Quy trình kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm

Theo kinh nghiệm của những người nuôi cá chình, với quy mô thả cá giống ban đầu từ 50 – 200 g / con, mật độ thả từ 1 – 2 con / m2 trong điều kiện chăm sóc tốt, sau 18 – 24 tháng tuổi cá có thể. đạt cỡ 0,8 – 2,5 kg / con. Khi còn nhỏ, tốc độ sinh trưởng của cá trường tương và khá chậm, nhưng khi đạt chiều dài trên 40 cm và từ tháng thứ 7 đến tháng thứ 8 trở đi tốc độ sinh trưởng nhanh hơn bình thường, cá đực chậm lớn. hơn cá cái. Tuy nhiên, đây chỉ là nhận xét rút kinh nghiệm của bà con, để hiểu rõ hơn về kỹ thuật và quy trình nuôi, tôi xin giới thiệu một quy trình kỹ thuật mới nhằm nâng cao tỷ lệ sống và năng suất trong mô hình nuôi cá. đầu mối thương mại.
1. Chuẩn bị ao
Diện tích ao nuôi tốt nhất là 500 – 1.000 m2, phải xây dựng ao bằng cơ giới hóa. Mực nước phải đảm bảo độ sâu trung bình 1,8 – 2,2 m. Bờ ao phải cao hơn mực nước cao nhất trong ao ít nhất 60 cm. Ao rộng và chắc chắn, không bị rò rỉ nước. Đất xây ao là đất thịt pha cát, đất sét là tốt nhất. Nên xây từ 02 ao trở lên để cá dễ dàng kích cỡ và thay nước trong quá trình nuôi. Xung quanh hệ thống ao nuôi phải được rào bằng tôn xi măng hoặc lưới chắc chắn để cá không bị thất thoát.
2. Cải tạo ao và xử lý nước
-Đối với ao cũ cần thoát nước, sên vét hết bùn đáy, bón vôi CaO từ 70-100 kg / 1.000 m2 tùy theo pH của đất và phơi ải cho khô. Đối với ao mới đào, lượng vôi có thể bón nhiều hơn và phải ngâm để khử phèn nhiều lần, giữ lại mực nước 20 cm rồi dùng dây xay cá từ 2 – 3 kg / 1.000 m2 để diệt hết tạp. cá. – Nguồn nước cấp vào ao qua túi lọc mịn, phải có chất lượng tốt, được cấp qua ao lắng, được xử lý ban đầu bằng thuốc tím 2-4 kg / 1.000 m3 để diệt vi khuẩn và nấm, sau đó nó được cung cấp. vào ao. – Cần kích tảo để ổn định chất lượng nước và đảm bảo hàm lượng oxy trong ao nuôi. Tảo phát triển làm giảm độ trong, ngăn cản ánh sáng xuyên xuống đáy ao, tạo môi trường thích hợp cho tập tính ưa bóng tối của lươn. Phun nước bằng phân DAP hoặc NPK với liều lượng 1 – 2 kg / 1.000m3, nên phun liên tục trong 2 – 3 ngày để tảo phát triển cho nước có màu xanh. – Tùy theo mật độ nuôi và kích cỡ cá giống mà bố trí hệ thống quạt nước cũng như sục khí hợp lý để cung cấp nguồn oxy hòa tan trong ao nuôi. Dưới ao có giàn cho cá ẩn náu, giá đỡ gồm ống nhựa đường kính 0,8 m x 114 mm hoặc căng lưới thép gân mịn, kích thước mắt lưới 8 x 8 cm. Lưới nên được bố trí trên diện tích mặt ao theo chiều dài hoặc chiều rộng 0,5 m tính từ bờ ao và 25 cm so với mặt đáy ao, lưới phải được cố định thẳng bằng cọc.
3. Chọn giống và mật độ nuôi
a) Chọn giống
– Do nguồn lươn giống chủ yếu được đánh bắt từ tự nhiên, một số nơi dùng chài lưới để đánh bắt giống nên người nuôi còn nhiều khó khăn trong việc lựa chọn con giống. Vì vậy, bà con nên chọn mua giống tại các trại giống từ giai đoạn cá giống, cá đã được ương qua nhiều giai đoạn giúp chất lượng cá giống đảm bảo yêu cầu khi ép cá giống, ương nuôi phù hợp với điều kiện ương nuôi nhân tạo. Biểu hiện rõ nhất là cá không sợ hãi, bơi tự nhiên trên mặt nước để tìm mồi. Nhanh chóng bắt mồi khi kiếm ăn. – Cần lựa chọn và mua hạt giống ở những cơ sở cung cấp hạt giống uy tín, chất lượng. Cá giống khỏe mạnh, đồng cỡ, da bóng, nhiều nhớt, không trầy xước, đặc biệt không có móc câu và xung điện. Nếu cá bị dính điện, ngoại hình bị biến dạng, cong queo … thì cá do câu thường bơi ngược. Khi bắt được cá, lưỡi vẫn còn dính trong dạ dày nên cá không ăn được, gầy mòn và chết. – Có 04 loài lươn chính, nhưng có 02 loài có giá trị kinh tế cao là lươn hoa hay còn gọi là lươn bông và lươn mun, được thị trường trong nước ưa chuộng. và giá cao hơn. Cỡ cá thả tốt nhất là 50-100g / con.
