Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận

Phân tích khổ 2 bài thơ Tràng Giang của Huy Cận sẽ giúp các em học sinh cảm nhận được cảnh sông vắng, tâm trạng cô đơn, lạc lõng của nhà thơ khi đứng trước thiên nhiên bao la.

Chủ đề: Phân tích khổ thơ thứ hai Tràng Giang của Huy Cận

Mục lục bài viết:
I. Đề cương chi tiết
II. Bài văn mẫu

2 trang phân tích của Huy can

Phân tích khổ thơ thứ hai Tràng Giang của Huy Cận

I. Dàn ý Phân tích khổ thơ thứ hai Tràng Giang của Huy Cận (Chuẩn)

1. Mở bài

– Giới thiệu chung về tác giả Huy Cận, bài thơ Tràng Giang.
– Dẫn dắt vào khổ thơ thứ hai: Nỗi buồn thấm đẫm cảnh vật.

2. Cơ thể

Cảnh sông vắng cô đơn gợi nỗi buồn, cô đơn:
+ Cặp từ “lười biếng”, “khoái lạc” gợi không gian vắng lặng, hiu quạnh.
+ Hình ảnh chợ chiều vừa gợi sự buồn tẻ, tịch mịch.
=> Không có bóng dáng con người, chỉ có cảnh vật với đất trời bao la, xa xăm.

– Tâm trạng cô đơn, lạc lõng của tác giả:
+ “trời cao tận đáy”: thăm thẳm, hấp dẫn vô tận, độ cao của đất trời dường như vô tận.
+ “Sông dài, trời rộng”: càng dài càng rộng, vắng lặng, hiu quạnh, hiu quạnh.
=> Đắm mình trong sự cô đơn, nhỏ bé của con người trước không gian vũ trụ bao la. Nỗi buồn tràn ngập không gian ba chiều, con người trở nên nhỏ bé, choáng ngợp, lạc lõng.

3. Kết luận

Đánh giá nội dung, nghệ thuật và nêu cảm nhận về khổ thơ.

II. Bài văn mẫu Phân tích khổ thơ thứ hai Tràng Giang của Huy Cận (Chuẩn)

“Tràng Giang” là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước cách mạng tháng Tám. Mỗi câu thơ đều thấm đẫm nỗi sầu “thường trực” của tác giả, mỗi nỗi buồn được gợi lên bởi sự đối lập giữa không gian bao la rộng lớn và điều nhỏ bé mong manh. Tác giả không có ý định vẽ nên một bức tranh toàn cảnh nên trong mỗi khổ thơ người đọc đều ẩn chứa nỗi buồn trải dài trong không gian và thời gian của nhà thơ. Đặc biệt ở khổ thơ thứ hai ta cảm nhận rõ được nỗi buồn man mác của Huy Cận thấm vào cảnh vật.

“Thơ nhỏ và gió cô đơn,
Còn đâu tiếng làng xa chợ chiều.
Mặt trời lặn, bầu trời thăm thẳm;
Sông dài, trời rộng, bến vắng ”.

