Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn trích hay nhất của Truyện Kiều. Với bài Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về tấm lòng trung nghĩa, vô cùng hiếu thảo của Kiều sau khi bị lừa bán vào lầu xanh và phải chịu cảnh đày đọa, cô đơn, lưu lạc ở lầu Ngưng Bích. sàn nhà.

Chủ đề: Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích.

Mục lục bài viết:
I. Đề cương chi tiết
II. Bài văn mẫu

phân tích 8 đặc điểm của chủ sở hữu tài sản

Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích.

I. Dàn ý Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích (Chuẩn)

1. Mở bài:

Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam.
– Truyện Kiều là tác phẩm nổi tiếng của ông, có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật.
– Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, đặc biệt là 8 câu thơ giữa đã khắc họa nỗi nhớ thương người yêu, cha mẹ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Kiều.

2. Thân bài:

một. Tóm tắt đoạn trích:

– Vị trí: nằm ở phần hai của Gia biến và lang thang.

– Các nội dung:
+ Sau khi Kiều bán mình chuộc cha thì bị lừa bán vào lầu xanh.
+ Cô ấy tự tử nhưng không thành.
+ Tú Bà hứa khi khỏi bệnh sẽ gả nàng về ở đàng hoàng, rồi quản thúc Kiều ở lầu Ngưng Bích.
+ Giữa cảnh vắng lặng, hiu quạnh của lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ đến Kim Trọng và cha mẹ để rồi xót xa cho số phận của mình.

b. Phân tích 8 câu giữa:

* Nỗi nhớ người yêu (4 câu đầu):

– Kiều nhớ lại những kỉ niệm vui buồn của mình và Kim Trọng.
+ Từ “tưởng” đặt ở đầu câu thơ: thể hiện sự bồi hồi nhớ nhung của Kiều.
+ Ánh trăng sáng trên đầu gợi cho nàng nhớ đến lời thề và chén rượu dưới trăng: “Trăng sáng một góc trời / Định Ninh hai miệng một chữ song hành”.
+ Nàng đau đớn hơn khi nghĩ đến Kim Trọng ở Liễu đường đang chờ tin nàng trong vô vọng.

– Càng nhớ người yêu, càng xót xa cho thân phận “Góc trời lẻ loi / Vết son không bao giờ phai”.
+ “Vết son”: Lòng chung thủy của Kiều đối với Kim Trọng mãi mãi không phai.
+ Giữa lúc cô đơn, lạc lõng nhất, Kiều vẫn một lòng hướng về Kim Trọng.

* Nỗi nhớ cha mẹ (4 câu sau):

– Từ “xót xa” được đặt ở đầu câu thơ: thể hiện niềm tiếc thương khi nghĩ đến cha mẹ ở quê.
– Chị xót thương cha mẹ già yếu đang ngày ngày “tựa cửa trông nhà” mong ngóng tin con.
– Thành ngữ “quạt sưởi ấm”, điển cố “Tiên sinh tử gốc”: chỉ nỗi đau buồn của Kiều khi không được chăm sóc cha mẹ già.
– Điệp ngữ “mấy ngày nắng mưa”: chỉ thời gian trôi nhanh, cảnh vật đổi thay, Kiều đau xót trước nỗi nhớ cha mẹ, day dứt khi chồng sinh ra mình.

* Nỗi nhớ người yêu được đặt trước nỗi nhớ cha mẹ vì:

– Kiều đã bán mình để cứu cha và em: coi như đã trả lại một phần công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ.
– Đối với Kim Trọng: Chưa hề nghe tin Kiều gặp biến gia, vẫn chờ tin nàng. Cô ấy ngoại tình với anh, nên nỗi nhớ anh trước cha mẹ anh cũng là lẽ phải.

c. Đặc điểm nghệ thuật:

– Nghệ thuật đặc sắc miêu tả nội tâm nhân vật.
– Sử dụng thành ngữ, câu chuyện cổ điển một cách chính xác và tinh tế.

3. Kết luận:

– Tám câu giữa của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích khắc họa nỗi nhớ người yêu, cha mẹ của Kiều.
– Ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến.

II. Bài văn mẫu Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích (Cảnh)

Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa của thế giới và ông cũng là một nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị, nhưng nổi bật nhất là kiệt tác Truyện Kiều. Tác phẩm không chỉ có giá trị nội dung sâu sắc mà còn rất thành công về mặt nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nội tâm tài tình của Nguyễn Du. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” và tiêu biểu là tám câu thơ giữa đã miêu tả rất chân thực và sâu sắc nỗi nhớ người yêu, cha mẹ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Thúy Kiều.

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” thuộc phần thứ hai của truyện “Thói quen và lang thang”. Sau khi Kiều bán mình để cứu cha và em, nàng chỉ được “bán” để làm vợ lẽ cho chàng, không ngờ lại bị lừa vào chốn ô uế. Nhục nhã, uất ức, Kiều quyết định tự tử nhưng được cứu sống. Tú Bà giả vờ hứa với Kiều khi khỏi bệnh sẽ gả nàng vào chốn đàng hoàng rồi quản thúc ở lầu Ngưng Bích. Trong ngôi nhà chỉ có vẻ yên tĩnh tứ phía, phía đông nhìn ra biển, phía bắc nhìn ra kinh đô, phía nam nhìn ra Kim Lăng, phía tây nhìn ra dãy núi Kỳ Sơn, Kiều buồn vô cùng. Nàng nhớ lại những kỉ niệm khi còn ở quê nhà, nhớ lại những kỉ niệm với Kim Trọng và thương tiếc cho số phận long đong của nàng.

Với tám câu giữa trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, ta thấy được nỗi nhớ người yêu, nỗi nhớ cha mẹ của Kiều thấm đẫm từng câu thơ. Nàng nhớ về Kim Trọng – mối tình đầu đầy hoài niệm sâu sắc của nàng:

“Nghĩ về một người dưới trăng và một chén đồng,
Tin tức vô ích, chờ ngày mai ”.

