Theo dõi sức khỏe tôm nuôi

Quản lý sức khỏe tôm nuôi là một trong những bước cần thiết trong quy trình nuôi tôm thương phẩm. Việc theo dõi và quản lý sức khỏe tôm nuôi được thực hiện tốt sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại do tác hại của dịch bệnh. Trong quá trình nuôi tôm, việc theo dõi, quan sát tôm nuôi thường xuyên là một trong những khâu quan trọng cơ bản để phát hiện sớm dịch bệnh trong ao nuôi tôm. Theo Clifford và Cook (2002) Các tiêu chí và chu kỳ theo dõi sức khỏe tôm cần được thực hiện, bao gồm: 1. Kiểm tra ao tôm hàng ngày vào mỗi buổi sáng: kiểm tra sự hiện diện của tôm chết, sự hiện diện của cò xung quanh ao hoặc trên bề mặt. của ao nuôi, đánh giá tình trạng thiếu hay đủ oxy, dư thừa thức ăn, hiện tượng tảo. Tôm nổi đầu, bên hông, chim bắt tôm là dấu hiệu cho thấy có thể ao tôm đang thiếu ôxy, chất lượng nước xấu hoặc ao tôm bị nhiễm bệnh. Nếu hàm lượng oxy hòa tan vẫn nằm trong giới hạn cho phép, tôm cần được thu gom và kiểm tra xem có mầm bệnh nguy hiểm hay không. Cố gắng loại bỏ những con tôm bị bệnh, chết để tránh lây nhiễm sang những con tôm khác. 2. Kiểm tra lượng thức ăn sử dụng hàng ngày: Quan sát lượng thức ăn còn lại sử dụng cho tôm trong ngày là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy có khả năng tôm trong ao bị nhiễm bệnh nặng. Tuy nhiên, hiện tượng tôm bỏ bữa có thể do nhiều nguyên nhân: số lượng tôm trong ao giảm, tôm không khỏe do dịch bệnh hoặc do môi trường nước không tốt. Trong mọi trường hợp, giảm lượng thức ăn ăn vào là cần thiết để tránh ô nhiễm đáy ao nuôi tôm. Sàng thức ăn là một trong những công cụ giúp quản lý và theo dõi lượng thức ăn hàng ngày trong ao nuôi tôm. Có thể phát hiện nhiều bệnh nguy hiểm trên tôm như bệnh đốm trắng thông qua việc phát hiện xác tôm chết trong sàng ăn. 3. Kiểm tra sự tăng trưởng của tôm hàng tuần 4. Kiểm tra số lượng tôm trong ao hàng tuần (xác định tỷ lệ sống) 5. Kiểm tra sức khỏe tôm hàng tuần và các dấu hiệu bất thường của tôm trong ao nuôi để có hướng xử lý kịp thời lấy mẫu tôm kiểm tra có thể dùng để kiểm tra sức khỏe, dấu hiệu bệnh tật, đánh giá tình trạng sức khỏe của ao nuôi tôm. Theo dõi và đánh giá sức khỏe tôm có thể dựa trên các quan sát cụ thể sau: – Lượng thức ăn trong ruột tôm: Kiểm tra lượng thức ăn trong ruột tôm giúp đánh giá tình trạng sức khỏe của ao nuôi tôm (Hình 1A). Mỗi con tôm được kiểm tra sẽ được đánh giá bằng hệ thống điểm cụ thể: lượng thức ăn trong ruột tôm chiếm 80% chiều dài của ruột sẽ được ghi 2 điểm; 10-20% nhận được 1 điểm và dưới 10% nhận được 0 điểm. Tính điểm trung bình trên tổng số tôm kiểm tra, nếu kết quả ≤1,6 cho thấy tôm trong ao có khả năng bị nhiễm bệnh (bệnh đốm trắng, hội chứng Taura…) hoặc cho tôm ăn không đủ.
Bên cạnh đó, màu sắc ruột tôm cũng là một trong những xét nghiệm cung cấp thông tin quan trọng giúp phát hiện bệnh trong ao nuôi tôm (Bảng 1) Bảng 1: Màu sắc ruột tôm và các nguyên nhân liên quan