Tràng giang được Huy Cận sáng tác vào một buổi chiều tà, khi ngồi ở bến Chèm ngắm cảnh sông nước mênh mang, hiu quạnh. Giữa không gian “trang giang” dài rộng nổi lên một gò cát nổi cao giữa sông. Cặp từ láy “nhàn nhã” và hiu quạnh đã gợi tả cảnh vắng lặng, hiu quạnh, chất chứa nỗi buồn, cô đơn, tịch mịch. Sự cô đơn, lạc lõng của một người giữa cuộc đời giống như một cồn cát nhỏ lẻ loi giữa sông dài biển rộng, bao quanh là sóng biển. Bài thơ “Tiếng làng xa chợ chiều” có thể hiểu theo hai nghĩa, một là đâu đó xa xa đã vọng lại tiếng chợ chiều, hai là không còn tiếng chợ chiều. Chợ chiều ở quê xưa bao giờ cũng có nét đìu hiu, nhạt nhẽo, vô vị, không có sự nhộn nhịp, sôi động hay náo nhiệt như chợ buổi sáng. Kết thúc một ngày mang lại cảm giác tiếc nuối và hụt hẫng, mọi hoạt động trong ngày đang dần kết thúc. Vậy mà ngay cả tiếng chợ chiều cũng không còn nữa, mọi người đều quay lưng lại với không gian, ôm mình trong tĩnh lặng và cô tịch. Không chỉ ở khổ thơ thứ hai này mà trong hầu hết bài thơ Tràng Giang của Huy Cận, dù cố gắng tìm kiếm nhưng ông đều bất lực không tìm thấy bóng dáng của kiếp người. Ở khổ thơ này không có tiếng chợ chiều, ở khổ thơ thứ ba không có tiếng đò và cây cầu. Bức tranh cuộc sống lúc bấy giờ chỉ là cảnh vật với đất trời bao la, xa xăm mà đượm buồn.

“Mặt trời lặn, bầu trời thăm thẳm;
Sông dài, trời rộng, bến vắng ”.

Trên đây là những câu thơ có giá trị hình ảnh đặc biệt, nếu hai câu thơ trên, không gian bao trùm, choáng ngợp thì ở đây không gian lại càng rộng mở, được đẩy lên cao và sâu hơn. Bầu trời cao chót vót gây ấn tượng cho người đọc bởi chiều sâu tưởng chừng như vô tận, dường như vô tận. Giữa sông dài, trời rộng chỉ có một bến vắng, chứng tỏ rằng, dù trời rộng sông dài đến đâu cũng khiến cảnh vật thêm vắng lặng, hiu quạnh, hiu quạnh. Nỗi buồn của con người khi ấy như thấm vào không gian ba chiều, con người thật nhỏ bé, choáng ngợp giữa đất trời bao la, rộng lớn, vĩnh hằng. Đời như bến vắng, hiu quạnh, vắng vẻ, lạc lõng giữa mênh mông sông nước, đất trời.

Khổ thơ thứ hai kết thúc nhưng âm điệu sầu muộn vẫn còn vang vọng, sâu lắng, điều đó cho thấy nỗi buồn đã thấm sâu vào trái tim tạo vật và tâm hồn nhà thơ. Nhịp điệu và giọng điệu của thơ trữ tình chữa được nỗi buồn mênh mang, tuôn chảy không ngừng. Khổ thơ gợi cho người đọc một nỗi buồn man mác và những suy tư, chiêm nghiệm về nỗi cô đơn của con người giữa cuộc đời rộng lớn.

——-KẾT THÚC——-

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-kho-2-bai-trang-giang-cua-huy-can-69324n.aspx
Ngoài bài Phân tích khổ thơ thứ hai Tràng Giang của Huy Cận, các em có thể tham khảo thêm các bài soạn sau để củng cố kiến ​​thức của mình như: Phân tích hai khổ thơ đầu của Tràng GiangPhân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang, Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giangPhân tích ý nghĩa của nhan đề Tràng Giang.

Nội dung trên đây,admin Abcland.Vn đã tổng hợp và gửi tới bạn đọc chi tiết về chủ đề “Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận❤️️”. Admin hy vọng bài viết chúng tôi chia sẻ về “Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận” sẽ giúp có nhiều thông tin hơn về “Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận [ ❤️️❤️️ ]”. Hãy đóng góp ý kiến để abcland.vn biên soạn bài viết chất lượng hơn về “Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận” bạn nhé.