b) Nuôi thả và mật độ nuôi
– Khi chuyển cá không nên vội thả cá vào ao mà nên thả cá vào bể bạt có mực nước 0,8 – 1,0 m, bể bạt đặt ở vị trí thoáng mát kết hợp sục khí, tạo điều kiện. dòng chảy cho cá. thích nghi với nguồn nước. Sau đó sát trùng cá trước khi thả nuôi, có thể dùng 1 trong 3 loại hóa chất sau để tắm cho cá: thuốc tím (KMnO4) 1-3g / m3, sunfat đồng (CuSO4) 0,3-0,5g / m3, Formol 1-3 ml / m3. Hoặc ngâm cá trong dung dịch nước muối từ 15-30 phút trong vòng 15-30 phút. Thời gian tắm từ 10 đến 30 phút hoặc cho đến khi cá có dấu hiệu khó chịu. Tắm cho cá là khâu rất quan trọng để loại bỏ vi khuẩn, nấm cũng như ký sinh trùng cho cá giống, qua đó sẽ phân loại được cá khỏe để thả trước, cá yếu, cá nghi mắc câu thì tiến hành đánh bắt. được chăm sóc đặc biệt hoặc được thả cách ly riêng biệt. Mật độ thả: Mật độ thả phụ thuộc vào kích cỡ con giống và điều kiện nuôi. Sau đây là một số mật độ thả để tham khảo: + Đối với nuôi bán thâm canh (sử dụng thức ăn cho cá tươi không có hệ thống ôxy), cỡ cá 50-100g / con: mật độ thả trung bình từ 5 con / 10m2 – 1 con / m2 + Đối với thâm canh nuôi (sử dụng thức ăn công nghiệp và có hệ thống tạo ôxy) nên thả cá từ 25 – 100g / con: mật độ thả từ 4 – 10 con / m2.
3. Chăm sóc và quản lý
a) Thức ăn và cho ăn
Sử dụng được 2 loại thực phẩm tươi sống và công nghiệp. Cho ăn theo 4 quy tắc: định tính, định lượng, thời gian, bản địa hóa.
– Sự quyết tâm: Thức ăn có đủ chất đạm cần thiết. Nếu sử dụng thức ăn cho cá tạp phải tươi sống, tốt nhất là cá rô phi, hoặc cá biển. Cá được làm sạch sơ bộ, sau đó cắt khúc vừa miệng cá theo từng giai đoạn cho ăn. Thức ăn cho lươn công nghiệp dạng bột được sản xuất từ ​​Trung Quốc, Đài Loan với hàm lượng đạm cao từ 45 – 50%, chất lượng rất tốt nhưng giá thành khá cao.
– Định lượng: Mỗi ngày cho cá tươi ăn 5 – 15% tổng trọng lượng cá trong ao; Thức ăn công nghiệp cho ăn 3-4% tổng trọng lượng cá trong ao. Yêu cầu thức ăn thả xuống sau 20 – 30 phút cá phải ăn hết.
– Thời gian: Mỗi ngày cho ăn 1 lần vào 8-9 giờ sáng lúc nắng yếu hoặc 4-5 giờ chiều. Thức ăn công nghiệp trước khi cho cá ăn cần trộn đều 5-10 phút với nước theo tỷ lệ 1kg thức ăn +1,5 lít nước, sau đó trộn đều bằng máy và cho cá ăn ngay trên khay nổi.
