphylococcus aureus và Pseudomonas sp.
Carbon dioxide được tạo ra thông qua con đường axit lactic dị hình có thể ức chế enzym decarboxylase, và sự tích tụ carbon dioxide trong lớp kép lipid có thể gây rối loạn chức năng thẩm thấu. Khí cacbonic có khả năng ức chế nhiều vi sinh vật làm hư hỏng thực phẩm, đặc biệt là vi khuẩn gram âm, mức độ ức chế khác nhau đáng kể giữa các vi sinh vật (Yang, 2000).

  • Diacetyl và acetaldehyde

Diacetyl thường được sản xuất bởi các chủng vi khuẩn axit lactic lên men xitrat. Tác dụng kháng khuẩn của diacetyl đã được biết đến từ những năm 1930. Nó ức chế sự phát triển của vi khuẩn gram âm bằng cách phản ứng với protein arginine, do đó ảnh hưởng đến việc sử dụng arginine. Và vi khuẩn gram âm nhạy cảm với diacetyl hơn vi khuẩn gram dương. Diacetyl 344 mg / ml ức chế các chủng Listeria, Salmonella, Yersinia, Escherichia coli và Aeromonas.
Acetaldehyde 10 – 100 ppm ức chế sự phát triển của Staphylococcus aureus, Salmonella typhimurium và E. coli (Yang, 2000). Axit béo không no có khả năng ức chế vi khuẩn gram dương, hoạt tính kháng nấm của axit béo phụ thuộc vào độ dài chuỗi và pH của môi trường.

  • Reuterin có khả năng ức chế sự phát triển của hầu hết các vi sinh vật có hại như vi khuẩn Gram dương, vi khuẩn Gram âm, nấm men, nấm mốc, ký sinh trùng và cả virus. Reuterin có hoạt tính kháng khuẩn phổ rộng vì nó cạnh tranh với các ribonucleotide để liên kết với vị trí nhận dạng ribose của ribonucleotide reductase, enzyme đầu tiên bắt đầu tổng hợp DNA.
  • Hầu hết các vi khuẩn lactic đều có thể sinh tổng hợp các vi khuẩn hoặc các chất tương tự vi khuẩn nên chủng loại của các hợp chất kháng khuẩn này rất đa dạng như lactacin, nisin, acidolin,… Các chất này có khả năng ức chế các tế bào trên cùng một khu vực. họ hoặc họ khác (Đặng Phương Nga và cộng sự, 2007). Vì vậy, việc sử dụng vi khuẩn lactic có khả năng sinh bacteriocin mạnh sẽ ức chế vi khuẩn gây bệnh một cách hiệu quả. Đồng thời, các sản phẩm từ vi khuẩn lactic không ảnh hưởng đến sức khỏe và sự sinh trưởng của vật nuôi nên rất an toàn.
Xem thêm:  Hayaku tiếng Nhật là gì
Nguồn: Theo
Vui lòng ghi rõ nguồn thuysan247.com khi sao chép bài viết này.
Liên hệ để biết thông tin và gửi bài cộng tác qua email [email protected]Nhấn nút “quan tâm” nếu bạn muốn nhận thông tin cập nhật từ chúng tôi trên Zalo.

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Vai trò của vi khuẩn Lactic trong nuôi tôm❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Vai trò của vi khuẩn Lactic trong nuôi tôm” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Vai trò của vi khuẩn Lactic trong nuôi tôm [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Vai trò của vi khuẩn Lactic trong nuôi tôm” được đăng bởi vào ngày 2022-06-03 11:33:52. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button