Xem thêm:  Mẫu đơn xin việc cơ bản

Bài viết “Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận” được đăng bởi vào ngày 2022-05-01 23:25:06. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Xem thêm về Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận
#Phân #tích #khổ #bài #Tràng #Giang #của #Huy #Cận

Bài Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận sẽ giúp các em cảm nhận được khung cảnh tràng giang vắng vẻ, tịch liêu và tâm trạng cô đơn, lạc lõng của người thi nhân khi đứng trước thiên nhiên rộng lớn.
Đề bài: Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận
Mục lục bài viết:I. Dàn ý chi tiếtII. Bài văn mẫu

Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận
I. Dàn ý Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận (Chuẩn)
1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả Huy Cận, bài thơ Tràng Giang.– Dẫn dắt vào khổ thơ thứ hai: Nỗi buồn thấm sâu vào cảnh vật.
2. Thân bài
– Khung cảnh sông nước đìu hiu, quạnh vắng gợi lên sự buồn bã, cô đơn:+ Cặp từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” gợi không gian vắng lặng, cô quạnh.+ Hình ảnh chợ chiều đã vãn gợi sự buồn tẻ, cô tịch.=> Không có bóng dáng con người chỉ có cảnh vật với đất trời mênh mông, xa vắng.
– Tâm trạng cô đơn, lạc lõng của tác giả:+ “trời lên sâu chót vót”: thăm thẳm, hun hút khôn cùng, chiều cao trời đất như vô tận.+ “Sông dài, trời rộng”: càng dài rộng bao nhiêu thì càng vắng lặng, cô liêu, lẻ loi bấy nhiêu.=> Thấm thía nỗi cô đơn, sự nhỏ bé của con người trước không gian rộng lớn của vũ trụ. Nỗi buồn thấm cả vào không gian ba chiều, con người trở nên bé nhỏ, rợn ngợp, lạc loài.
3. Kết bài
Đánh giá đặc sắc nội dung, nghệ thuật và nêu cảm nhận về khổ thơ.
II. Bài văn mẫu Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận (Chuẩn)
“Tràng Giang” là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước cách mạng tháng Tám. Mỗi câu thơ đều thấm đượm nỗi sầu “miên viễn” của tác giả, nỗi buồn nào cũng được gợi lên bằng sự đối lập giữa không gian mênh mông cao rộng và cái bé nhỏ mong manh. Tác giả không có ý định khắc họa một bức tranh đầy đủ vì thế ở mỗi khổ thơ người đọc đều có ấn tượng về nỗi buồn trải dài theo không gian và thời gian của nhà thơ. Đặc biệt trong khổ thơ thứ hai, ta cảm nhận rõ nỗi buồn của Huy Cận đang thấm sâu vào cảnh vật.
