Phương pháp quan sát cho trẻ mầm non la gì

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây  (636.58 KB, 83 trang )

-1-

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

*********

TRẦN THỊ THÚY

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT TRONG TỔ
CHỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN KHÁM PHÁ KHOA
HỌC VỀ THẾ GIỚI THỰC VẬT THEO HƯỚNG TÍNH
TÍCH CỰC CỦA TRẺ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành:

PP làm quen MTXQ

Người hướng dẫn khoa học
TH.S LÊ THỊ NGUYÊN

HÀ NỘI – 2011
LỜI CẢM ƠN

-2-

Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo – Th.S Lê
Thị Nguyên – người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt
quá trình làm khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2 , các thầy
cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường
và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Xin được cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Ban giám hiệu, các cô giáo cùng
bạn bè đồng nghiệp và các cháu trường Mầm non Hoa sen – Vĩnh Yên – Vĩnh
Phúc đã tạo điều kiện cho em điều tra, khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư
phạm.
Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn nhiệt tình giúp đỡ, động
viên, quan tâm, tiếp thêm niềm tin và nghị lực cho em trong suốt thời gian học

tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế.
Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10, tháng 05, năm 2011
Người thực hiện

-3-

Trần Thị Thúy

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi với sự hướng
dẫn tận tình của cô giáo – Th.s Lê Thị Nguyên. Những số liệu và kết quả trong
khóa luận là hoàn toàn trung thực. Đề tài cũng chưa được công bố trong bất cứ
một công trình khoa học nào.
Hà Nội, ngày 10, tháng 05, năm 2011
Người thực hiện

Trần Thị Thúy

-4-

DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Phương pháp dạy học : PPDH
Phương pháp quan sát : PPQS
Quan sát : QS
Giáo dục mầm non : GDMN
Giáo viên : GV
Tính tích cực : TTC
Tính tích cực nhận thức : TTCNT
Khám phá khoa học : KPKH
Môi trường xung quanh : MTXQ
Cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh : CTLQVMTXQ
Thế giới động vật : TGĐV
Thực nghiệm : TN
Đối chứng : ĐC

-5-

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1.1: Các chủ đề trong nội dung cho trẻ KPKH về MTXQ
Biểu đồ 2.1: Thực trạng về việc sử dụng các PPDH của các GV trong trường
mầm non
Bảng 2.1: Vai trò của PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn KPKH về

MTXQ theo hướng phát huy TTC
Biểu đồ 2.2: Thực trạng về việc sử dụng các loại đồ dùng, phương tiện trực quan
trong các trường mầm non
Biểu đồ 2.3: Thực trạng nhận thức của GV về dạy học phát huy TTC của trẻ
Biểu đồ 2.4: Thực trạng nhận thức của GV về những biểu hiện thể hiện TTC của
trẻ
Biểu đồ 2.5: Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả vận dụng PPQS trong tổ
chức cho trẻ KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC của trẻ
Hình 3.1: Mô tả logic tiến trình quan sát
Bảng 3.1: Kết quả thực nghiệm sử dụng phương pháp quan sát

-6-

MỤC LỤC

Nội dung Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5. Phạm vi nghiên cứu 3
6. Phương pháp nghiên cứu 4
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận 4
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
6.2.1. Quan sát 4
6.2.2. Điều tra 4
6.2.3. Phỏng vấn 4
6.2.4. Thực nghiệm sư phạm 4

6.3. Phương pháp thống kê toán học 5
7. Giả thuyết khoa học 5

-7-

8. Cấu trúc luận văn 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1. Đặc điểm nhận thức và ngôn ngữ của trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn 6
1.1.1. Đặc điểm nhận thức 6
1.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ 7
1.2. Tính tích cực của trẻ lứa tuổi mẫu giáo 9
1.2.1. Quan niệm về tính tích cực 9
1.2.2. Tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn 11
1.2.3. Những biểu hiện của TTCNT của trẻ mẫu giáo lớn trong
tổ chức cho trẻ KPKH về MTXQ 12

1.3. Một số vấn đề về phương pháp quan sát trong tổ chức cho trẻ
KPKH về MTXQ 15
1.3.1. Khái niệm 15
1.3.2. Các loại quan sát trong tổ chức cho trẻ KPKH về MTXQ 17
1.3.3. Ý nghĩa của PPQS trong tổ chức cho trẻ KPKH về MTXQ 20
1.3.4. Quy trình tiến hành quan sát trong tổ chức cho trẻ KPKH về MTXQ 21
1.4. Chương trình cho trẻ KPKH về MTXQ 25