Chữ “tưởng” ở đầu bài thơ là dòng hồi tưởng, là những hồi ức của Kiều về Kim Trọng. Nhớ về mối tình đầu, Kiều nhớ lại lời thề của hai người dưới ánh trăng rằng:

“Mặt trăng tròn trên bầu trời
Đinh Ninh hai miệng một chữ cùng một lúc. “

Dưới ánh trăng vĩnh hằng ấy, Kiều và Kim Trọng đã cùng nhau nâng “chén đồng” – chén rượu thề một lòng một dạ. Vầng trăng kia giờ vẫn sáng và tròn, vẫn vẹn nguyên nhưng tình yêu của hai người bỗng chốc tan vỡ trong đau thương. Câu thơ nhịp nhàng như lời tự sự của một trái tim đang yêu đang day dứt khôn nguôi khi nhớ về những kỉ niệm tình yêu đẹp đẽ. Và khi nghĩ đến Kim Trọng, Kiều càng đau xót hơn khi hình dung đến cảnh Liễu Đường xa xôi, Kim Trọng vẫn chưa nghe tin nàng phải “bán mình” chuộc cha mà vẫn một lòng một dạ vì Kiều, chờ đợi từng li từng tí. của tin tức. tin tức của nàng trong vô vọng: “Tin tức vô ích chờ ngày mai”.

Nhớ người yêu bao nhiêu, nhớ lại những kỉ niệm đẹp bao nhiêu thì Kiều càng thấy thương cho số phận của mình bấy nhiêu:

“Bên trời góc bể bơ vơ,
Son rửa không bao giờ phai “

Một mình bơ vơ lạc lõng ở một nơi xa lạ, cô thấy thương cho thân phận mình và càng thương cho mối tình đầu ngây thơ đẹp đẽ của mình. Tuy nhiên, dù đã đi xa, không còn là một thiếu nữ nhưng “nét son” – lòng trung thành của nàng đối với Kim Trọng sẽ không bao giờ phai nhạt. Giữa cảnh cô đơn, mất mát, tù đày, Kiều vẫn một lòng nhớ về Kim Trọng.

Thương nhớ người yêu là thế nhưng trong lòng Kiều vẫn thổn thức nỗi nhớ thương cha mẹ. Nếu khi nhắc đến Kim Trọng, nỗi nhớ của Kiều trong “hồi ức”, nhắc đến cha mẹ, nàng cảm thấy “xót xa” vô cùng:

“Để tang vào cửa ngày mai,
Quạt ủ lạnh nồng của ai bây giờ?
Bãi Lai mấy ngày nắng mưa,
Chẳng lẽ nguyên lai vừa rồi bị ôm? “

Một mình ở nơi xa lạ, nhưng Kiều càng thấy xót xa khi nghĩ đến cha mẹ mình đã già yếu mà hàng ngày vẫn “canh cửa” ngóng ngóng tin tức của các con. Thuở nhỏ, Kiều càng buồn hơn khi về già không chăm sóc được cha mẹ. Thành ngữ “quạt sưởi trong ấm ngoài lạnh” và điển tích “Tiên sinh tử đạo” đã nói lên nỗi lòng của một người con hiếu thảo, đau đớn vì không được chăm sóc cha mẹ già. Nhớ bố mẹ, tưởng tượng quê hương đã thay đổi nhiều nhưng bố mẹ ngày càng già yếu mà không thể sớm hôm chăm lo cho chị, thật xót xa! Cụm từ “nắng mưa vài ba ngày” là cụm từ chỉ quãng thời gian xa cách, trải qua bao mùa mưa nắng nhưng cũng là cách nói sự tàn phá của thiên nhiên và thời gian đối với con người và cảnh vật. . . Nhớ đến cha mẹ, nhớ đến công ơn nuôi nấng một mình, Kiều càng thấy ân hận, day dứt khi đã phụ giúp cha mẹ. Nỗi nhớ, tình cảm ấy được gửi gắm vào cả không gian và thời gian khiến chúng ta cảm thấy nó thật sâu lắng, thật chân thành!

Đến đây, chắc hẳn nhiều người sẽ đặt câu hỏi, tại sao Kiều nhớ bố mẹ đến vậy mà lại nhắc về người yêu trước mà không phải bố mẹ? Sở dĩ nói như vậy có lẽ vì khi Kiều “bán mình” chuộc cha, nàng đã tạm an lòng với chữ hiếu, nàng đã phần nào đền đáp được công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Nhưng với Kim Trọng khi nàng ra đi chàng vẫn không hề hay biết, vẫn một lòng một dạ giữ lời thề và mong nàng Kiều. Có thể nói, Kiều nghĩ rằng mình đã giúp đỡ chàng nên nàng dằn vặt trước nỗi đau ấy mà nhớ đến chàng đầu tiên. Đây là trạng thái tinh thần hoàn toàn phù hợp với quy luật tâm lý con người.

Ngòi bút tinh tế của Nguyễn Du đã miêu tả tâm lý Thúy Kiều rất chân thực và chính xác. Chỉ với tám câu thơ đã khiến tâm trạng của Kiều nổi lên trong lúc bị quản thúc ở lầu Ngưng Bích. Dù ở trong hoàn cảnh cô đơn, lạc lõng, không biết trước tương lai nhưng Kiều vẫn là một người con hiếu thảo, một mực yêu thương, trung thành. Trong bài thơ này, Nguyễn Du còn kết hợp sử dụng thành ngữ, điển cố, ngôn từ vô cùng chính xác để miêu tả tâm trạng của nàng Kiều. Anh ấy là một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ mô tả.

Qua tám câu thơ giữa đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Nguyễn Du đã khắc họa thành công nỗi nhớ thương nhớ người yêu, cha mẹ của Kiều. Qua đó, ta thấy Kiều không chỉ là một người con gái tài sắc vẹn toàn mà còn rất mực hiếu thảo, vô cùng thủy chung. Đoạn thơ còn giúp Nguyễn Du thể hiện tấm lòng nhân đạo của mình khi khẳng định và ngợi ca vẻ đẹp, phẩm chất cao quý của người phụ nữ trong xã hội xưa.

——KẾT THÚC——

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-8-cau-tho-giua-doan-trich-kieu-o-lau-ngung-bich-69345n.aspx
Kiều ở lầu Ngưng Bích không chỉ cho ta thấy tấm lòng thủy chung với người yêu, lòng hiếu thảo với cha mẹ của nàng Kiều xinh đẹp mà còn cho ta thấy được nỗi xót xa vì tủi thân của nàng. Qua các bài viết này: Cảm nhận về 8 câu thơ cuối của Truyện Kiều ở lầu Ngưng BíchPhân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của Kiều ở lầu Ngưng Bích.Phân tích tâm trạng của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích qua 4 bức tranh: Buồn, các em sẽ hiểu rõ hơn những nỗi niềm ấy của Kiều.