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Tràng Giang được Huy Cận sáng tác vào một buổi chiều tà, khi ngồi ở bến Chèm ngắm cảnh sông nước mênh mang, buồn vắng. Giữa không gian “tràng giang” dài, rộng nổi lên một gò đất cát nổi cao ở giữa sông. Cặp từ láy “lơ thơ” và đìu hiu” đã đặc tả khung cảnh vắng lặng, hiu quạnh, xa vắng, ẩn chứa trong đó là sự buồn bã, cô đơn, lẻ loi. Sự đơn độc, lạc lõng của con người giữa cuộc đời cũng giống như cồn nhỏ trơ trọi giữa dòng sông dài rộng mênh mông, xung quanh toàn là sóng nước. Câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” có thể hiểu theo hai cách, một là ở đâu đó phía xa có tiếng chợ chiều đã vãn, hai là không có tiếng chợ chiều đã vãn. Chợ chiều ở quê xưa luôn mang một nét đặc trưng đó là sự buồn tẻ, nhạt nhẽo, vô vị, không hề có sự nhộn nhịp, náo nhiệt hay hào hứng như chợ vào buổi sáng. Thời điểm sắp kết thúc một ngày đã mang lại cảm giác gì đó tiếc nuối, hụt hẫng, mọi hoạt động sống ban ngày đang dần kết thúc. Ấy vậy mà ngay cả tiếng chợ chiều đã vãn cũng không còn, tất cả như quay lưng lại với không gian, ôm mình trong vắng lặng, cô tịch. Không chỉ trong khổ thơ thứ hai này mà hầu như trong cả bài thơ Tràng Giang của Huy Cận, dù cố gắng tìm kiếm nhưng ông lại bất lực trong việc tìm ra bóng dáng sự sống của con người. Ở khổ thơ này không có tiếng chợ chiều, khổ thơ thứ ba thì không một chuyến đò và không một cây cầu. Bức tranh cuộc sống khi ấy chỉ còn là cảnh vật với trời đất mênh mông, xa vắng và nỗi buồn thấm đẫm.
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Bên trên là những câu thơ có giá trị tạo hình đặc sắc, nếu như hai câu thơ trên, không gian đã mênh mông rợn ngợp thì đến đây không gian lại càng được rộng mở hơn, đẩy cao hơn, sâu hơn. Chiều sâu chót vót của bầu trời khiến người đọc ấn tượng với độ sâu thăm thẳm hun hút khôn cùng dường như vô tận. Giữa sông dài, trời rộng chỉ có bến nhỏ cô liêu chứng tỏ rằng, dù sông nước, trời đất có dài rộng bao nhiêu thì càng khiến cho cảnh thêm vắng lặng, cô liêu, lẻ loi bấy nhiêu. Nỗi buồn của con người khi ấy thấm đượm vào không gian ba chiều, con người thật bé nhỏ, rợn ngợp giữa trời đất bao la, rộng lớn, vĩnh hằng. Cuộc đời như một bến cô liêu, trơ trọi, vắng vẻ, lạc loài giữa cái mênh mông sông nước, trời đất.
Khổ thơ thứ hai kết thúc nhưng âm điệu trầm buồn vẫn dư vang và sâu lắng, điều đó thể hiện rằng nỗi buồn đã ngấm sâu trong lòng tạo vật và tâm hồn nhà thơ. Nhịp điệu và thanh điệu thể thơ thất ngôn chất chữa nỗi sầu mênh mang, trôi chảy triền miên. Khổ thơ gợi lên cho người đọc một nỗi buồn man mác và những suy nghĩ, chiêm nghiệm về nỗi cô đơn của con người giữa cuộc đời rộng lớn.
——————-HẾT———————
https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-kho-2-bai-trang-giang-cua-huy-can-69324n.aspx Bên cạnh bài Phân tích khổ 2 bài Tràng giang của Huy Cận, các em có thể tham khảo các bài sau để củng cố kiến thức của mình như: Phân tích hai khổ đầu bài Tràng Giang, Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang, Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang, Phân tích ý nghĩa nhan đề bài Tràng Giang.

