Quy trình khai thác cá ngừ đại dương giống bằng lưới vây

Khai thác giống cá ngừ đại dương (CNDDG) bằng nghề lưới vây là nguồn cung cấp giống, tiền đề để phát triển nghề nuôi cá ngừ đại dương ở nước ta.
Chuẩn bị các
1. Thuyền
Tàu có công suất máy chính trên 360 CV và tàu nhẹ có công suất máy 90 CV được trang bị hệ thống đèn chiếu sáng phù hợp với nghề lưới vây. Tàu lưới vây cần được trang bị tời đủ mạnh để có thể hoàn thành việc kéo hàng trong thời gian dưới 30 phút và hỗ trợ các hoạt động nâng hạ khác. Ngoài ra, tàu cần được trang bị máy thu lưới thủy lực để giảm cường độ lao động. Hệ thống máy dò cá; máy định vị vệ tinh; máy liên lạc. Ngoài ra, phải trang bị 2-4 thiết bị cầm tay. Tàu kéo lồng có công suất máy tối thiểu trên 300 CV. Nên chọn các tàu có hệ thống đẩy phù hợp để kéo lồng. Chuẩn bị lưới vây vàng có chiều dài trên 700 m, chiều cao căng trên 100 m, kích thước mắt lưới 2a = 35 – 100 mm.
2. Hệ thống chà và thả
Sau khi lựa chọn ngư trường đánh bắt cá ngừ đại dương giống là những ụ chìm ở vùng biển xa bờ; Chà chà phải được thả trước khi bắt đầu vụ đánh bắt ít nhất 1-2 tháng (đủ thời gian để cá tụ tập quanh chà). Nối các đoạn tre thành kèo theo đúng bản vẽ thiết kế. Gắn một đầu dây neo vào bè tre bằng khóa chữ “C” hoặc nút dễ tháo. Đầu kia của dây neo được nối với đá dằn hoặc mỏ neo. Khi đến vị trí dự định thả chà, thả nổi xuồng tiến hành thả bè tre trước, từ 2 đến 3 thủy thủ xuống bè buộc dây lá dừa vào các góc bè. Thả chấn lưu hoặc dây neo vào vị trí đã định, dây neo tự động hạ xuống cho đến khi hết. Dùng phao và cờ để đánh dấu vị trí chà, tạo điều kiện thuận tiện cho việc theo dõi, quan sát vị trí chà.
3. Lồng bảo quản và vận chuyển DCTC
Lồng có đường kính 13 m, sâu 8 m, có cửa lưới để gom cá từ lưới vây về lồng. Lồng phải đạt tiêu chuẩn thiết kế, có độ bền cao, chịu được sóng biển lớn, phù hợp với yêu cầu kéo lồng di chuyển trên biển và phù hợp với sức kéo của các loại lồng kéo nêu trên. Cửa lồng có kết cấu đặc biệt, rộng 6 m, cao 4,8 m. Mật độ cá nuôi trong lồng cho phép đến 2 kg / m3.
4. Thăm dò ngư trường
Căn cứ vào kết quả điều tra nguồn lợi đàn cá ngừ đại dương giống thông qua bản đồ ngư trường khai thác ĐTNĐ để lựa chọn địa điểm đánh bắt. Căn cứ vào đặc điểm của CRD, nó thường tập trung thành đàn lớn ở những vùng có gò trũng ở vùng biển xa bờ (độ sâu của các vùng biển này có thể lên đến hàng nghìn mét; độ sâu đỉnh của các gò trũng thường từ 50 – 150 m), kết hợp với kết quả đánh bắt thăm dò trong những năm qua để lựa chọn ngư trường phù hợp.
Tìm kiếm cá
Căn cứ vào tọa độ của các đỉnh gò ở khu vực gò chìm và vị trí của cá đã thả ở ngư trường này, cho thuyền chạy và phát hiện cá bằng mắt thường, bằng máy dò cá dọc, máy dò cá. . theo chiều ngang xung quanh các chà đã thả sẵn hoặc xung quanh các đỉnh của các gò trũng để phát hiện các trường cá tập trung. Nếu phát hiện trường cá thì phải theo dõi trường cá, liên tục theo dõi, đợi trời tối thì châm cá. Cho thuyền đến gần chà (chạy quanh chà, khoảng 30 – 50 m), dùng sóng siêu âm để kiểm tra cá xung quanh chà.
Thắp đèn để dụ cá
Khi được thắp sáng, các loài cá nổi nhỏ ưa sáng sẽ tập trung xung quanh đèn, chúng đã thu hút CRD tập trung xung quanh đèn để kiếm ăn, vì vậy chúng được đánh bắt bằng lưới vây. Khi thấy mật độ cá dưới ánh đèn đã tập trung đủ, các yếu tố ngoại cảnh như mưa thuận gió hòa mới chuẩn bị thả lưới. Nguồn sáng trên tàu được điều chỉnh tăng dần (tắt đèn từ mũi tàu đến đuôi tàu, thời gian từ 3-5 phút tắt hai đèn hai bên) để tập trung cá lại một chỗ. Khi đèn trên tàu tắt, tàu nhổ neo và di chuyển ra khỏi vị trí đèn tàu. Xác định thời gian và địa điểm cho phù hợp với điều kiện ngoại cảnh (hướng gió, con nước) để thả lưới vây tàu nhẹ.
Thả lưới bao vây cá