Nội dung trên đây,admin Abcland.Vn đã tổng hợp và gửi tới bạn đọc chi tiết về chủ đề “Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích❤️️”. Admin hy vọng bài viết chúng tôi chia sẻ về “Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích” sẽ giúp có nhiều thông tin hơn về “Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích [ ❤️️❤️️ ]”. Hãy đóng góp ý kiến để abcland.vn biên soạn bài viết chất lượng hơn về “Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích” bạn nhé.

Bài viết “Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích” được đăng bởi vào ngày 2022-04-25 04:57:35. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Xem thêm về Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
#Phân #tích #câu #thơ #giữa #đoạn #trích #Kiều #ở #lầu #Ngưng #Bích

Xem thêm:  Tập làm văn lớp 2: Viết 2 – 3 câu kể một việc em đã làm ở nhà

Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những trích đoạn hay nhất của Truyện Kiều. Với bài viết Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích hôm nay, chúng ta sẽ được tìm hiểu về tấm lòng thuỷ chung son sắt cùng sự hiếu thảo vô cùng của Kiều sau khi nàng bị lừa bán vào lầu xanh và chịu cảnh giam lỏng, cô đơn, lạc lõng ở lầu Ngưng Bích.
Đề bài: Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
Mục lục bài viết:I. Dàn ý chi tiếtII. Bài văn mẫu

Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
I. Dàn ý Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Chuẩn)
1. Mở bài:
– Nguyễn Du là một danh nhân văn hoá, đại thi hào của dân tộc Việt Nam.– “Truyện Kiều” là tác phẩm nổi tiếng của ông, có giá trị về cả nội dung và nghệ thuật.– Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đặc biệt là 8 câu thơ giữa khắc hoạ nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Kiều.
2. Thân bài:
a. Khái quát về đoạn trích:
– Vị trí: nằm ở phần hai Gia biến và lưu lạc.
– Nội dung:+ Sau khi Kiều bán mình chuộc cha thì bị lừa bán vào lầu xanh.+ Nàng tự vẫn nhưng không thành.+ Tú Bà hứa khi nàng bình phục sẽ gả nàng vào nơi tử tế, rồi giam lỏng Kiều ở lầu Ngưng Bích.+ Giữa khung cảnh vắng lặng, cô quạnh của lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ đến Kim Trọng, cha mẹ rồi tự thấy xót thương cho số phận mình.
b. Phân tích 8 câu giữa:
* Nỗi nhớ người yêu (4 câu đầu):
– Kiều nhớ về những kỉ niệm hạnh phúc của mình và Kim Trọng.+ Chữ “tưởng” đặt ở đầu câu thơ: cho thấy sự hồi tưởng lại những kí ức của Kiều.+ Ánh trăng vằng vặc trên đầu nhắc nàng nhớ về lời thề nguyền cùng chén rượu thề dưới trăng: “Vầng trăng vằng vặc trên trời/ Đinh ninh hai miệng một lời song song”.+ Nàng càng đau đớn hơn khi nghĩ về Kim Trọng ở Liêu Dương đang mong ngóng tin của nàng trong vô vọng “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.
– Càng nhớ tình lang, nàng càng xót xa cho thân phận mình “Bên trời góc bể bơ vơ/Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”.+ “Tấm son”: tấm lòng thuỷ chung của Kiều với Kim Trọng sẽ không bao giờ phai.+ Giữa lúc cô đơn, lạc lõng nhất, Kiều vẫn hướng về Kim Trọng với một lòng thuỷ chung.
* Nỗi nhớ cha mẹ (4 câu sau):
– Chữ “xót” đặt ở đầu câu thơ: cho thấy sự xót xa khi nghĩ tới cha mẹ ở quê nhà.– Nàng thương xót cha mẹ già yếu ngày ngày “tựa cửa” mong tin con.– Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, điển tích “sân Lai gốc tử”: chỉ sự xót xa của Kiều khi không được kề bên chăm sóc cha mẹ già.– Cụm từ “cách mấy nắng mưa”: chỉ thời gian qua nhanh, cảnh vật biến đổi, Kiều đau đáu nỗi nhớ mẹ cha, day dứt khi phụ công sinh thành.
* Nỗi nhớ người yêu đặt trước nỗi nhớ cha mẹ vì:
– Kiều đã bán mình cứu cha và em: coi như đã báo đáp một phần ơn nghĩa sinh thành với cha mẹ.– Đối với Kim Trọng: Chàng chưa hề biết tin Kiều gặp gia biến, vẫn đang mong ngóng tin của nàng. Nàng đã phụ tình với chàng nên nỗi nhớ chàng trước cha mẹ cũng là hợp tình hợp lý.
c. Đặc sắc nghệ thuật:
– Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật xuất sắc.– Sử dụng các thành ngữ, điển tích điển cố chính xác và tinh tế.
3. Kết bài:
– Tám câu giữa của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích khắc hoạ nỗi nhớ người yêu, cha mẹ của Kiều.– Ca ngợi phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến.
II. Bài văn mẫu Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Chuẩn)
Nguyễn Du là danh nhân văn hoá của thế giới đồng thời ông cũng là đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Ông để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị, nhưng nổi bật nhất phải kể tới kiệt tác “Truyện Kiều”. Tác phẩm không chỉ có giá trị nội dung sâu sắc mà còn rất thành công về mặt nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nội tâm tài tình của Nguyễn Du. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” và điển hình là tám câu thơ giữa đã khắc hoạ rất chân thực, rất xúc động nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Thuý Kiều.
Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” thuộc phần hai “Gia biến và lưu lạc”. Sau khi Kiều bán mình cứu cha và em trai, nàng những tường mình chỉ bị “bán” để làm vợ lẽ cho người, không ngờ lại bị lừa vào chốn thanh lâu nhơ nhuốc. Tủi nhục, uất ức, Kiều quyết định tự vẫn nhưng lại được cứu sống. Tú Bà vờ hứa với Kiều đợi nàng hồi phục sẽ đem gả vào nơi tử tế rồi đem giam lỏng nàng ở lầu Ngưng Bích. Ở một ngôi lầu mà bốn bề chỉ thấy vắng lặng, phía đông trông ra biển, phía bắc nhìn lên kinh kì, phía nam ngó ra Kim Lăng, phía tây lại thấy dãy Kỳ Sơn, Kiều vô cùng buồn bã. Nàng nhớ lại những kỉ niệm khi còn ở quê nhà, nhớ lại những kỉ niệm cùng chàng Kim Trọng và xót thương cho số phận long đong của mình.
Với tám câu giữa trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, ta có thể thấy được nỗi nhớ thương người yêu cùng nỗi nhớ cha mẹ của Kiều ngập tràn trong từng lời thơ. Nàng nhớ đến Kim Trọng – mối tình đầu sâu đậm đầy luyến tiếc của mình:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,Tin sương luống những rày trông mai chờ.”
Chữ “tưởng” mở đầu cho dòng thơ là dòng hồi tưởng, là những hồi ức của Kiều về Kim Trọng. Nhớ về mối tình đầu của mình, Kiều nhớ lại những lời thề son sắt của cả hai dưới ánh trăng vằng vặc, rằng:
“Vầng trăng vằng vặc giữa trờiĐinh ninh hai miệng một lời song song”.