Xem thêm:  Giải bài 13, 14, 15 trang 138 sách bài tập toán lớp 7 tập 1

#Phân #tích #khổ #bài #Tràng #Giang #của #Huy #Cận

Bài Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận sẽ giúp các em cảm nhận được khung cảnh tràng giang vắng vẻ, tịch liêu và tâm trạng cô đơn, lạc lõng của người thi nhân khi đứng trước thiên nhiên rộng lớn.
Đề bài: Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận
Mục lục bài viết:I. Dàn ý chi tiếtII. Bài văn mẫu

Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận
I. Dàn ý Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận (Chuẩn)
1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả Huy Cận, bài thơ Tràng Giang.– Dẫn dắt vào khổ thơ thứ hai: Nỗi buồn thấm sâu vào cảnh vật.
2. Thân bài
– Khung cảnh sông nước đìu hiu, quạnh vắng gợi lên sự buồn bã, cô đơn:+ Cặp từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” gợi không gian vắng lặng, cô quạnh.+ Hình ảnh chợ chiều đã vãn gợi sự buồn tẻ, cô tịch.=> Không có bóng dáng con người chỉ có cảnh vật với đất trời mênh mông, xa vắng.
– Tâm trạng cô đơn, lạc lõng của tác giả:+ “trời lên sâu chót vót”: thăm thẳm, hun hút khôn cùng, chiều cao trời đất như vô tận.+ “Sông dài, trời rộng”: càng dài rộng bao nhiêu thì càng vắng lặng, cô liêu, lẻ loi bấy nhiêu.=> Thấm thía nỗi cô đơn, sự nhỏ bé của con người trước không gian rộng lớn của vũ trụ. Nỗi buồn thấm cả vào không gian ba chiều, con người trở nên bé nhỏ, rợn ngợp, lạc loài.
3. Kết bài
Đánh giá đặc sắc nội dung, nghệ thuật và nêu cảm nhận về khổ thơ.
II. Bài văn mẫu Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận (Chuẩn)
“Tràng Giang” là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước cách mạng tháng Tám. Mỗi câu thơ đều thấm đượm nỗi sầu “miên viễn” của tác giả, nỗi buồn nào cũng được gợi lên bằng sự đối lập giữa không gian mênh mông cao rộng và cái bé nhỏ mong manh. Tác giả không có ý định khắc họa một bức tranh đầy đủ vì thế ở mỗi khổ thơ người đọc đều có ấn tượng về nỗi buồn trải dài theo không gian và thời gian của nhà thơ. Đặc biệt trong khổ thơ thứ hai, ta cảm nhận rõ nỗi buồn của Huy Cận đang thấm sâu vào cảnh vật.
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Tràng Giang được Huy Cận sáng tác vào một buổi chiều tà, khi ngồi ở bến Chèm ngắm cảnh sông nước mênh mang, buồn vắng. Giữa không gian “tràng giang” dài, rộng nổi lên một gò đất cát nổi cao ở giữa sông. Cặp từ láy “lơ thơ” và đìu hiu” đã đặc tả khung cảnh vắng lặng, hiu quạnh, xa vắng, ẩn chứa trong đó là sự buồn bã, cô đơn, lẻ loi. Sự đơn độc, lạc lõng của con người giữa cuộc đời cũng giống như cồn nhỏ trơ trọi giữa dòng sông dài rộng