Ương nuôi ấu trùng TTCT – Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Chuẩn bị bể ương
Bể ương ấu trùng phải được làm sạch và khử trùng bằng Chlorine 100 ppm trong ít nhất 24 giờ. Sau đó dùng nước rửa sạch clo dư trên mặt bể, cấp nước biển đã khử trùng qua túi lọc bông, sau đó bổ sung EDTA 10 ppm và sục khí ít nhất 24 giờ trước khi thả ấu trùng Nauplius vào ương. Điều kiện môi trường bể ương: Độ sâu nước 0,8 – 1,0 m. Độ mặn 28 – 32 ‰. Nhiệt độ 26 – 30C, pH 8,0 – 8,6, sục khí 24/24 giờ. Bể ương ấu trùng có thể là bể tròn, vuông, xi măng hoặc bể composite. Thể tích của bể tùy theo quy mô sản xuất, thường từ 4 – 10 m3.

Thu thập và xử lý Nauplius
Sau 30 – 32 giờ đẻ trứng, gom Nauplius vào bể đẻ và chuyển vào chậu / thùng nhựa 20 – 100 lít tùy theo số lượng Nauplius, sục khí nhẹ để ấu trùng phân bố đều trong chậu. Không nên ương hết số lượng Nauplius, chỉ nên chọn 70 – 80% Nauplius khỏe mạnh, hướng quang tốt, bơi lội nhanh bằng cách tắt sục khí, chiếu sáng, vớt ấu trùng. Định lượng Nauplius bằng cách đếm 1 ml mẫu đại diện. Dùng Formaline 100 – 200 ppm hoặc Ioddin 80%, nồng độ 10 ppm, tắm cho Nauplius trong 30 – 60 giây để sát trùng. Xả lại bằng nước sạch để loại bỏ cặn Formaline hoặc Iodine, sau đó thả vào bể ương. Tôm PL 12 – PL 14 – Ảnh: Vũ Mùa Kiểm tra nhiệt độ và độ mặn của nước trong bể ương trước khi chuyển Nauplius từ bể đẻ. Giữa hai bể nếu có sự chênh lệch nhiệt độ lớn hơn 1C và độ mặn 2 ‰ thì cần thuần hóa Nauplius. Thời gian thuần hóa cần thiết: 1C / 30 phút và 1-2 ‰ / 30 phút. Mật độ thả: 150-200 Nauplius / lít.