Dưới ánh trăng vĩnh cửu đó, Kiều và Kim Trọng đã cùng nhau nâng “chén đồng” – chén rượu thề nguyền cùng đồng lòng, đồng dạ. Vầng trăng kia giờ đây vẫn sáng tròn, vẫn vẹn nguyên như thế, vậy mà tình duyên của hai người lại đột ngột bị chia cắt trong đau đớn. Câu thơ nhịp nhàng như lời kể của một trái tim yêu đang đau đớn khôn cùng khi nhớ về những kỉ niệm tình yêu đẹp đẽ. Và khi nhớ về Kim Trọng, Kiều càng đau đớn hơn khi hình dung ở Liêu Dương xa xôi, Kim Trọng vẫn chưa hề hay tin nàng đã phải “bán” mình chuộc cha và vẫn một lòng hướng về Kiều, đợi chờ từng chút tin tức của nàng một cách vô ích: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.
Nhớ tình lang của mình bao nhiêu, hồi tưởng lại những kỉ niệm đẹp đẽ bao nhiêu thì Kiều lại càng xót xa cho phận mình bấy nhiêu:
“Bên trời góc bể bơ vơ,Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”
Một mình bơ vơ, lạc lõng giữa chốn xa lạ, nàng thương cho thân phận mình và lại càng tiếc thương cho mối tình đầu ngây thơ đẹp đẽ. Thế nhưng dù rằng đã đi xa, đã không còn vẹn nguyên là một thiếu nữ ngày nào, nhưng “tấm son” – tấm lòng thuỷ chung của nàng với Kim Trọng sẽ chẳng bao giờ phai nhạt. Giữa lúc cô đơn, lạc lõng, bị giam cầm, thế nhưng Kiều vẫn nhớ về Kim Trọng với một tấm lòng thuỷ chung son sắt.
Nhớ người yêu là vậy, nhưng trong tâm can Kiều còn thổn thức cả nỗi nhớ thương về cha mẹ của mình. Nếu như khi nhắc về nỗi nhớ Kim Trọng, Kiều trong niềm hồi “tưởng” thì nhắc tới cha mẹ, nàng lại cảm thấy “xót” xa vô cùng:
“Xót người tựa cửa hôm mai,Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ?Sân Lai cách mấy nắng mưa,Có khi gốc tử đã vừa người ôm?”
Một mình giữa chốn xa lạ, thế nhưng Kiều lại xót xa hơn khi nghĩ về cha mẹ của mình, đã già yếu vậy mà ngày ngày vẫn “tựa cửa” mong ngóng tin tức con. Là phận con, Kiều càng đau xót hơn khi không được tự mình chăm lo cho cha mẹ lúc về già. Câu thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh” cùng điển tích “sân Lai gốc tử” đã nói lên nỗi lòng của một người con hiếu thảo đang đau đớn vì không được kề bên chăm sóc cha mẹ già. Nhớ cha mẹ, tưởng tượng thấy quê nhà đã thay đổi nhiều mà cha mẹ lại càng ngày càng già yếu, vậy mà nàng lại chẳng thể sớm hôm chăm lo, điều đó mới thật đau xót làm sao! Cụm từ “cách mấy nắng mưa” là một cụm từ chỉ thời gian dài xa cách, đã trải qua bao mùa nắng mưa, nhưng đó cũng là cách nói chỉ sự tàn phá của thiên nhiên, thời gian đối với con người và cảnh vật. Nhớ cha mẹ, nhớ về công lao dưỡng dục sinh thành, Kiều lại càng đau đáu niềm ân hận, day dứt khi đã phụ công của cha mẹ. Nỗi nhớ thương, tâm tình ấy gửi vào cả không gian và thời gian khiến ta cảm thấy nó thật sâu sắc, chân thành vô cùng!
Đến đây có lẽ sẽ nhiều người hỏi, tại sao Kiều nhớ thương cha mẹ nhiều như vậy nhưng lại nhắc nhớ về người yêu trước mà không phải mẹ cha của mình? Lí giải điều này có lẽ là vì khi Kiều “bán mình” chuộc cha, nàng đã tạm yên lòng với chữ hiếu, nàng đã phần nào đền đáp được công ơn cha mẹ sinh thành. Thế nhưng với Kim Trọng, khi nàng rời đi, chàng vẫn chẳng hề hay biết, vẫn một lòng giữ gìn lời thề và kì vọng vào Kiều. Có thể nói, Kiều nghĩ rằng mình đã phụ chàng nên nàng mới day dứt nỗi đau ấy mà nhớ tới chàng trước tiên. Đây là tâm trạng hoàn toàn phù hợp với quy luật tâm lí của con người.
Ngòi bút tinh tế của Nguyễn Du đã miêu tả tâm lí của Thuý Kiều vô cùng chân thực và chính xác. Chỉ với tám câu thơ, nhưng ông đã làm nổi bật nên tâm trạng của Kiều khi bị giam lỏng tại lầu Ngưng Bích. Dù ở hoàn cảnh cô đơn, lạc lõng, mịt mù về tương lai thế nhưng Kiều vẫn là một người con hiếu thảo, một người tình hết mực thuỷ chung, son sắt. Trong đoạn thơ này, Nguyễn Du cũng kết hợp sử dụng các thành ngữ, các điển tích điển cố, các từ ngữ vô cùng chính xác để miêu tả tâm trạng của Kiều. Ông quả là một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ miêu tả.
Qua tám câu thơ giữa đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Nguyễn Du đã khắc hoạ hết sức thành công nỗi nhớ thương người yêu, nhớ thương cha mẹ của nàng Kiều. Qua đó, ta thấy được Kiều không chỉ là một người con gái tài sắc vẹn toàn mà còn rất hiếu thảo và vô cùng thuỷ chung. Đoạn thơ cũng đã giúp Nguyễn Du thể hiện tấm lòng nhân đạo của mình khi khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp, phẩm chất cao quý của những người phụ nữ trong xã hội xưa.
—————-HẾT—————–
https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-8-cau-tho-giua-doan-trich-kieu-o-lau-ngung-bich-69345n.aspx Kiều ở lầu Ngưng Bích không chỉ cho ta thấy được tấm lòng thuỷ chung son sắt với người yêu, hiếu thảo với cha mẹ của nàng Kiều xinh đẹp, mà còn cho ta thấy được nỗi xót xa mình tự thương mình của nàng. Thông qua các bài viết: Cảm nhận về 8 câu thơ cuối của bài Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích tâm trạng Kiều khi ở lầu Ngưng Bích qua 4 bức tranh: Buồn trông các em sẽ hiểu rõ hơn những nỗi niềm thương thân này của Kiều.