-8-

1.4.1 Giới thiệu mục tiêu, nội dung cho trẻ KPKH về MTXQ 25

1.4.2. Nội dung KPKH về chủ đề TGĐV lứa tuổi mẫu giáo lớn 28
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 33
2.1. Mục đích khảo sát thực trạng 33
2.2. Đối tượng khảo sát 33
2.3. Nội dung khảo sát 33
2.4. Phương pháp khảo sát thực trạng 34
2.5. Kết quả khảo sát thực trạng 36
a. Thực trạng tổ chức cho trẻ KPKH về MTXQ ở một số trường
mầm non hiện nay 36
b. Thực trạng vận dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo
lớn KPKH về TGĐV theo hương phát huy TTC của trẻ 39

– Thực trạng nhận thức của GV về vai trò của việc sử dụng PPQS trong
tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn KPKH về MTXQ theo hướng phát huy
TTC 39
– Thực trạng sử dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn
KPKH về MTXQ ở trường mầm non 40
– Thực trạng việc sử dụng các loại đồ dùng, phương tiện trực quan

-9-

trong các giờ học ở trường mầm non 42
– Thực trạng nhận thức của giáo viên về dạy học phát huy TTC 44
– Thực trạng nhận thức của giáo viên về biểu hiện của TTC của trẻ 45
– Thực trạng vận dụng PPQS theo hướng phát huy TTC của trẻ trong
các trường mầm non 47
c. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả vận dụng PPQS trong tổ chức
cho trẻ KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC của trẻ 48
Chương 2: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC SỬ

DỤNG PPQS TRONG TỔ CHỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN KPKH VỀ
TGĐV THEO HƯỚNG PHÁT HUY TTC 51
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp sử dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ
KPKH về TGĐV 51
3.1.1. Đảm bảo tiến trình quan sát phù hợp với logic nội dung quan sát
và logic nhận thức của trẻ 51
3.2.2. Đảm bảo yêu cầu quan sát 52
3.2.3. Đảm bảo phát huy tính tích cực, chủ động của trẻ 53
3.2. Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng PPQS
trong tổ chức cho trẻ MGL KPKH về TGĐV theo hướng phát huy
TTC của trẻ 54

-10-

3.2.1. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của GV 54
3.2.2. Tăng cường sử dụng các loại phương tiện, thiết bị dạy học trực quan 54
3.2.3. Tạo tình huống có vấn đề nhằm kích thích hứng thú, nhu cầu QS,
khám phá của trẻ 58
3.2.4. Đa dạng hóa các loại quan sát trong khám phá chủ đề TGĐV 59
3.2.5. Kết hợp sử dụng biện pháp dùng ngôn ngữ và hướng dẫn thực hành
trong quá trình tổ chức cho trẻ QS, khám phá TGĐV 60
3.2.6. Đổi mới tiến trình quan sát trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn
KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC 60
3.3. Thực nghiệm sư phạm 64
3.3.1. Mục đích thực nghiệm 64
3.3.2. Đối tượng thực nghiệm 64
3.3.3. Nội dung thực nghiệm 64
3.3.4. Chuẩn bị thực nghiệm 65
3.3.5. Tiến hành thực nghiệm 66

3.3.6. Kết quả thực nghiệm 66
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

-11-

PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI, xu hướng toàn cầu hóa và sự phát triển như vũ bão của khoa học
công nghệ đang đặt ra nhiều yêu cầu với việc đào tạo nguồn nhân lực của mỗi
quốc gia. Người lao động trong thời đại mới phải có trình độ, có năng lực, phải
tích cực, chủ động, sáng tạo Giáo dục đã và đang là mối quan tâm hàng đầu
của các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội. Mục tiêu chủ yếu của GDMN là giúp
trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ; hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một (Chương trình GDMN, ban
hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT – BGDĐT, ngày 25/7/2009 của Bộ
trưởng Bộ GD&ĐT). Với vai trò là bậc học nền tảng, chất lượng GDMN có ảnh
hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách mỗi cá nhân cũng như chất lượng
giáo dục ở các bậc học tiếp theo. Như vậy, việc quan tâm chăm sóc – giáo dục trẻ
ngay từ những năm đầu tiên là việc làm hết sức cần thiết, có ý nghĩa quan trọng
trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và phát triển thế hệ trẻ trở thành những người
chủ tương lai của đất nước.

