Thực trạng ngành thủy sản việt nam hiện nay

Thực trạng ngành thủy sản Việt Nam

Giải pháp phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam

Năm 2017, sản xuất thủy sản của Việt Nam có nhiều khởi sắc. Với những kết quả nổi bật đã đạt được trong năm qua, năm 2018, ngành thủy sản Việt Nam có nhiều yếu tố thuận lợi với những dự báo đầy hứa hẹn, song thách thức, khó khăn vẫn còn khá lớn. Để ngành thủy sản Việt Nam phát triển ổn định và bền vững, thời gian tới cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Thực trạng ngành thủy sản Việt Nam năm 2017 Trong thời gian qua, ngành thủy sản Việt Nam đã đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu đạt nhiều kết quả ấn tượng, đóng góp đáng kể vào GDP cả nước. Cụ thể, trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành Thủy sản có mức tăng cao nhất với 5,54%, do sản lượng thủy sản năm 2017 có nhiều khởi sắc so với năm 2016, đóng góp 0,17 điểm. phần trăm của mức tăng chung. Sản lượng thủy sản năm 2017 đạt 7.225,0 nghìn tấn, tăng 5,2% so với năm 2016, trong đó cá đạt 5.192,4 nghìn tấn, tăng 4,8% so với năm 2016; tôm đạt 887,5 nghìn tấn, tăng 8,8% so với năm 2016. Sản lượng nuôi trồng năm 2017 đạt 3.835,7 nghìn tấn, tăng 5,2% so với năm 2016, trong đó cá đạt 2.694,3 nghìn tấn, tăng 4,2% so với năm 2016; tôm đạt 723,8 nghìn tấn, tăng 10,3% so với năm 2016. Sản lượng cá tra năm 2017 đạt 1.251,3 nghìn tấn, tăng 5% so với năm 2016; sản lượng tôm sú đạt 254,9 nghìn tấn, tăng 4,4% so với năm 2016; Sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 432,3 nghìn tấn, tăng 14,3% so với năm 2016. Sản lượng khai thác của cả nước năm 2017 đạt 3.389,3 nghìn tấn, tăng 5,1% so với năm 2016. Trong đó cá đạt 2.498,1 nghìn tấn, tăng 5,4%, tôm đạt 163,7 nghìn tấn, tăng 2,6%. Sản lượng khai thác hải sản đạt 3.191,2 nghìn tấn, tăng 5,1%, trong đó cá đạt 2.363,8 nghìn tấn, tăng 5,4%, tôm 150,2 nghìn tấn, tăng 2,8%. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2017 đạt hơn 8,3 tỷ USD, tăng gần 19% so với năm 2016. Đóng góp lớn nhất vào xuất khẩu thủy sản vẫn là mặt hàng tôm với tốc độ tăng trên 21%, giá trị xuất khẩu đạt 3,8 tỷ USD. Tiếp đến là cá tra đạt gần 1,8 tỷ USD, dù gặp khó khăn ở nhiều thị trường lớn nhưng tổng vẫn tăng gần 4% so với năm 2016. XK cá ngừ, mực, bạch tuộc đều có khả năng. đạt gần 600 triệu USD, tăng lần lượt 16% và 42% so với năm 2016. Đáng chú ý, về xuất khẩu thủy sản năm 2017, Trung Quốc đã vượt Mỹ đứng đầu trong top nhập khẩu cá tra và tôm của Việt Nam. . Với mức tăng 37% trong năm 2017 và giá trị nhập khẩu lên tới 420 triệu USD, Trung Quốc đang dẫn đầu thị trường tiêu thụ cá tra và là thị trường nhập khẩu tôm lớn thứ 3 sau Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản. Với giá trị đạt 677 triệu USD, tăng hơn 60% so với năm 2016. Bên cạnh những kết quả đạt được, năm 2017, ngành thủy sản Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Đó là sự cạnh tranh về nguồn nguyên liệu tôm từ nước ngoài như Ecuador, Ấn Độ, cũng như nguồn tôm, cá tuyết, cá da trơn từ Mỹ, trước các rào cản kỹ thuật của các nhà nhập khẩu, bảo vệ nguồn lợi. thủy sản trong quá trình đánh bắt, khai thác … Nguồn nguyên liệu không ổn định đang là hạn chế lớn của thủy sản Việt Nam trong thời gian qua. Có thời điểm giá cá tra nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tăng mạnh (giữa năm 2017) nhưng người nuôi không đủ nguồn cá để cung cấp; Đồng thời, trước yêu cầu khắt khe của các nhà nhập khẩu, nguồn nguyên liệu đủ tiêu chuẩn ASC, BAP, HACCP và các yêu cầu khác theo Đạo luật Farmbill của Hoa Kỳ cũng không nhiều như thị trường mong đợi. Nhiều doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản cũng gặp khó khi nguyên liệu cá ngừ, nhuyễn thể hai mảnh vỏ như nghêu, sò huyết được MSC chứng nhận không đủ để chế biến. Bên cạnh đó, các rào cản kỹ thuật về tiêu chuẩn chất lượng và an toàn môi trường đã gây ra nhiều thiệt hại cho ngành chế biến và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Ngay từ đầu năm 2017, tôm Việt Nam gặp khó khăn lớn từ thị trường Australia do Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên Australia ban hành lệnh cấm nhập khẩu tôm chưa nấu chín vào Australia. Với lệnh cấm kéo