Khi quyết định địa điểm, thời điểm và quỹ đạo thả lưới phải tuân theo các nguyên tắc sau: sau khi kết thúc thả lưới, mạn tàu và vòng vây của lưới phải ở dưới nước, dưới gió tương đối với bụi. Tùy theo điều kiện thời tiết cụ thể từng thời điểm mà chọn vị trí, hướng thả lưới sao cho đảm bảo an toàn cho cá. Để lưới được thả đều đặn, các vị trí hoạt động được kết hợp với nhau một cách tuần tự (thả phao, lưới, dây rút và vòng). Các sự cố: lưới, dây thừng, vòng bị rối phải được xử lý nhanh chóng và an toàn. Khi thả phao ở đầu lưới, người điều khiển ca nô chạy về phía đầu lưới để ngăn cá thoát ra khỏi bao vây hướng ra cửa lưới. Trong thời gian thả lưới, người sử dụng Sonar luôn cung cấp thông tin về cá để thuyền trưởng kịp thời điều chỉnh hướng thả lưới cho phù hợp. Như vậy, máy Sonar rất cần thiết trong quá trình thả lưới. Khi thu hệ thống vòng lên tàu, xuồng nhẹ được đưa ra khỏi vòng vây và tiến hành thu lưới bình thường.
Cuộn và vẽ lưới dần dần
Vì chiều dài của tấm bạt lò xo và ánh sáng không lớn nên chỉ cần thu lưới về một phía. Đây là phương pháp đóng lưới mạn trái bằng tời thủy lực. Thuyền trưởng điều khiển tàu hợp lý để mắc lưới dễ dàng. Những người khác điều khiển tốc độ tời thủy lực phù hợp với quá trình kéo lưới, kéo lưới vào sát mạn tàu. Kéo và sắp xếp dây chì, vòng chính theo thứ tự từng bộ phận của lưới vào gốc cây, tời phao để lên tàu. Trong quá trình thu lưới, cần vớt cá mắc lưới. Không thu hết lưới vây trên tàu mà để khoảng 100 – 150 m lưới dưới nước. Nếu tỷ lệ ĐTNĐ chiếm trên 50% sản lượng khai thác và sản lượng ĐTNĐ trên 1.000 kg thì thuyền trưởng tàu lưới kéo sẽ ra hiệu cho tàu kéo lồng đến vớt cá. Nếu không đạt được điều này, người đánh lưới sẽ thu lưới để bắt cá như bình thường.
Chuyển cá từ lưới vây sang lồng
Giữ khoảng cách từ dây kéo đến lồng khoảng 60 – 65 m. Vẫn ép đáy lồng vào vành trên của lồng cho đến khi ép lồng vào lưới vây để người kéo lồng dễ dàng điều động lồng. Buộc một đầu của “dây mồi” vào vành lồng ở vị trí “cửa lồng”; Thuyền nhỏ sẽ chạy về phía tàu vây, vừa chạy vừa thả dây mồi. Sau khi hạ cửa lồng, tàu kéo lồng sẽ kéo nhẹ để kéo căng và mở rộng vòng vây của lưới vây; Đồng thời, 2 người sẽ bơi sang phía đối diện cửa lồng (trong vòng vây của lưới vây) để hù dọa SW bơi qua cửa lồng vào lồng. Đồng thời, người kéo lưới tiếp tục thu lưới với tốc độ chậm để hỗ trợ việc dồn cá vào lồng.
Bảo quản và vận chuyển cá ngừ giống
Kéo lồng bằng hai xuồng với khoảng cách 50-100 m tùy theo tình hình gió chướng. Theo dõi tốc độ và hướng di chuyển của các dòng hải lưu để có biện pháp khắc phục kịp thời. Sau 4 giờ để cá nghỉ 30 phút hoặc hơn tùy theo sức khỏe của cá. Cho cá ăn đầy đủ 2 lần / ngày vào khoảng 7 – 8 giờ sáng và 4 – 5 giờ chiều, với lượng 5% trọng lượng cá. Theo dõi khả năng ăn mồi của cá để điều chỉnh lượng và cỡ thức ăn cho lần sau. Lồng bè phải được neo chắc chắn tại vị trí dự định thả nuôi, có tính đến các yếu tố môi trường, địa hình, khí tượng thủy văn… Cần tính toán trước số lượng cá dự kiến ​​thả nuôi trong lồng. nuôi theo mật độ cho phép, không quá 4 kg / m3. Kéo lồng vận chuyển sao cho “cửa lồng vận chuyển” gần với “cửa lồng nuôi”. Liên kết hai cửa lồng với nhau, nhấc tất cả các khối chì dằn ở đáy lồng vận chuyển lên và cố định chúng vào vành lồng phía trên. Hạ cửa lồng xuống, từ từ nâng đáy lồng vận chuyển lên. Cá sẽ nhanh chóng bơi về lồng.
Việc khai thác cá ngừ đại dương bằng hình thức vây nhẹ để đánh bắt không cần thiết bị kỹ thuật cao để khai thác. Quy trình công nghệ này dễ sử dụng, phù hợp với tàu thuyền và trình độ của ngư dân Việt Nam.
Theo Trương Gia Phong, Tạp chí Thủy sản Việt Nam, 10/7/2015

Xem thêm:  Bài phát biểu khai giảng của giáo viên tiểu học

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Quy trình khai thác cá ngừ đại dương giống bằng lưới vây❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Quy trình khai thác cá ngừ đại dương giống bằng lưới vây” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Quy trình khai thác cá ngừ đại dương giống bằng lưới vây [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Quy trình khai thác cá ngừ đại dương giống bằng lưới vây” được đăng bởi vào ngày 2022-06-03 16:45:49. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button