Xem thêm:  Quan hệ ngữ nghĩa là gì

-12-

KPKH về MTXQ là nội dung giáo dục rất quan trọng ở trường mầm non, góp
phần tích cực vào sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Thông qua quá trình cho
trẻ KPKH về MTXQ, GV đã giúp trẻ chính xác hóa biểu tượng cũ, hình thành
biểu tượng mới, trang bị cho trẻ vốn hiểu biết sơ đẳng về các sự vật, hiện tượng
(trẻ biết tên gọi, đặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng, lợi ích). Nội dung
cho trẻ làm quen được thực hiện qua các chủ đề như: Thế giới động vật, Thế giới
thực vật, Bản thân, Gia đình, Trường mầm non, Nghề nghiệp, Đồ dùng, Đồ chơi,
Phương tiện giao thông Trong đó, TGĐV được xem là một chủ đề có nhiều ưu
thế cho sự phát triển nhận thức, dễ gây hứng thú và khơi gợi xúc cảm của trẻ.
Nội dung chủ đề rất gần gũi, sinh động và hấp dẫn ; kích thích trí tò mò, tính
ham hiểu biết và nhu cầu tìm hiểu, khám phá của trẻ.
Trẻ em nói chung có nhu cầu nhận thức rất cao về thế giới xung quanh. Đặc
biệt trẻ lứa tuổi mầm non và tiểu học rất ưa hoạt động, giàu trí tưởng tượng, ham
tìm hiểu và thích khám phá cuộc sống. Tuy nhiên, sự nhận biết của trẻ về thế
giới xung quanh còn mang nặng cảm tính và tính trực quan hành động. Nghĩa là
trẻ nhận thức các sự vật, hiện tượng chủ yếu bằng tư duy cụ thể – trực quan. Lứa
tuổi mầm non, trẻ tìm hiểu, khám phá các đối tượng phần lớn nhờ QS, tri giác.
Qua QS, trẻ nắm được những đặc điểm, dấu hiệu cơ bản của các đối tượng (như
tên gọi, màu sắc, hình dáng, các bộ phận cấu tạo). Những kết quả QS, tri giác
này không chỉ giúp trẻ nhận biết các sự vật, hiện tượng đa dạng của TGXQ mà
nó còn là cơ sở để trẻ so sánh, phân biệt các đối tượng (tư duy trừu tượng) theo
các dấu hiệu đặc trưng đã QS được.
Dạy và học hiện nay đang được đổi mới theo quan điểm lấy người học làm
trung tâm (dạy học phát huy TTC của người học). Điều 5, Luật Giáo dục 2005
ghi rõ: Phương pháp giáo dục phải phát huy được TTC, tự giác, chủ động, tư

-13-

duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, kĩ năng thực hành, lòng
say mê học tập và ý chí vươn lên. Phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ lứa
tuổi mầm non, QS, tri giác được xem là con đường cơ bản giúp trẻ chiếm lĩnh
các tri thức về MTXQ một cách tích cực. Những hình ảnh mà trẻ thu được qua
QS là điểm tựa, cơ sở để trẻ tìm hiểu, khám phá bản chất các sự vật, hiện tượng.
Thực tế hiện nay thì việc cho trẻ khám phá TGĐV bằng PPQS vẫn còn nhiều
mặt hạn chế và chưa phát huy được tính chủ động, tích cực của trẻ. Ở một số
trường mầm non hiện nay vẫn còn tồn tại kiểu dạy học mang tính truyền thống
(GV bảo QS gì, trẻ làm theo như thế). Trong giờ học, đa số trẻ vẫn thụ động theo
sự tổ chức, sắp xếp của GV. Thực tế này cho thấy cần thiết phải có những giải
pháp đổi mới cách thức tổ chức cho trẻ QS trong khám phá MTXQ nhằm phát
huy TTC của trẻ, đáp ứng những yêu cầu của đổi mới dạy học.
Những lí do kể trên chính là căn cứ để người nghiên cứu lựa chọn đề tài: Sử
dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn KPKH về TGĐV theo hướng
phát huy TTC của trẻ .
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp sử dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn
KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC của trẻ.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu
giáo lớn KPKH về chủ đề TGĐV theo hướng phát huy TTC.
– Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn
KPKH về chủ đề TGĐV theo hướng phát huy TTC.
– Đề xuất một số giải pháp sử dụng PPQS trong việc tổ chức cho trẻ mẫu giáo
lớn KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC.