dài 6 tháng đầu năm 2017 này đã ảnh hưởng không nhỏ đến kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam. Cho đến khi lệnh cấm này được dỡ bỏ và có hiệu lực từ ngày 6/7/2017, xuất khẩu tôm sang thị trường Australia khởi sắc trở lại. Cùng với đó, ngành cá tra cũng phải đối mặt với thuế chống bán phá giá từ Mỹ. Mỹ là thị trường chiếm 20% giá trị xuất khẩu của cá tra Việt Nam, nhưng cũng có năng lực sản xuất cá tra ngang ngửa với cá tra và cá tuyết. Triển vọng năm 2018 Năm 2018, ngành thủy sản đặt mục tiêu tốc độ tăng giá trị thủy sản từ 5,3% đến 5,8%; Tổng sản lượng thủy sản từ 7 – 7,5 triệu tấn. Trong đó, tôm nuôi các loại 750 nghìn tấn, tăng 3,6%; Sản lượng cá tra đạt 1,3 triệu tấn, tăng 3,9% so với năm 2017. Mục tiêu xuất khẩu thủy sản năm 2018 là 9 tỷ USD. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của doanh nghiệp và nông dân, từ khâu giống, nuôi trồng, chế biến không chỉ hoàn thành kế hoạch mà ngành thủy sản còn được kỳ vọng sẽ tạo nên một dấu mốc mới. Từ những khó khăn và thuận lợi trong năm 2017, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, năm 2018, tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam được dự báo tiếp tục tăng trưởng khả quan nhờ sản phẩm. tôm và linh hoạt xuất khẩu sang các thị trường lớn khác như: Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Dự báo, xuất khẩu thủy sản năm 2018 đạt trên 8,5 tỷ USD, tăng khoảng 3% so với năm 2017. Bên cạnh những thuận lợi, năm 2018 dự báo sẽ có nhiều khó khăn, thách thức đối với ngành thủy sản. Sản phẩm của Việt Nam. EU đã áp dụng “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam, kiểm tra chặt chẽ việc truy xuất nguồn gốc thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam. Cùng với đó là quy định chống khai thác thủy, hải sản trái phép từ Mỹ có hiệu lực từ ngày 1/1/2018. Từ phía cơ quan quản lý, Bộ NN & PTNT cảnh báo, mặc dù có những thuận lợi nhưng năm 2018, ngành thủy sản vẫn đối mặt với nhiều thách thức và không thể chủ quan. Trong đó, diễn biến thời tiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu tiếp tục diễn biến khó lường, gay gắt; các vấn đề từ khâu nuôi, chế biến như tồn dư kháng sinh, tạp chất trong sản phẩm; Cùng với các thị trường xuất khẩu, vẫn còn rủi ro về thuế, các chương trình thanh tra, thẻ vàng của Ủy ban Châu Âu về đánh bắt bất hợp pháp … Một số giải pháp phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam để ngành thủy sản Việt Nam tiếp tục phát triển một cách bền vững cần tập trung thực hiện các giải pháp sau: Thứ nhất, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ 4.0, công nghệ tiên tiến trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam. Nam giới. Trên thế giới, công nghệ 4.0 đã được thúc đẩy và ứng dụng mạnh mẽ trong lĩnh vực nông ngư nghiệp tại các nước như Israel, Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc). , Thái Lan… và tạo ra những giá trị vượt trội trong sản xuất như giải phóng sức lao động, giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, tiết kiệm chi phí, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, nhạy bén thích ứng với thách thức mới. Tại Việt Nam, công nghệ 4.0 đã được nghiên cứu, ứng dụng và phát huy trong những năm gần đây và tạo ra những giá trị rõ nét cho ngành trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, hiện nay việc ứng dụng công nghệ trên ở Việt Nam chưa cao và còn diễn ra với số lượng nhỏ. Nhiều hộ nuôi trồng thủy sản cũng từ chối sử dụng công nghệ cao vì vốn đầu tư lớn. Vì vậy, thời gian tới, cần tăng cường các hoạt động khuyến khích, tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp (DN) và người nuôi trồng thủy sản để họ thay đổi phương thức sản xuất, áp dụng kỹ thuật, công nghệ cao, giảm thiểu thiệt hại trong quá trình nuôi cũng như gia tăng chất lượng tốt hơn và tốt hơn. Thứ hai, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về khai thác thủy sản. Để đảm bảo nguồn nguyên liệu phục vụ tốt cho sản xuất thủy sản, phù hợp với quy định của thị trường trong và ngoài nước, các tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản cần thực hiện đúng Luật Thủy sản. . Đặc biệt là không vi phạm vùng biển nước ngoài, không đánh bắt các loài thủy sản bị