Xem thêm:  Tập làm văn lớp 2: Viết một đoạn văn tả cảnh biển (38 mẫu)

#Phân #tích #câu #thơ #giữa #đoạn #trích #Kiều #ở #lầu #Ngưng #Bích

Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những trích đoạn hay nhất của Truyện Kiều. Với bài viết Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích hôm nay, chúng ta sẽ được tìm hiểu về tấm lòng thuỷ chung son sắt cùng sự hiếu thảo vô cùng của Kiều sau khi nàng bị lừa bán vào lầu xanh và chịu cảnh giam lỏng, cô đơn, lạc lõng ở lầu Ngưng Bích.
Đề bài: Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
Mục lục bài viết:I. Dàn ý chi tiếtII. Bài văn mẫu

Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
I. Dàn ý Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Chuẩn)
1. Mở bài:
– Nguyễn Du là một danh nhân văn hoá, đại thi hào của dân tộc Việt Nam.– “Truyện Kiều” là tác phẩm nổi tiếng của ông, có giá trị về cả nội dung và nghệ thuật.– Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đặc biệt là 8 câu thơ giữa khắc hoạ nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Kiều.
2. Thân bài:
a. Khái quát về đoạn trích:
– Vị trí: nằm ở phần hai Gia biến và lưu lạc.
– Nội dung:+ Sau khi Kiều bán mình chuộc cha thì bị lừa bán vào lầu xanh.+ Nàng tự vẫn nhưng không thành.+ Tú Bà hứa khi nàng bình phục sẽ gả nàng vào nơi tử tế, rồi giam lỏng Kiều ở lầu Ngưng Bích.+ Giữa khung cảnh vắng lặng, cô quạnh của lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ đến Kim Trọng, cha mẹ rồi tự thấy xót thương cho số phận mình.
b. Phân tích 8 câu giữa:
* Nỗi nhớ người yêu (4 câu đầu):
– Kiều nhớ về những kỉ niệm hạnh phúc của mình và Kim Trọng.+ Chữ “tưởng” đặt ở đầu câu thơ: cho thấy sự hồi tưởng lại những kí ức của Kiều.+ Ánh trăng vằng vặc trên đầu nhắc nàng nhớ về lời thề nguyền cùng chén rượu thề dưới trăng: “Vầng trăng vằng vặc trên trời/ Đinh ninh hai miệng một lời song song”.+ Nàng càng đau đớn hơn khi nghĩ về Kim Trọng ở Liêu Dương đang mong ngóng tin của nàng trong vô vọng “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.
– Càng nhớ tình lang, nàng càng xót xa cho thân phận mình “Bên trời góc bể bơ vơ/Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”.+ “Tấm son”: tấm lòng thuỷ chung của Kiều với Kim Trọng sẽ không bao giờ phai.+ Giữa lúc cô đơn, lạc lõng nhất, Kiều vẫn hướng về Kim Trọng với một lòng thuỷ chung.
* Nỗi nhớ cha mẹ (4 câu sau):
– Chữ “xót” đặt ở đầu câu thơ: cho thấy sự xót xa khi nghĩ tới cha mẹ ở quê nhà.– Nàng thương xót cha mẹ già yếu ngày ngày “tựa cửa” mong tin con.– Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, điển tích “sân Lai gốc tử”: chỉ sự xót xa của Kiều khi không được kề bên chăm sóc cha mẹ già.– Cụm từ “cách mấy nắng mưa”: chỉ thời gian qua nhanh, cảnh vật biến đổi, Kiều đau đáu nỗi nhớ mẹ cha, day dứt khi phụ công sinh thành.
* Nỗi nhớ người yêu đặt trước nỗi nhớ cha mẹ vì:
– Kiều đã bán mình cứu cha và em: coi như đã báo đáp một phần ơn nghĩa sinh thành với cha mẹ.– Đối với Kim Trọng: Chàng chưa hề biết tin Kiều gặp gia biến, vẫn đang mong ngóng tin của nàng. Nàng đã phụ tình với chàng nên nỗi nhớ chàng trước cha mẹ cũng là hợp tình hợp lý.
c. Đặc sắc nghệ thuật:
– Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật xuất sắc.– Sử dụng các thành ngữ, điển tích điển cố chính xác và tinh tế.
3. Kết bài:
– Tám câu giữa của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích khắc hoạ nỗi nhớ người yêu, cha mẹ của Kiều.– Ca ngợi phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến.
II. Bài văn mẫu Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Chuẩn)
Nguyễn Du là danh nhân văn hoá của thế giới đồng thời ông cũng là đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Ông để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị, nhưng nổi bật nhất phải kể tới kiệt tác “Truyện Kiều”. Tác phẩm không chỉ có giá trị nội dung sâu sắc mà còn rất thành công về mặt nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nội tâm tài tình của Nguyễn Du. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” và điển hình là tám câu thơ giữa đã khắc hoạ rất chân thực, rất xúc động nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Thuý Kiều.
Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” thuộc phần hai “Gia biến và lưu lạc”. Sau khi Kiều bán mình cứu cha và em trai, nàng những tường mình chỉ bị “bán” để làm vợ lẽ cho người, không ngờ lại bị lừa vào chốn thanh lâu nhơ nhuốc. Tủi nhục, uất ức, Kiều quyết định tự vẫn nhưng lại được cứu sống. Tú Bà vờ hứa với Kiều đợi nàng hồi phục sẽ đem gả vào nơi tử tế rồi đem giam lỏng nàng ở lầu Ngưng Bích. Ở một ngôi lầu mà bốn bề chỉ thấy vắng lặng, phía đông trông ra biển, phía bắc nhìn lên kinh kì, phía nam ngó ra Kim Lăng, phía tây lại thấy dãy Kỳ Sơn, Kiều vô cùng buồn bã. Nàng nhớ lại những kỉ niệm khi còn ở quê nhà, nhớ lại những kỉ niệm cùng chàng Kim Trọng và xót thương cho số phận long đong của mình.
Với tám câu giữa trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, ta có thể thấy được nỗi nhớ thương người yêu cùng nỗi nhớ cha mẹ của Kiều ngập tràn trong từng lời thơ. Nàng nhớ đến Kim Trọng – mối tình đầu sâu đậm đầy luyến tiếc của mình:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,Tin sương luống những rày trông mai chờ.”