-14-

– Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng những giải pháp đã đề xuất.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề sử dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu
giáo lớn KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC của trẻ.
– Khách thể nghiên cứu: Quá trình tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn KPKH về
TGĐV
5. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm được tiến hành ở một số trường mầm
non thuộc thành phố Vĩnh Yên và Hà Nội cụ thể:
Trường mầm non Hoa Sen – T.P Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
Trường mầm non Ngô Quyền – TP Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
Trường mầm non Mai Đình A – Sóc Sơn – Hà Nội
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đề tài đã tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa các vấn đề lí luận có liên quan
như: PPDH, PPQS, đặc điểm nhận thức của trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn, TTC của
trẻ, yêu cầu và nội dung cho trẻ KPKH về MTXQ trong các loại sách, giáo
trình, tạp chí, luận văn, các báo cáo khoa học để xây dựng cơ sở lí luận cho
nghiên cứu của đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Quan sát
Thông qua dự giờ, QS các hoạt động dạy học của GV và trẻ (kết hợp phỏng
vấn GV và khảo sát bằng phiếu điều tra), người nghiên cứu đã có những đánh
giá chung về tình hình dạy học hiện nay.
6.2.2 Điều tra

-15-

Người nghiên cứu sử dụng các phiếu khảo sát để điều tra thực trạng việc sử
dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ KPKH về MTXQ ở một số trường mầm non;
có phân tích, đánh giá thực trạng đó với yêu cầu tổ chức cho trẻ KPKH về
MTXQ theo hướng tích cực.
6.2.3. Phỏng vấn
Việc phỏng vấn GV nhằm bổ sung các thông tin về việc tổ chức dạy học hiện
nay, lấy đó làm một trong các căn cứ cho những đề xuất của khóa luận.
6.2.4 Thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành nhằm đánh giá tính khả thi của những
biện pháp mà đề tài đã đề xuất.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng thống kê toán học để phân tích, đánh giá kết quả điều tra thực trạng,
kết quả thử nghiệm sư phạm.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu PPQS được sử dụng theo hướng khuyến khích trẻ chủ động tri giác đối
tượng theo logic nội dung QS thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của phương
pháp này.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của khóa luận gồm các
chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chương 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng PPQS trong tổ
chức cho trẻ mẫu giáo lớn KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC của trẻ.

-16-

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Đặc điểm nhận thức và ngôn ngữ của trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn
1.1.1. Đặc điểm nhận thức
Chú ý
Chú ý của trẻ được rèn luyện và phát triển (thiên về chú ý có chủ định) theo
từng lứa tuổi. Khối lượng chú ý tăng và sức tập trung chú ý trở nên bền vững
hơn, đặc biệt ở giai đoạn trẻ 5 – 6 tuổi. Trẻ có thể QS nhiều đối tượng cùng một
lúc, thời gian QS các đối tượng cũng dài hơn. Tuy nhiên, nhìn chung với trẻ lứa
tuổi mẫu giáo, chú ý không chủ định vẫn phát triển mạnh. Trẻ thường tập trung
và bị thu hút vào những gì mới mẻ, rực rỡ. Các em chỉ thực sự chú ý (chú ý có
chủ định) khi có động cơ thúc đẩy như: Được cô khen, được các bạn biểu dương,
thán phục
Tri giác
Trẻ mẫu giáo thường tri giác các sự vật, hiện tượng theo nhu cầu, sở thích của
bản thân, các đối tượng thường gặp hay do GV yêu cầu. Tính xúc cảm thể hiện
rất rõ trong quá trình tri giác của trẻ. Cũng như chú ý, tri giác của trẻ mang đậm

-17-

tính cụ thể – trực quan nghĩa là trẻ thường tri giác những gì nổi bật, sinh động,
hấp dẫn (về màu sắc, âm thanh, hình ảnh)

Trí nhớ
Theo lứa tuổi, trí nhớ của trẻ có một bước biến đổi về chất, đó là sự xuất hiện
của trí nhớ có chủ định.Trẻ có khả năng ghi nhớ tốt các sự vật, hiện tượng cụ thể
mà trẻ thường gặp trong thực tế. Trẻ 5 – 6 tuổi, năng lực ghi nhớ và nhớ lại phát
triển mạnh, trẻ bắt đầu nắm được phương thức của sự ghi nhớ. Ban đầu trẻ ghi
nhớ máy móc bằng cách tri giác nhiều lần đối tượng, tiếp đó trẻ xác lập mối liên
hệ giữa các đối tượng (dựa trên sự gợi mở, hướng dẫn của GV) trở thành ghi nhớ
logic.
Tư duy
Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo là thiên về tư duy trực quan (trực quan –
hành động, trực quan – hình tượng). Tuy nhiên, ở cuối tuổi mẫu giáo, kiểu tư duy
này không đáp ứng được nhu cầu nhận thức của trẻ. Vì vậy xuất hiện thêm kiểu
tư duy trực quan – hình tượng mới, đó là tư duy trực quan – sơ đồ. Kiểu tư duy
này tương tự tư duy trực quan – hình tượng, chỉ khác ở hình tượng mà tư duy
phản ánh.
Cuối tuổi mẫu giáo, tư duy trừu tượng bắt đầu được hình thành và phát triển.
Các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quátđược rèn luyện
qua từng tiết học. Sự phát triển tư duy của trẻ gắn liền với sự phát triển ngôn
ngữ, nhất là sự mở rộng của vốn từ.
Tưởng tượng
Tưởng tượng của trẻ mẫu giáo phần lớn là không chủ định, không nhằm vào
mục đích đề ra từ trước. Đến cuối tuổi mẫu giáo, tưởng tượng có chủ định mới
hình thành rõ nét. Nó được thể hiện nhiều hơn cả trong các dạng hoạt động mang