mênh mông, xung quanh toàn là sóng nước. Câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” có thể hiểu theo hai cách, một là ở đâu đó phía xa có tiếng chợ chiều đã vãn, hai là không có tiếng chợ chiều đã vãn. Chợ chiều ở quê xưa luôn mang một nét đặc trưng đó là sự buồn tẻ, nhạt nhẽo, vô vị, không hề có sự nhộn nhịp, náo nhiệt hay hào hứng như chợ vào buổi sáng. Thời điểm sắp kết thúc một ngày đã mang lại cảm giác gì đó tiếc nuối, hụt hẫng, mọi hoạt động sống ban ngày đang dần kết thúc. Ấy vậy mà ngay cả tiếng chợ chiều đã vãn cũng không còn, tất cả như quay lưng lại với không gian, ôm mình trong vắng lặng, cô tịch. Không chỉ trong khổ thơ thứ hai này mà hầu như trong cả bài thơ Tràng Giang của Huy Cận, dù cố gắng tìm kiếm nhưng ông lại bất lực trong việc tìm ra bóng dáng sự sống của con người. Ở khổ thơ này không có tiếng chợ chiều, khổ thơ thứ ba thì không một chuyến đò và không một cây cầu. Bức tranh cuộc sống khi ấy chỉ còn là cảnh vật với trời đất mênh mông, xa vắng và nỗi buồn thấm đẫm.
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Bên trên là những câu thơ có giá trị tạo hình đặc sắc, nếu như hai câu thơ trên, không gian đã mênh mông rợn ngợp thì đến đây không gian lại càng được rộng mở hơn, đẩy cao hơn, sâu hơn. Chiều sâu chót vót của bầu trời khiến người đọc ấn tượng với độ sâu thăm thẳm hun hút khôn cùng dường như vô tận. Giữa sông dài, trời rộng chỉ có bến nhỏ cô liêu chứng tỏ rằng, dù sông nước, trời đất có dài rộng bao nhiêu thì càng khiến cho cảnh thêm vắng lặng, cô liêu, lẻ loi bấy nhiêu. Nỗi buồn của con người khi ấy thấm đượm vào không gian ba chiều, con người thật bé nhỏ, rợn ngợp giữa trời đất bao la, rộng lớn, vĩnh hằng. Cuộc đời như một bến cô liêu, trơ trọi, vắng vẻ, lạc loài giữa cái mênh mông sông nước, trời đất.
Khổ thơ thứ hai kết thúc nhưng âm điệu trầm buồn vẫn dư vang và sâu lắng, điều đó thể hiện rằng nỗi buồn đã ngấm sâu trong lòng tạo vật và tâm hồn nhà thơ. Nhịp điệu và thanh điệu thể thơ thất ngôn chất chữa nỗi sầu mênh mang, trôi chảy triền miên. Khổ thơ gợi lên cho người đọc một nỗi buồn man mác và những suy nghĩ, chiêm nghiệm về nỗi cô đơn của con người giữa cuộc đời rộng lớn.
——————-HẾT———————
https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-kho-2-bai-trang-giang-cua-huy-can-69324n.aspx Bên cạnh bài Phân tích khổ 2 bài Tràng giang của Huy Cận, các em có thể tham khảo các bài sau để củng cố kiến thức của mình như: Phân tích hai khổ đầu bài Tràng Giang, Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang, Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang, Phân tích ý nghĩa nhan đề bài Tràng Giang.