Xem thêm:  Giáo viên dạy tiếng Anh tiếng Anh là gì
Màu của ruột tôm Thức ăn trong ruột tôm Lý do

Đen, nâu sẫm

Sinh vật đáy, bùn

Ăn uống thiếu chất

Vàng nhạt hoặc vàng tươi

Thức ăn công nghiệp

Bình thường

đỏ hồng

Xác tôm chết

Có tôm bị bệnh trong ao

màu xanh lá

Tảo đáy

Ăn uống thiếu chất

Nhạt, trắng đục

Không có thức ăn (trạng thái ốm)

Nhiễm trùng tế bào kép hoặc một số bệnh khác

Trong các hệ thống nuôi tôm tích hợp sử dụng cám hoặc các nguồn carbohydrate khác làm thức ăn, ruột tôm cũng có thể có màu trắng. Mang rong biển và đổi màu:Mang có nhiều sinh vật bám (động vật nguyên sinh, vi khuẩn dạng sợi, tảo,…) sẽ ảnh hưởng đến khả năng thẩm thấu và hoạt động hô hấp dẫn đến tôm bị thiếu oxy. Một dấu hiệu rõ ràng của mang bị hư hỏng là sự thay đổi màu sắc mô mang. Do đó, cần quan sát mang. Mang tôm có màu nâu hoặc đen là do một trong các nguyên nhân sau: sinh vật bám, vi khuẩn melanization gây hoại tử, phản ứng melanization với độc tố trong môi trường nước, kết tủa ion, bùn hoặc các chất trong môi trường. Mang tôm bẩn do bùn hoặc cặn bẩn có thể dễ dàng phát hiện bằng cách nhúng và lắc nhẹ tôm trong nước sạch. Trường hợp mang tôm bị nhiễm sinh vật bám cần chú ý tôm chậm lớn (không lột xác), chất hữu cơ trong nước quá nhiều. Tỷ lệ tôm có mang đen được chấp nhận trong ao nuôi tôm là 5%. – Hiện tượng vỏ có đốm đen: Các đốm đen trên vỏ có thể do nhiều nguyên nhân như vi khuẩn Vibrio, virus gây hội chứng Taura (TSV), tổn thương thực thể (Hình 2B) (Lightner, 1996). Tôm nhiễm TSV mãn tính cũng có dấu hiệu xuất hiện các đốm đen trên vỏ. Các đốm đen do vi khuẩn Vibrio gây ra, do chất lượng nước xấu, thường không làm chết tôm miễn là nó không làm hỏng vỏ quá sâu vào cơ. Trong ao nuôi tôm, tỷ lệ vỏ tôm có đốm đen ở mức chấp nhận được là 5-10% trong suốt chu kỳ nuôi, nhưng dưới 2% vào thời điểm thu hoạch tôm. –
Thay đổi tập hợp con và màu sắc tố: Sự thay đổi màu sắc và thay đổi sắc tố thường là do tôm bị nhiễm virus hoặc vi khuẩn. Ví dụ, tôm bị nhiễm TSV hoặc WSSV thường có vây đuôi đỏ (uropod) và sắc tố lan rộng. Cơ hồng nhạt là dấu hiệu ban đầu của nhiễm trùng WSSV. Bơi và chân bò có sắc tố đỏ, đây thường là dấu hiệu của nhiễm TSV hoặc Vibrio. Trong ao nuôi tôm, sắc tố đỏ khi bơi hoặc chân bò có liên quan đến bệnh tôm. Do đó, tỷ lệ chân bơi và chân trườn của tôm có sắc tố đỏ phải là 0%. Ngoài ra, điều kiện đáy ao kém sẽ khiến chân bơi hoặc bò xuất hiện màu đen, nâu hoặc nhợt nhạt. Trong ao nuôi tôm, tỷ lệ 15% được chấp nhận trong thời kỳ thu hoạch tôm. – Hiện tượng tôm mềm vỏ: Ngoài thời kỳ thay lông định kỳ, vỏ mềm thường liên quan đến các tác nhân gây bệnh đốm trắng, hội chứng Taura, hoặc đôi khi là thiếu hụt khoáng chất. Trong các ao nuôi tôm, tỷ lệ tôm có vỏ mềm có thể chấp nhận được là 5% trong suốt chu kỳ nuôi, nhưng nên dưới 2% vào thời điểm thu hoạch tôm. – Hiện tượng cong thân tôm: Tôm cong thân là hiện tượng cho thấy tôm có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như sốc do nhiệt độ cao, nhiễm vi khuẩn Vibrio, mất cân bằng khoáng chất, độc tố trong môi trường ao nuôi. Tỷ lệ tôm bị cong thân được chấp nhận trong ao nuôi tôm là ≤5%. – Hiện tượng đục cơ: Myonecrosis là một trong những dấu hiệu bệnh lý có thể liên quan đến yếu tố sốc do hoạt động đánh bắt hoặc do nhiễm vi rút (IMNV). Tỷ lệ tôm bị đục cơ chấp nhận được trong ao nuôi tôm là khoảng 2%. – Hiện tượng phồng rộp: Đuôi, mang hoặc chân bơi của tôm có dấu hiệu phồng rộp, hiện tượng này được ghi nhận là do nhóm vi khuẩn Vibrio gây ra. Trong các ao nuôi tôm, tỷ lệ phồng rộp có thể chấp nhận được chỉ là 5% – Hiện tượng tôm bị biến dạng: Bất thường về hình dạng và không hoàn chỉnh của các bộ phận cơ thể (mòn, mất răng, râu quăn, lệch đuôi, lệch thùy, sưng núm vú, v.v.) Truyền nhiễm vi rút hoại tử tạo máu và hạ bì (IHHNV). Những biến dạng này có thể do ảnh hưởng đến giai đoạn lột xác của tôm. Trong các ao nuôi tôm, tỷ lệ tôm bị biến dạng có thể chấp nhận được là trong khoảng 5%. –