Xem thêm:  Đáp án Tìm hiểu pháp luật trẻ em và kỹ năng phòng tránh xâm hại trẻ em An Giang

-18-

tính sáng tạo như vẽ, nặn, xé dán; các trò chơi xây dựng – lắp ghép, trò chơi đóng
vai theo chủ đề Lúc này, trẻ bắt đầu có khả năng hành động theo mục đích
định trước. Sự phát triển trí tưởng tượng sáng tạo ở trẻ mẫu giáo phụ thuộc

không nhỏ vào khả năng QS, tri giác và năng lực tư duy của trẻ.
1.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ
Lứa tuổi mẫu giáo là thời kỳ phát cảm (nhạy cảm cao) với các hiện tượng
ngôn ngữ khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ khá nhanh. Đến
cuối tuổi mẫu giáo, hầu hết trẻ biết sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh
hoạt hàng ngày. Sự phát triển và hoàn thiện dần về ngôn ngữ ở trẻ mẫu giáo lớn
thể hiện trên nhiều phương diện (về ngữ âm, ngữ điệu, vốn từ và ngữ pháp).
Cuối tuổi mẫu giáo, trẻ đã có thể phát âm tương đối chuẩn (kể cả những âm khó
của tiếng mẹ đẻ như: uềnh oàng, khúc khuỷu ). Lứa tuổi này, trẻ không chỉ biết
sử dụng ngữ điệu phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung truyện kể. Trẻ
còn biết dùng ngữ điệu (giọng nói, cử chỉ, điệu bộ) để bộc lộ tình cảm, cảm
xúc của bản thân trong quá trình giao tiếp hoặc thể hiện truyện kể. Cùng với sự
mở rộng về vốn từ, kĩ năng dùng từ và kết hợp từ để tạo câu theo các nguyên tắc
ngữ pháp cũng được rèn luyện và phát triển.
Khả năng sử dụng ngôn ngữ của trẻ cũng thường xuyên được rèn luyện.
Trước đây trẻ sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu. Khi giao tiếp với người
xung quanh trẻ sử dụng nhiều yếu yếu tố trong tình huống để hỗ trợ cho ngôn từ
của mình. Trẻ càng lớn giao tiếp càng mở rộng hơn, tình huống giao tiếp đa dạng
hơn. Có những khi trẻ cần mô tả một điều gì đó cho người khác sao cho người
đó có thể hình dung điều trẻ nói mà không thể dựa vào các tình huống trước mắt.
Điều này đòi hỏi trẻ cần có một kiểu ngôn ngữ khác, ít phụ thuộc vào tình
huống. Kiểu ngôn ngữ này gọi là ngôn ngữ cảnh. Khi đã nắm vững ngôn ngữ

-19-

cảnh rồi, trẻ mẫu giáo lớn còn sử dụng ngôn ngữ tình huống để giao tiếp với
người xung quanh.
Một kiểu ngôn ngữ khác cũng đang phát triển trong độ tuổi mẫu giáo lớn đó
là kiểu ngôn ngữ giải thích. Ở độ tuổi này trẻ có nhu cầu giải thích cho các bạn