Chữ “tưởng” mở đầu cho dòng thơ là dòng hồi tưởng, là những hồi ức của Kiều về Kim Trọng. Nhớ về mối tình đầu của mình, Kiều nhớ lại những lời thề son sắt của cả hai dưới ánh trăng vằng vặc, rằng:
“Vầng trăng vằng vặc giữa trờiĐinh ninh hai miệng một lời song song”.
Dưới ánh trăng vĩnh cửu đó, Kiều và Kim Trọng đã cùng nhau nâng “chén đồng” – chén rượu thề nguyền cùng đồng lòng, đồng dạ. Vầng trăng kia giờ đây vẫn sáng tròn, vẫn vẹn nguyên như thế, vậy mà tình duyên của hai người lại đột ngột bị chia cắt trong đau đớn. Câu thơ nhịp nhàng như lời kể của một trái tim yêu đang đau đớn khôn cùng khi nhớ về những kỉ niệm tình yêu đẹp đẽ. Và khi nhớ về Kim Trọng, Kiều càng đau đớn hơn khi hình dung ở Liêu Dương xa xôi, Kim Trọng vẫn chưa hề hay tin nàng đã phải “bán” mình chuộc cha và vẫn một lòng hướng về Kiều, đợi chờ từng chút tin tức của nàng một cách vô ích: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.
Nhớ tình lang của mình bao nhiêu, hồi tưởng lại những kỉ niệm đẹp đẽ bao nhiêu thì Kiều lại càng xót xa cho phận mình bấy nhiêu:
“Bên trời góc bể bơ vơ,Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”
Một mình bơ vơ, lạc lõng giữa chốn xa lạ, nàng thương cho thân phận mình và lại càng tiếc thương cho mối tình đầu ngây thơ đẹp đẽ. Thế nhưng dù rằng đã đi xa, đã không còn vẹn nguyên là một thiếu nữ ngày nào, nhưng “tấm son” – tấm lòng thuỷ chung của nàng với Kim Trọng sẽ chẳng bao giờ phai nhạt. Giữa lúc cô đơn, lạc lõng, bị giam cầm, thế nhưng Kiều vẫn nhớ về Kim Trọng với một tấm lòng thuỷ chung son sắt.
Nhớ người yêu là vậy, nhưng trong tâm can Kiều còn thổn thức cả nỗi nhớ thương về cha mẹ của mình. Nếu như khi nhắc về nỗi nhớ Kim Trọng, Kiều trong niềm hồi “tưởng” thì nhắc tới cha mẹ, nàng lại cảm thấy “xót” xa vô cùng:
“Xót người tựa cửa hôm mai,Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ?Sân Lai cách mấy nắng mưa,Có khi gốc tử đã vừa người ôm?”
Một mình giữa chốn xa lạ, thế nhưng Kiều lại xót xa hơn khi nghĩ về cha mẹ của mình, đã già yếu vậy mà ngày ngày vẫn “tựa cửa” mong ngóng tin tức con. Là phận con, Kiều càng đau xót hơn khi không được tự mình chăm lo cho cha mẹ lúc về già. Câu thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh” cùng điển tích “sân Lai gốc tử” đã nói lên nỗi lòng của một người con hiếu thảo đang đau đớn vì không được kề bên chăm sóc cha mẹ già. Nhớ cha mẹ, tưởng tượng thấy quê nhà đã thay đổi nhiều mà cha mẹ lại càng ngày càng già yếu, vậy mà nàng lại chẳng thể sớm hôm chăm lo, điều đó mới thật đau xót làm sao! Cụm từ “cách mấy nắng mưa” là một cụm từ chỉ thời gian dài xa cách, đã trải qua bao mùa nắng mưa, nhưng đó cũng là cách nói chỉ sự tàn phá của thiên nhiên, thời gian đối với con người và cảnh vật. Nhớ cha mẹ, nhớ về công lao dưỡng dục sinh thành, Kiều lại càng đau đáu niềm ân hận, day dứt khi đã phụ công của cha mẹ. Nỗi nhớ thương, tâm tình ấy gửi vào cả không gian và thời gian khiến ta cảm thấy nó thật sâu sắc, chân thành vô cùng!
Đến đây có lẽ sẽ nhiều người hỏi, tại sao Kiều nhớ thương cha mẹ nhiều như vậy nhưng lại nhắc nhớ về người yêu trước mà không phải mẹ cha của mình? Lí giải điều này có lẽ là vì khi Kiều “bán mình” chuộc cha, nàng đã tạm yên lòng với chữ hiếu, nàng đã phần nào đền đáp được công ơn cha mẹ sinh thành. Thế nhưng với Kim Trọng, khi nàng rời đi, chàng vẫn chẳng hề hay biết, vẫn một lòng giữ gìn lời thề và kì vọng vào Kiều. Có thể nói, Kiều nghĩ rằng mình đã phụ chàng nên nàng mới day dứt nỗi đau ấy mà nhớ tới chàng trước tiên. Đây là tâm trạng hoàn toàn phù hợp với quy luật tâm lí của con người.
Ngòi bút tinh tế của Nguyễn Du đã miêu tả tâm lí của Thuý Kiều vô cùng chân thực và chính xác. Chỉ với tám câu thơ, nhưng ông đã làm nổi bật nên tâm trạng của Kiều khi bị giam lỏng tại lầu Ngưng Bích. Dù ở hoàn cảnh cô đơn, lạc lõng, mịt mù về tương lai thế nhưng Kiều vẫn là một người con hiếu thảo, một người tình hết mực thuỷ chung, son sắt. Trong đoạn thơ này, Nguyễn Du cũng kết hợp sử dụng các thành ngữ, các điển tích điển cố, các từ ngữ vô cùng chính xác để miêu tả tâm trạng của Kiều. Ông quả là một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ miêu tả.
Qua tám câu thơ giữa đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Nguyễn Du đã khắc hoạ hết sức thành công nỗi nhớ thương người yêu, nhớ thương cha mẹ của nàng Kiều. Qua đó, ta thấy được Kiều không chỉ là một người con gái tài sắc vẹn toàn mà còn rất hiếu thảo và vô cùng thuỷ chung. Đoạn thơ cũng đã giúp Nguyễn Du thể hiện tấm lòng nhân đạo của mình khi khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp, phẩm chất cao quý của những người phụ nữ trong xã hội xưa.
—————-HẾT—————–
https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-8-cau-tho-giua-doan-trich-kieu-o-lau-ngung-bich-69345n.aspx Kiều ở lầu Ngưng Bích không chỉ cho ta thấy được tấm lòng thuỷ chung son sắt với người yêu, hiếu thảo với cha mẹ của nàng Kiều xinh đẹp, mà còn cho ta thấy được nỗi xót xa mình tự thương mình của nàng. Thông qua các bài viết: Cảm nhận về 8 câu thơ cuối của bài Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích tâm trạng Kiều khi ở lầu Ngưng Bích qua 4 bức tranh: Buồn trông các em sẽ hiểu rõ hơn những nỗi niềm thương thân này của Kiều.