Kiểm tra thời gian đông máu của tôm:
Bên cạnh một số yếu tố vật lý, sự hiện diện của vi khuẩn trong máu tôm được cho là có thể kéo dài thời gian đông máu của máu tôm. Vì vậy, kỹ thuật kiểm tra thời gian đông của máu tôm tại ruộng sẽ giúp đánh giá được tình trạng nhiễm vi khuẩn của tôm. Cụ thể, dùng kim rút vài giọt máu tôm rồi phết lên lam kính, ghi lại thời gian đông máu của máu tôm. Thông thường máu của những con tôm khỏe mạnh sẽ đông đặc trong vòng 10 – 30 giây, nếu thời gian ghi lâu hơn chứng tỏ tôm bị nhiễm vi khuẩn như vi khuẩn Vibrio.
Nguồn: Theo UVVN [email protected]Vui lòng ghi rõ nguồn thuysan247.com khi sao chép bài viết này.

Liên hệ để biết thông tin và gửi bài cộng tác qua email Nhấn nút “quan tâm” nếu bạn muốn nhận thông tin cập nhật từ chúng tôi trên Zalo.

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Theo dõi sức khỏe tôm nuôi❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Theo dõi sức khỏe tôm nuôi” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Theo dõi sức khỏe tôm nuôi [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Theo dõi sức khỏe tôm nuôi” được đăng bởi vào ngày 2022-06-04 06:24:21. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Xem thêm:  Bộ câu hỏi ôn thi Rung Chuông Vàng Trung học cơ sở (có đáp án)
Back to top button