về nhiều vấn đề như: nội dung trò chơi, cách tạo ra đồ chơi Trẻ cũng có nhu
cầu muốn giải thích cho người lớn (cha mẹ, anh chị, cô giáo ) những suy nghĩ,
tình cảm, mong muốn ở bản thân trẻ. Ngôn ngữ giải thích đòi hỏi đứa trẻ phải
trình bày ý kiến của mình theo một trình tự nhất định, phải nêu bật được những
điểm chủ yếu và những mối quan hệ liên kết với sự vật và hiện tượng hợp lý để
người nghe dễ đồng tình. Có nghĩa là nó yêu cầu phải có tính chặt chẽ, do đó còn
gọi là ngôn nghữ mạch lạc.
Kiểu ngôn ngữ mạch lạc cũng có vai trò rất lớn đối với sự phát triển trí tuệ
của trẻ. Muốn có ngôn ngữ mạch lạc thì những điều trẻ nói ra cần được suy nghĩ
rõ ràng, rành mạch ngay từ đầu, tức là được tư duy hỗ trợ. Mặt khác, ngôn ngữ
mạch lạc là phương tiện làm cho tư duy của trẻ phát triển đến một chất lượng
mới. Đó là sự nảy sinh các yếu tố của tư duy lôgíc, nhờ đó mà toàn bộ sự phát
triển của trẻ được nâng lên một trình độ mới, cao hơn.
Nhìn chung đứa trẻ trước khi bước vào lớp một đã có khả năng nắm được ý
nghĩa của nhiều từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của người lớn.
Biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nói đúng hệ
thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật tinh vi nhất về phương diện cú
pháp phức tạp và phương diện tu từ, nói năng mạch lạc và thoải mái. Tóm lại trẻ
đã nắm vững được tiếng mẹ đẻ.
1.2. Tính Tích cực của trẻ lứa tuổi mẫu giáo
1.2.1. Quan niệm về tính tích cực

-20-

Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống
xã hội. Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong tự
nhiên mà còn chủ động cải tạo tự nhiên để tạo ra của cải vật chất cần thiết cho sự
tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Trong một số từ điển ngôn ngữ, từ điển tâm lý học của các nước, thuật ngữ

tích cực được xem xét gắn liền với hoạt động, với hành động bên trong của chủ
thể. Nó là điều kiện thúc đẩy, tạo ra hoạt động hay là biến đổi hoạt động. TTC
bao hàm tính chủ động, tính chủ định có ý thức của chủ thể, nó đối lập với tính
bị động. TTC thể hiện tính ổn định của hoạt động, thể hiện ý chí và tính độc lập
của chủ thể với môi trường bên ngoài.
Thuật ngữ Tính tích cực được gắn liền với hoạt động, với hành động bên
trong của chủ thể; là điều kiện làm nảy sinh, thúc đẩy hay là biến đổi hoạt động.
TTC nhấn mạnh sự chủ động, độc lập và sự tự ý thức của chủ thể trong các hoạt
động.
Cùng quan niệm với A.N Leonchiev, AA.Liublinxkai, I.F.Khar-lamôv, các
tác giả V.Ia.Roma nov, X.Đ.Xmiôv cũng xem xét TTC của con người gắn liền
với các hoạt động. Cụ thể hơn, các tác giả còn khẳng định rõ TTC chính là tính
chủ động của chủ thể, TTC thể hiện chức năng chỉ bảo hoạt động của con
người.[13]
Tóm lại, TTC được xem là một phẩm chất quan trọng của nhân cách, là động
lực thúc đẩy con người hoạt động đạt hiệu quả. TTC luôn mang tính chủ động,
nó đối lập với tính bị động, động cơ, nhu cầu và hứng thú hoạt động chính là
nguồn gốc bên trong của TTC, là động lực thúc đẩy con người hoạt động.
TTC được thể hiện thông qua nhiều hoạt động và trong hoạt động học tập
TTC được hiểu là tính tích cực nhận thức. Việc hình thành và phát triển TTCNT

-21-

là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục đào tạo nhằm đào tạo ra
những con người năng động, thích ứng và góp phần vào sự phát triển xã hội.
TTC là điều kiện đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình
giáo dục. Điều 4, Luật Giáo dục Việt Nam 2005 đã nêu rõ nhiệm vụ quan trọng
của sự nghiệp giáo dục đào tạo nói chung và chuyên ngành phương pháp giảng
dạy nói riêng: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ

động của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê tự học và ý chí
vươn lên”.
Như vậy tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của trẻ luôn là một trong
những nhiệm vụ quan trọng của ngành GDMN trong quá trình dạy học. Vì vậy
nó luôn là vấn đề quan trọng trong lý luận và thực tiễn dạy học được các nhà
giáo dục quan tâm nghiên cứu trao đổi và bàn luận.
1.2.2. Tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn
Theo V.X. Mu khina, Nguyễn ánh Tuyết và một số tác giả khác, TTCNT của
trẻ được thể hiện ở sự ham hiểu biết, xuất phát từ nhu cầu, mong muốn khám phá
những điều mới lạ của thế giới tự nhiên và xã hội. Sự phát triển tính ham hiểu
biết của trẻ trong thời kỳ mẫu giáo tăng lên mạnh mẽ về số lượng và sự biến đổi
về chất ở những câu hỏi của trẻ em. Ở trẻ mẫu giáo lớn có những câu hỏi hướng
vào sự tiếp thu tri thức chiếm ưu thế, hơn thế nữa trẻ em thường quan tâm tới
những nguyên nhân của sự vật, hiện tượng muôn hình, muôn vẻ, những mối liên
hệ giữa chúng.[13]
A.U.Orokina, A.k.Bodrenko và nhiều nhà tâm lý – GDMN thì cho rằng
TTCNT của trẻ mẫu giáo là khả năng giải quyết một cách hiệu quả các nhiệm vụ
nhận thức bằng việc cố gắng, nỗ lực huy động ở mức cao các chức năng tâm lý
nhận thức, đặc biệt là hoạt động của tư duy (như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái

Xem thêm:  Mẫu kế hoạch bài dạy môn Ngữ văn Mô đun 3

-22-

quát hoá). TTCNT của trẻ được thể hiện trong quá trình nhận thức, ở năng lực
vận dụng các kĩ năng nhận thức như: Kĩ năng phân tích, tổng hợp thông tin (qua
quan sát, tri giác); kĩ năng so sánh đối chiếu, phân loại các đối tượng, nhóm đối
tượng theo những dấu hiệu khác nhau. Sự phát triển TTCNT gắn liền với sự lĩnh
hội những kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng phong phú cũng như các chuẩn mực xã
hội và các quy tắc hành vi.[13]
Đồng quan điểm trên, thông qua nghiên cứu TTCNT của trẻ mẫu giáo 5-6

tuổi trong hoạt động vui chơi, E.I Kozakova xem TTCNT của trẻ mẫu giáo như
là một năng lực tư duy phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực căng thẳng của trí tuệ, của các
thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát lại).[13]
Trong một số nghiên cứu khác, TTCNT của trẻ mẫu giáo được hiểu như là
khả năng theo dõi sự chỉ dẫn bằng hành động, bằng lời nói của cô giáo, phân tích
nội dung của nhiệm vụ, chia nhỏ chúng thành các bộ phận, vừa so sánh vừa đối
chiếu giữa chúng với nhau, vừa khái quát vừa chia nhỏ những mối quan hệ đặc
thù của chúng.[14]
Hiện nay, một số quan điểm cho rằng: TTCNT của trẻ mẫu giáo được thể
hiện ở hứng thú nhận thức, sự mong muốn tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi
mà trẻ quan tâm và khả năng vận dụng các phương pháp nhận thức đã nắm được
trước đó vào các tình huống mới, các bài tập mới.[13]
Như vậy có thể khái quát rằng TTCNT của trẻ mẫu giáo như là một phẩm
chất tâm lý cá nhân của trẻ trong hoạt động nhận thức, thể hiện thái độ tích cực
nhận thức của trẻ đối với hiện thực xung quanh. Đó là năng lực trí tuệ phức tạp,
đòi hỏi sự nỗ lực cao của các chức năng tâm lý, đặc biệt là các chức năng nhận
thức khi giải quyết những nhiệm vụ nhận thức đã đặt ra trong hoạt động của

-23-

mình. Nó vừa là mục đích, vừa là điều kiện, vừa là kết quả của hoạt động nhận
thức nói riêng, của sự phát triển nhân cách của đứa trẻ nói chung.
1.2.3. Những biểu hiện TTCNT ở trẻ mẫu giáo lớn trong quá trình KPKH về
MTXQ
Như đã phân tích ở trên, TTCNT của trẻ lứa tuổi mẫu giáo được xem như là
một phẩm chất tâm lý của cá nhân trẻ trong hoạt động nhận thức, trong đó chứa
đựng cả các yếu tố nhận thức, tình cảm, ý chí. Do vậy khi xem xét những biểu
hiện của TTCNT của trẻ mẫu giáo lớn trong quá trình tìm hiểu MTXQ, chúng ta
phải dựa trên những yếu tố này, ngoài ra còn phải dựa vào các hành vi bên ngoài

của đứa trẻ (hành động, cử chỉ, nét mặt, ngôn ngữ). Trong quá trình cho trẻ
KPKH về MTXQ có thể nhận biết TTCNT của trẻ bằng các dấu hiệu sau đây:
Thứ nhất: Những dấu hiệu nói lên nhu cầu và hứng thú nhận thức của trẻ đối với
MTXQ.
Nhu cầu, hứng thú nhận thức của trẻ trong quá trình LQVMTXQ biểu hiện
bằng những dấu hiệu cụ thể sau đây:
– Trẻ thích thú, chủ động tiếp xúc, hoạt động với đối tượng gần gũi xung
quanh
– Trẻ hay đặt ra những câu hỏi và có những thắc mắc đối với GV, đối với người
lớn xung quanh và yêu cầu giải thích cặn kẽ, việc đặt ra câu hỏi nói lên sự hiểu biết,
lòng mong muốn hiểu biết nhiều hơn, sâu hơn về những sự vật hiện tượng trong
MTXQ: Đây là cái gì? Dùng để làm gì? Có thể được không? Tại sao? Như thế
nào? Từ đâu mà có? Nếu đứa trẻ học thụ động, không hứng thú thì nó sẽ không
đưa ra những câu hỏi và nó cũng không có phản ứng gì nếu câu hỏi không được trả
lời. Theo G.I Sukina, GV cần tôn trọng những câu hỏi do trẻ đưa ra, trả lời kịp thời
những câu hỏi và kích thích trẻ đặt ra câu hỏi, đây không chỉ là biểu hiện của nhu