Xem thêm:  Mẫu bản tự nhận xét, đánh giá

#Phân #tích #khổ #bài #Tràng #Giang #của #Huy #Cận

Bài Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận sẽ giúp các em cảm nhận được khung cảnh tràng giang vắng vẻ, tịch liêu và tâm trạng cô đơn, lạc lõng của người thi nhân khi đứng trước thiên nhiên rộng lớn.
Đề bài: Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận
Mục lục bài viết:I. Dàn ý chi tiếtII. Bài văn mẫu

Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận
I. Dàn ý Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận (Chuẩn)
1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả Huy Cận, bài thơ Tràng Giang.– Dẫn dắt vào khổ thơ thứ hai: Nỗi buồn thấm sâu vào cảnh vật.
2. Thân bài
– Khung cảnh sông nước đìu hiu, quạnh vắng gợi lên sự buồn bã, cô đơn:+ Cặp từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” gợi không gian vắng lặng, cô quạnh.+ Hình ảnh chợ chiều đã vãn gợi sự buồn tẻ, cô tịch.=> Không có bóng dáng con người chỉ có cảnh vật với đất trời mênh mông, xa vắng.
– Tâm trạng cô đơn, lạc lõng của tác giả:+ “trời lên sâu chót vót”: thăm thẳm, hun hút khôn cùng, chiều cao trời đất như vô tận.+ “Sông dài, trời rộng”: càng dài rộng bao nhiêu thì càng vắng lặng, cô liêu, lẻ loi bấy nhiêu.=> Thấm thía nỗi cô đơn, sự nhỏ bé của con người trước không gian rộng lớn của vũ trụ. Nỗi buồn thấm cả vào không gian ba chiều, con người trở nên bé nhỏ, rợn ngợp, lạc loài.
3. Kết bài
Đánh giá đặc sắc nội dung, nghệ thuật và nêu cảm nhận về khổ thơ.
II. Bài văn mẫu Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận (Chuẩn)
“Tràng Giang” là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước cách mạng tháng Tám. Mỗi câu thơ đều thấm đượm nỗi sầu “miên viễn” của tác giả, nỗi buồn nào cũng được gợi lên bằng sự đối lập giữa không gian mênh mông cao rộng và cái bé nhỏ mong manh. Tác giả không có ý định khắc họa một bức tranh đầy đủ vì thế ở mỗi khổ thơ người đọc đều có ấn tượng về nỗi buồn trải dài theo không gian và thời gian của nhà thơ. Đặc biệt trong khổ thơ thứ hai, ta cảm nhận rõ nỗi buồn của Huy Cận đang thấm sâu vào cảnh vật.
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Tràng Giang được Huy Cận sáng tác vào một buổi chiều tà, khi ngồi ở bến Chèm ngắm cảnh sông nước mênh mang, buồn vắng. Giữa không gian “tràng giang” dài, rộng nổi lên một gò đất cát nổi cao ở giữa sông. Cặp từ láy “lơ thơ” và đìu hiu” đã đặc tả khung cảnh vắng lặng, hiu quạnh, xa vắng, ẩn chứa trong đó là sự buồn bã, cô đơn, lẻ loi. Sự đơn độc, lạc lõng của con người giữa cuộc đời cũng giống như cồn nhỏ trơ trọi giữa dòng sông dài rộng mênh mông, xung quanh toàn là sóng nước. Câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” có thể hiểu theo hai cách, một là ở đâu đó phía xa có tiếng chợ chiều đã vãn, hai là không có tiếng chợ chiều đã vãn. Chợ chiều ở quê xưa luôn mang một nét đặc trưng đó là sự buồn tẻ, nhạt nhẽo, vô vị, không hề có sự nhộn nhịp, náo nhiệt hay hào hứng như chợ vào buổi sáng. Thời điểm sắp kết thúc một ngày đã mang lại cảm giác gì đó tiếc nuối, hụt hẫng, mọi hoạt động sống ban ngày đang dần kết thúc. Ấy vậy mà ngay cả tiếng chợ chiều đã vãn cũng không còn, tất cả như quay lưng lại với không gian, ôm mình trong vắng lặng, cô tịch. Không chỉ trong khổ thơ thứ hai này mà hầu như trong cả bài thơ Tràng Giang của Huy Cận, dù cố gắng tìm kiếm nhưng ông lại bất lực trong việc tìm ra bóng dáng sự sống của con người. Ở khổ thơ này không có tiếng chợ chiều, khổ thơ thứ ba thì không một chuyến đò và không một cây cầu. Bức tranh cuộc sống khi ấy chỉ còn là cảnh vật với trời đất mênh mông, xa vắng và nỗi buồn thấm đẫm.
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Bên trên là những câu thơ có giá trị tạo hình đặc sắc, nếu như hai câu thơ trên, không gian đã mênh mông rợn ngợp thì đến đây không gian lại càng được rộng mở hơn, đẩy cao hơn, sâu hơn. Chiều sâu chót vót của bầu trời khiến người đọc ấn tượng với độ sâu thăm thẳm hun hút khôn cùng dường như vô tận. Giữa sông dài, trời rộng chỉ có bến nhỏ cô liêu chứng tỏ rằng, dù sông nước, trời đất có dài rộng bao nhiêu thì càng khiến cho cảnh thêm vắng lặng, cô liêu, lẻ loi bấy nhiêu. Nỗi buồn của con người khi ấy thấm đượm vào không gian ba chiều, con người thật bé nhỏ, rợn ngợp giữa trời đất bao la, rộng lớn, vĩnh hằng. Cuộc đời như một bến cô liêu, trơ trọi, vắng vẻ, lạc loài giữa cái mênh mông sông nước, trời đất.
Khổ thơ thứ hai kết thúc nhưng âm điệu trầm buồn vẫn dư vang và sâu lắng, điều đó thể hiện rằng nỗi buồn đã ngấm sâu trong lòng tạo vật và tâm hồn nhà thơ. Nhịp điệu và thanh điệu thể thơ thất ngôn chất chữa nỗi sầu mênh mang, trôi chảy triền miên. Khổ thơ gợi lên cho người đọc một nỗi buồn man mác và những suy nghĩ, chiêm nghiệm về nỗi cô đơn của con người giữa cuộc đời rộng lớn.
——————-HẾT———————
https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-kho-2-bai-trang-giang-cua-huy-can-69324n.aspx Bên cạnh bài Phân tích khổ 2 bài Tràng giang của Huy Cận, các em có thể tham khảo các bài sau để củng cố kiến thức của mình như: Phân tích hai khổ đầu bài Tràng Giang, Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang, Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang, Phân tích ý nghĩa nhan đề bài Tràng Giang.

Back to top button