– Thiết lập địa điểm: Phải cố định vị trí sàng ăn. Sàng thức ăn cho cá là một khung hình vuông hoặc hình tròn kích thước 1m2 được căng bằng lưới ni lông, kích thước mắt lưới lớn nhỏ tùy theo kích cỡ của cá. Đặt rây thức ăn ở nơi tối, kín gió. Đối với thức ăn cho cá tạp, nên đặt sàng chìm sát đáy ao; và sẵn sàng ăn bằng thức ăn công nghiệp nổi trên mặt nước.
b) Định cỡ cá: Định kỳ 6 – 8 tháng phân cỡ cá hoặc chuyển sang ao mới, phân loại cá lớn, cá nhỏ nuôi riêng để đồng đều và mau lớn. Trước khi định cỡ, cho cá nhịn ăn 1 – 2 ngày. Việc định cỡ cá phải được thực hiện nhanh chóng và đúng thời điểm.
c) Quản lý chất lượng nước: Những ao nuôi cá chình công nghiệp mật độ cao cần lắp đặt hệ thống ôxy đáy và quạt nước giúp ôxy phân bố đều trong các tầng nước. Trước khi cho cá ăn, nên mở sục khí để tránh tình trạng thiếu ôxy cục bộ vì cá tập trung ăn một chỗ. Ao nuôi trong ao nước tĩnh, mật độ thưa, định kỳ thay 10% lượng nước trong ao / 1 tuần từ tháng thứ 3 – 4 trở đi và 20 – 30% vào tháng thứ 5 – 6. Nên thay nước khi trời râm mát. . Khi gặp mưa to, nắng nóng cần giảm ½ lượng thức ăn. Định kỳ 1 tháng / lần sát trùng kịp thời bằng thuốc tím 1,5 kg / 1.000 m3 và 10-15 ngày / lần bằng nước vôi sống 15-20 kg / 1.000 m3 để kiểm soát mật độ tảo và ổn định chất lượng nước. . Do thời gian nuôi lươn lâu, lượng thức ăn hòa tan dư thừa làm nước nhanh bẩn nên trong quá trình nuôi cá cần định kỳ sử dụng men vi sinh. Đáy ao sạch góp phần phòng bệnh cho cá nuôi và quản lý chất lượng nước.
4. Phòng và điều trị bệnh
a) Thuốc diệt nấm Mycosis
– Lươn là loài mới, ít bệnh tật. Cá thường bỏ ăn do yếu tố môi trường và do chọn giống kém chất lượng dẫn đến cá không ăn, hao hụt nhiều. Cá chình cũng thường gặp một số bệnh như các loại cá nước ngọt khác, nhưng chưa thấy cá bị hại gì. Chủ yếu và nguy hiểm nhất là bệnh nấm trên lươn, đây là bệnh gây thiệt hại lớn nhất, có khi lên đến 70 – 75%. Do hai giống nấm là Saprolegnia và Achlya. Tác hại: Cá chình là loài cá da trơn, ngoài hô hấp bằng mang, cá chình còn hô hấp chủ yếu bằng da. Nấm sẽ cản trở quá trình hô hấp trên da của cá dẫn đến cá yếu và chết.
Phòng trị bệnh: Dùng Kali dicromat K2Cr2O7 với liều lượng 20 – 25g / m3 phun trực tiếp xuống ao để diệt nấm bệnh.
b) Bệnh thối vây
Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Flexibacte columnaris. Vi khuẩn này phát triển mạnh ở nhiệt độ thấp, dưới 15 độ C. Các triệu chứng là các đốm trắng trên đầu và vây của cá. Các tia vây bị hoại tử và rách, cá cũng sẽ bị nhiễm độc do chất độc do vi khuẩn tiết ra và gây tổn thương hệ tuần hoàn. Cá bị bệnh nặng sẽ chết trong vòng 2 ngày. – Xử lý bằng Doxery 10 – 15g / kg thức ăn, hoặc Vime – Glucan 5 – 10g / kg thức ăn kết hợp với Glusome 2g / 1kg thức ăn để tăng cường hệ miễn dịch và sức đề kháng cho cá.
c) Rận cá sống trên da, vây, khoang miệng và mang
Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng thường tập trung vào mùa mưa. Khi cá còn nhỏ, chỉ cần 1-2 con rận ký sinh là cá đã chết. Lươn có tập tính sống thành đám nên rất dễ bị rận cá tấn công. Phòng trị chấy rận bằng cách vệ sinh môi trường trước khi nuôi cá bằng vôi bột. Khi phát hiện rận trên cá, cần xử lý cá bằng thuốc tím 2 kg / 1.000 m3, cần kiểm tra độ pH của nước, tạo môi trường kiềm bằng cách bơm nước giếng ngầm hoặc thay đổi tăng giảm độ mặn. sẽ hạn chế rận cá. Theo Sở NN & PTNT Bạc Liêu

Xem thêm:  Tài đức của "lưỡng quốc phu nhân" Nhữ Thị Thuận

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Quy trình kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Quy trình kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Quy trình kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Quy trình kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm” được đăng bởi vào ngày 2022-06-03 16:36:45. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button