-24-

cầu, hứng thú nhận thức mà còn là con đường quan trọng nhất để củng cố hứng thú
nhận thức cho trẻ.[14]
– Trẻ chú ý QS, chú ý lắng nghe cô nói và theo dõi những gì cô làm.
– Trẻ hay giơ tay phát biểu, nhiệt tình bổ sung ý kiến vào câu trả lời của các
bạn và thích tham gia vào các hoạt động.
– Thông qua sự QS của mình, người GV có thể xác định được những biểu
hiện cảm xúc hứng thú nhận thức ở trẻ như: Cảm xúc vui sướng, hài lòng khi
được người khác giải đáp những câu hỏi, những thắc mắc của mình, khi tự mình
tìm ra những câu trả lời đúng hay những thành công khác trong hoạt động. Ngoài
ra ta có thể thấy được sự giận dỗi, nỗi thất vọng nếu người khác không thoả mãn

trí tò mò của trẻ khi trẻ gặp những thất bại trong hoạt động. Những cảm xúc này
thể hiện qua những phản ứng lời nói, qua nét mặt, cử chỉ
Thứ hai: TTCNT của trẻ còn được thể hiện thông qua dấu hiệu nói lên khả năng
nhận thức và ngôn ngữ của trẻ trong quá trình LQVMTXQ.
Kĩ năng nhận thức của trẻ mẫu giáo là khả năng của trẻ thực hiện các hành
động nhận thức một cách thành thạo dựa trên sự tổng hợp những tri thức và kĩ
xảo đã biết. Trong kĩ năng bao giờ cũng phụ thuộc vào vốn hiểu biết của trẻ về
lĩnh vực ấy.
– Trẻ có kĩ năng QS, phát hiện nhanh chóng những nội dung QS.
– Trẻ có kĩ năng lắng nghe, hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác
hiểu mình.
– Trẻ thực hiện đủ, đúng các thao tác thực hành (bài tập hoặc trò chơi) do cô
đưa ra.

-25-

– Trẻ sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là các thao tác tư duy như phân
tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoávào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận
thức.
– Trẻ biết vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích luỹ được vào việc giải
quyết các tình huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt là vào việc giải quyết các
tình huống mới.
– Ở trẻ đã có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải
quyết các nhiệm vụ nhận thức như độc lập, tự tin trả lời câu hỏi của cô, tự mình
tìm ra một vài cách giải quyết khác nhau cho các bài tập và tình huống do cô tự
đưa ra và biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất. Tự kiểm tra kết quả trong hoạt
động chơi hay học của mình.
Thứ ba: Biểu hiện của ý chí trong TTCNT của trẻ mẫu giáo lớn:
– Trẻ có sự tập trung chú ý, ít sao nhãng trong quá trình LQVMTXQ.

– Trẻ có sự nỗ lực vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
– Sự phản ứng của trẻ khi cô đưa ra tín hiệu báo hết giờ học: Phản ứng không
hài lòng khi phải kết thúc công việc, cố gắng cho đến khi hoàn thành sản phẩm
(vẽ, nặn, cắt, dán ) hoàn thành các bài tập, trò chơi.
– Tất cả những biểu hiện về TTCNT của trẻ 5-6 tuổi không rời rạc, riêng rẽ
với nhau mà chúng gắn liền với nhau và nằm trong một tổng thể thống nhất.
TTCNT của trẻ mẫu giáo, trong đó có trẻ 5-6 tuổi được thể hiện ở các mức độ
khác nhau trong các hoạt động của chúng. GV mầm non cần biết được các cấp
độ TTCNT của trẻ từ đó xác định mục tiêu và lựa chọn nội dung cũng như các
phương tiện nhằm đạt mục tiêu giáo dục đã đặt ra.
1.3. Một số vấn đề về PPQS trong tổ chức cho trẻ KPKH về MTXQ
1.3.1. Khái niệm

Back to top button