Xem thêm:  Kế hoạch giáo dục môn Địa lý lớp 11 năm học 2021-2022

Chăm sóc ấu trùng
Giai đoạn Nauplius: Ấu trùng ăn túi noãn hoàng, không bú. Khi có trên 50% ấu trùng chuyển sang Nauplius 5 thì bắt đầu cho tảo vào bể ương với 10 lít tảo tươi / 100.000 ấu trùng hoặc 0,1 g tảo khô / 100.000 ấu trùng. Trong giai đoạn Nauplius, cần có ánh sáng, thậm chí sục khí. Sau 36 – 38 giờ ở 29 – 30C, Nauplius bước vào giai đoạn Zoea. Thời gian chuyển tiếp cho mỗi giai đoạn phụ thường từ 24-28 giờ tùy thuộc vào nhiệt độ nước ương, thức ăn và sức khỏe của ấu trùng. Giai đoạn Zoae, ấu trùng ăn màng lọc liên tục nên cần cung cấp tảo khô và tảo tươi 4 – 5 lần / ngày. Từ giai đoạn Zoae 2, Zoae 3 có thể bổ sung thức ăn tổng hợp (Lansy, Frippak…) 2-3 lần / ngày, cụ thể: Zoea 1: Thức ăn hỗn hợp: 2/3 tảo khô (Spirugila) hoặc 10 lít tảo tươi / 100.000 ấu trùng + 1/3 lượng thức ăn hỗn hợp (40% Frippak + 20% Lansy + 20% V8-Zoea + 15% No + 5% ET 600). Cho ăn 0,2 – 0,3 g / 100.000 ấu trùng. Zoea 2: 50% tảo khô hoặc 8 lít tảo tươi / 100.000 ấu trùng + 50% thức ăn hỗn hợp (40% Frippak + 20% Lansy + 20% V8-Zoea + 15% No + 5% ET 600). Cho ăn 0,2 – 0,3 g / 10 vạn ấu trùng. Zoea 3: 1/3 tảo khô hoặc 6 lít tảo tươi / 100.000 ấu trùng + 2/3 thức ăn hỗn hợp (40% Frippak + 20% Lansy + 20% V8-Zoea + 15% No + 5% ET 600). Khi kết thúc Zoea 3, bạn có thể hút đáy (nếu đáy bẩn) và thêm nước vào bể (5 – 10%). Trong quá trình nuôi, tùy theo màu nước và sức khỏe ấu trùng mà tăng giảm lượng thức ăn cho phù hợp. Từ Zoea 1, hàng ngày bổ sung men vi sinh Zp 25 vào thức ăn, liều lượng 1 – 2% thức ăn. Vào cuối giai đoạn Zoea 3, tiến hành thay nước, với lượng 20-30%. Vào cuối Zoea 3, ấu trùng chuyển sang giai đoạn M ly giải. Quá trình lọc máu có 3 giai đoạn con: M ly giải 1, lọc máu 2 và lọc máu 3. Thời gian chuyển tiếp giữa các giai đoạn phụ thường từ 24 – 28 giờ, tùy thuộc vào nhiệt độ nước, thức ăn và sức khỏe của ấu trùng. Giai đoạn chạy thận: Cho ăn 3 giờ một lần với thành phần thức ăn: 30% Frippak + 20% Lansy + 25% V8-Zoea + 20% No + 5% ET 600. Cho ăn 0,5 – 0,6 g / 100.000 ấu trùng, đến giai đoạn M3 bắt đầu cho ăn Artemia Vĩnh Châu với lượng 0,4 – 0,5 g / 100.000 ấu trùng. Giai đoạn này tôm lột xác hàng ngày, cần bổ sung khoáng, lượng 2-5 ppm và Vitamin C lượng 1 ppm vào thức ăn. Giai đoạn này cần sục khí mạnh để hạn chế Mlysis chìm xuống đáy. Định kỳ bổ sung sản phẩm xử lý nước theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Cuối giai đoạn M3 tiến hành hút đáy và thay 20 – 30% lượng nước. Giai đoạn PL: Thức ăn bao gồm: 30% Frippak + 30% Green Flake + 40% N1, (N2, PL thức ăn cho tôm) và Nauplius Artemia. Cho ăn 3 giờ một lần với lượng như sau: thức ăn tổng hợp: 1 – 1,5 g / 100.000 ấu trùng, Nauplius Artemia: 1 g / 100.000 ấu trùng. Điều chỉnh lượng thức ăn theo nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng. Trong giai đoạn nuôi tôm giống, sục xi phông, thay nước hàng ngày, 20-30% lượng nước trong bể. Nên thu hoạch và vận chuyển ở giai đoạn PL12 – PL14. Trước khi thu hoạch khoảng 1 tuần, tiến hành lấy mẫu phân tích 5 loại mầm bệnh (TSV, WSSV, YHV, IHHNV, MBV), loại bỏ nếu ấu trùng tôm bị nhiễm 1 trong 5 loại bệnh này. Trước khi thải ra môi trường bên ngoài phải xử lý bằng Clo 50 ppm, ít nhất trong 12 giờ. Mật độ vận chuyển thông thường 1.000 – 2.000 PL / lít (thời gian vận chuyển trên 10 giờ) và 2.000 – 3.000 PL / lít (thời gian vận chuyển dưới 10 giờ). Trước khi vận chuyển phải hạ nhiệt độ nước trong bao tôm giống xuống 20C, duy trì nước ở nhiệt độ 20 – 25C trong suốt quá trình vận chuyển. Ở nhiệt độ này tôm ít vận động, giảm tiêu hao năng lượng, hạn chế tôm ăn thịt lẫn nhau, giảm tiêu thụ oxy.

Xem thêm:  Quyết toán thuế cần chuẩn bị những sổ sách gì?
>> Sử dụng kháng sinh có thể hạn chế khả năng lây nhiễm của ấu trùng nhưng cũng làm tăng nguy cơ mắc các bệnh đã kháng với kháng sinh. Vì vậy, trong nuôi ấu trùng TTCT cần hạn chế tối đa việc sử dụng kháng sinh.

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Ương nuôi ấu trùng TTCT – Tạp chí Thủy sản Việt Nam❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Ương nuôi ấu trùng TTCT – Tạp chí Thủy sản Việt Nam” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Ương nuôi ấu trùng TTCT – Tạp chí Thủy sản Việt Nam [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Ương nuôi ấu trùng TTCT – Tạp chí Thủy sản Việt Nam” được đăng bởi vào ngày 2022-06-03 22:06:35. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button