cấm… Các cơ quan chức năng cần xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về khai thác thủy sản, quản lý tốt hoạt động khai thác thủy sản. bảo đảm không làm cạn kiệt nguồn lợi này bằng cách giảm dần tàu lưới kéo, tổ chức lại hoạt động khai thác vùng biển xa bờ và vùng biển ven bờ theo mô hình tổ, đội và các mô hình quản lý khai thác khác. có sự tham gia của cộng đồng… Thứ ba, nâng cao chất lượng môi trường nước. Hiện nay, chất lượng nguồn nước cung cấp cho hoạt động nuôi trồng thủy sản đang xuống cấp nghiêm trọng so với những năm trước, gây bức xúc nghiêm trọng. ảnh hưởng trực tiếp đến vật nuôi. Để đảm bảo chất lượng nuôi trồng thủy sản, cần cải thiện chất lượng môi trường nước. Người nuôi trồng thủy sản cần áp dụng một số công nghệ trong xử lý nước và trong quá trình nuôi như: Công nghệ lọc sinh học để loại bỏ chất rắn lơ lửng và khí độc hòa tan trong nước. Ứng dụng công nghệ Biofloc để loại bỏ các chất dinh dưỡng dư thừa nhằm cải thiện chất lượng nước thông qua chuyển hóa thành sinh khối vi khuẩn dị dưỡng, đồng thời sử dụng biofloc làm thức ăn cho động vật thủy sản. Hoặc nuôi kết hợp với một số loài rong có giá trị kinh tế có thể làm giảm hàm lượng các chất hữu cơ và khí độc hòa tan trong nước. Nuôi kết hợp với hải sâm hoặc với một số loài cá ăn thực vật và mùn bã hữu cơ như cá sữa, cá đối, rô phi sẽ có tác dụng tích cực trong việc hạn chế lượng chất thải hữu cơ tích tụ trong ao. . Đối với các cơ quan nhà nước, cần tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và tổ chức quản lý, giám sát của cộng đồng để quản lý môi trường, áp dụng các chế tài nghiêm khắc đối với các cơ sở sản xuất. không tuân thủ các quy định của Luật Bảo vệ môi trường nhằm hạn chế tối đa việc các cơ sở sản xuất tự ý xả thải gây ô nhiễm môi trường. Thứ tư, phát triển thị trường và xúc tiến thương mại. Cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác xúc tiến thương mại để củng cố và phát triển các thị trường truyền thống, các thị trường lớn (EU, Nhật Bản, Mỹ) và phát triển mở rộng thị trường Đông Âu và Trung Quốc. Đông, Trung Quốc, Hàn Quốc… Đồng thời phát triển và mở rộng thị trường du lịch, khu đô thị, khu dân cư lớn trong nước. Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại đối với mặt hàng thủy sản tại các thị trường trọng điểm (triển lãm, hội chợ, tuyên truyền, quảng cáo). Xây dựng thương hiệu và tiêu chuẩn chất lượng cho một số mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, mẫu mã, quy cách sản phẩm thủy sản của nước nhập khẩu. Thứ năm, tăng cường công tác quản lý nhà nước, hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước ngành thủy sản từ Trung ương đến địa phương. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực thủy sản. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình, điều kiện trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thủy sản làm cơ sở quản lý và xã hội hóa một số khâu trong quản lý nhà nước về thủy sản. sản xuất. Nhân rộng các mô hình quản lý nhà nước có sự tham gia của cộng đồng, khuyến khích các mô hình hợp tác, liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ; giữa doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và người sản xuất nguyên liệu; sự phối hợp hiệu quả giữa nhà nước và các tổ chức xã hội nghề nghiệp… Tài liệu tham khảo: 1. Đoàn Thị Mai Hương (2017), Phát triển bền vững xuất khẩu thủy sản Việt Nam, Tạp chí Tài chính, kỳ 1, tháng 9/2017; 2. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 1690 / QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020; 3. Xuất khẩu thủy sản 2018: Triển vọng lập kỷ lục mới, http://baochinhphu.vn
Nguồn tapchitaichinh.vn

Xem thêm:  Vạn niên thanh là cây gì, có tác dụng gì?

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Thực trạng ngành thủy sản việt nam hiện nay❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Thực trạng ngành thủy sản việt nam hiện nay” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Thực trạng ngành thủy sản việt nam hiện nay [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Thực trạng ngành thủy sản việt nam hiện nay” được đăng bởi vào ngày 2022-06-03 09:04:34. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button