Xem thêm:  Phần trả lời câu hỏi Toán 10 Bài 5 Chương 4 Đại số - Giải Toán 10

#Phân #tích #câu #thơ #giữa #đoạn #trích #Kiều #ở #lầu #Ngưng #Bích

Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những trích đoạn hay nhất của Truyện Kiều. Với bài viết Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích hôm nay, chúng ta sẽ được tìm hiểu về tấm lòng thuỷ chung son sắt cùng sự hiếu thảo vô cùng của Kiều sau khi nàng bị lừa bán vào lầu xanh và chịu cảnh giam lỏng, cô đơn, lạc lõng ở lầu Ngưng Bích.
Đề bài: Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
Mục lục bài viết:I. Dàn ý chi tiếtII. Bài văn mẫu

Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
I. Dàn ý Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Chuẩn)
1. Mở bài:
– Nguyễn Du là một danh nhân văn hoá, đại thi hào của dân tộc Việt Nam.– “Truyện Kiều” là tác phẩm nổi tiếng của ông, có giá trị về cả nội dung và nghệ thuật.– Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đặc biệt là 8 câu thơ giữa khắc hoạ nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Kiều.
2. Thân bài:
a. Khái quát về đoạn trích:
– Vị trí: nằm ở phần hai Gia biến và lưu lạc.
– Nội dung:+ Sau khi Kiều bán mình chuộc cha thì bị lừa bán vào lầu xanh.+ Nàng tự vẫn nhưng không thành.+ Tú Bà hứa khi nàng bình phục sẽ gả nàng vào nơi tử tế, rồi giam lỏng Kiều ở lầu Ngưng Bích.+ Giữa khung cảnh vắng lặng, cô quạnh của lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ đến Kim Trọng, cha mẹ rồi tự thấy xót thương cho số phận mình.
b. Phân tích 8 câu giữa:
* Nỗi nhớ người yêu (4 câu đầu):
– Kiều nhớ về những kỉ niệm hạnh phúc của mình và Kim Trọng.+ Chữ “tưởng” đặt ở đầu câu thơ: cho thấy sự hồi tưởng lại những kí ức của Kiều.+ Ánh trăng vằng vặc trên đầu nhắc nàng nhớ về lời thề nguyền cùng chén rượu thề dưới trăng: “Vầng trăng vằng vặc trên trời/ Đinh ninh hai miệng một lời song song”.+ Nàng càng đau đớn hơn khi nghĩ về Kim Trọng ở Liêu Dương đang mong ngóng tin của nàng trong vô vọng “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.
– Càng nhớ tình lang, nàng càng xót xa cho thân phận mình “Bên trời góc bể bơ vơ/Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”.+ “Tấm son”: tấm lòng thuỷ chung của Kiều với Kim Trọng sẽ không bao giờ phai.+ Giữa lúc cô đơn, lạc lõng nhất, Kiều vẫn hướng về Kim Trọng với một lòng thuỷ chung.
* Nỗi nhớ cha mẹ (4 câu sau):
– Chữ “xót” đặt ở đầu câu thơ: cho thấy sự xót xa khi nghĩ tới cha mẹ ở quê nhà.– Nàng thương xót cha mẹ già yếu ngày ngày “tựa cửa” mong tin con.– Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, điển tích “sân Lai gốc tử”: chỉ sự xót xa của Kiều khi không được kề bên chăm sóc cha mẹ già.– Cụm từ “cách mấy nắng mưa”: chỉ thời gian qua nhanh, cảnh vật biến đổi, Kiều đau đáu nỗi nhớ mẹ cha, day dứt khi phụ công sinh thành.
* Nỗi nhớ người yêu đặt trước nỗi nhớ cha mẹ vì:
– Kiều đã bán mình cứu cha và em: coi như đã báo đáp một phần ơn nghĩa sinh thành với cha mẹ.– Đối với Kim Trọng: Chàng chưa hề biết tin Kiều gặp gia biến, vẫn đang mong ngóng tin của nàng. Nàng đã phụ tình với chàng nên nỗi nhớ chàng trước cha mẹ cũng là hợp tình hợp lý.
c. Đặc sắc nghệ thuật:
– Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật xuất sắc.– Sử dụng các thành ngữ, điển tích điển cố chính xác và tinh tế.
3. Kết bài:
– Tám câu giữa của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích khắc hoạ nỗi nhớ người yêu, cha mẹ của Kiều.– Ca ngợi phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến.
II. Bài văn mẫu Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Chuẩn)
Nguyễn Du là danh nhân văn hoá của thế giới đồng thời ông cũng là đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Ông để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị, nhưng nổi bật nhất phải kể tới kiệt tác “Truyện Kiều”. Tác phẩm không chỉ có giá trị nội dung sâu sắc mà còn rất thành công về mặt nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nội tâm tài tình của Nguyễn Du. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” và điển hình là tám câu thơ giữa đã khắc hoạ rất chân thực, rất xúc động nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Thuý Kiều.
Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” thuộc phần hai “Gia biến và lưu lạc”. Sau khi Kiều bán mình cứu cha và em trai, nàng những tường mình chỉ bị “bán” để làm vợ lẽ cho người, không ngờ lại bị lừa vào chốn thanh lâu nhơ nhuốc. Tủi nhục, uất ức, Kiều quyết định tự vẫn nhưng lại được cứu sống. Tú Bà vờ hứa với Kiều đợi nàng hồi phục sẽ đem gả vào nơi tử tế rồi đem giam lỏng nàng ở lầu Ngưng Bích. Ở một ngôi lầu mà bốn bề chỉ thấy vắng lặng, phía đông trông ra biển, phía bắc nhìn lên kinh kì, phía nam ngó ra Kim Lăng, phía tây lại thấy dãy Kỳ Sơn, Kiều vô cùng buồn bã. Nàng nhớ lại những kỉ niệm khi còn ở quê nhà, nhớ lại những kỉ niệm cùng chàng Kim Trọng và xót thương cho số phận long đong của mình.
Với tám câu giữa trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, ta có thể thấy được nỗi nhớ thương người yêu cùng nỗi nhớ cha mẹ của Kiều ngập tràn trong từng lời thơ. Nàng nhớ đến Kim Trọng – mối tình đầu sâu đậm đầy luyến tiếc của mình:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,Tin sương luống những rày trông mai chờ.”
Chữ “tưởng” mở đầu cho dòng thơ là dòng hồi tưởng, là những hồi ức của Kiều về Kim Trọng. Nhớ về mối tình đầu của mình, Kiều nhớ lại những lời thề son sắt của cả hai dưới ánh trăng vằng vặc, rằng:
“Vầng trăng vằng vặc giữa trờiĐinh ninh hai miệng một lời song song”.
Dưới ánh trăng vĩnh cửu đó, Kiều và Kim Trọng đã cùng nhau nâng “chén đồng” – chén rượu thề nguyền cùng đồng lòng, đồng dạ. Vầng trăng kia giờ đây vẫn sáng tròn, vẫn vẹn nguyên như thế, vậy mà tình duyên của hai người lại đột ngột bị chia cắt trong đau đớn. Câu thơ nhịp nhàng như lời kể của một trái tim yêu đang đau đớn khôn cùng khi nhớ về những kỉ niệm tình yêu đẹp đẽ. Và khi nhớ về Kim Trọng, Kiều càng đau đớn hơn khi hình dung ở Liêu Dương xa xôi, Kim Trọng vẫn chưa hề hay tin nàng đã phải “bán” mình chuộc cha và vẫn một lòng hướng về Kiều, đợi chờ từng chút tin tức của nàng một cách vô ích: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.
Nhớ tình lang của mình bao nhiêu, hồi tưởng lại những kỉ niệm đẹp đẽ bao nhiêu thì Kiều lại càng xót xa cho phận mình bấy nhiêu:
“Bên trời góc bể bơ vơ,Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”
Một mình bơ vơ, lạc lõng giữa chốn xa lạ, nàng thương cho thân phận mình và lại càng tiếc thương cho mối tình đầu ngây thơ đẹp đẽ. Thế nhưng dù rằng đã đi xa, đã không còn vẹn nguyên là một thiếu nữ ngày nào, nhưng “tấm son” – tấm lòng thuỷ chung của nàng với Kim Trọng sẽ chẳng bao giờ phai nhạt. Giữa lúc cô đơn, lạc lõng, bị giam cầm, thế nhưng Kiều vẫn nhớ về Kim Trọng với một tấm lòng thuỷ chung son sắt.
Nhớ người yêu là vậy, nhưng trong tâm can Kiều còn thổn thức cả nỗi nhớ thương về cha mẹ của mình. Nếu như khi nhắc về nỗi nhớ Kim Trọng, Kiều trong niềm hồi “tưởng” thì nhắc tới cha mẹ, nàng lại cảm thấy “xót” xa vô cùng:
“Xót người tựa cửa hôm mai,Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ?Sân Lai cách mấy nắng mưa,Có khi gốc tử đã vừa người ôm?”
Một mình giữa chốn xa lạ, thế nhưng Kiều lại xót xa hơn khi nghĩ về cha mẹ của mình, đã già yếu vậy mà ngày ngày vẫn “tựa cửa” mong ngóng tin tức con. Là phận con, Kiều càng đau xót hơn khi không được tự mình chăm lo cho cha mẹ lúc về già. Câu thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh” cùng điển tích “sân Lai gốc tử” đã nói lên nỗi lòng của một người con hiếu thảo đang đau đớn vì không được kề bên chăm sóc cha mẹ già. Nhớ cha mẹ, tưởng tượng thấy quê nhà đã thay đổi nhiều mà cha mẹ lại càng ngày càng già yếu, vậy mà nàng lại chẳng thể sớm hôm chăm lo, điều đó mới thật đau xót làm sao! Cụm từ “cách mấy nắng mưa” là một cụm từ chỉ thời gian dài xa cách, đã trải qua bao mùa nắng mưa, nhưng đó cũng là cách nói chỉ sự tàn phá của thiên nhiên, thời gian đối với con người và cảnh vật. Nhớ cha mẹ, nhớ về công lao dưỡng dục sinh thành, Kiều lại càng đau đáu niềm ân hận, day dứt khi đã phụ công của cha mẹ. Nỗi nhớ thương, tâm tình ấy gửi vào cả không gian và thời gian khiến ta cảm thấy nó thật sâu sắc, chân thành vô cùng!
Đến đây có lẽ sẽ nhiều người hỏi, tại sao Kiều nhớ thương cha mẹ nhiều như vậy nhưng lại nhắc nhớ về người yêu trước mà không phải mẹ cha của mình? Lí giải điều này có lẽ là vì khi Kiều “bán mình” chuộc cha, nàng đã tạm yên lòng với chữ hiếu, nàng đã phần nào đền đáp được công ơn cha mẹ sinh thành. Thế nhưng với Kim Trọng, khi nàng rời đi, chàng vẫn chẳng hề hay biết, vẫn một lòng giữ gìn lời thề và kì vọng vào Kiều. Có thể nói, Kiều nghĩ rằng mình đã phụ chàng nên nàng mới day dứt nỗi đau ấy mà nhớ tới chàng trước tiên. Đây là tâm trạng hoàn toàn phù hợp với quy luật tâm lí của con người.
Ngòi bút tinh tế của Nguyễn Du đã miêu tả tâm lí của Thuý Kiều vô cùng chân thực và chính xác. Chỉ với tám câu thơ, nhưng ông đã làm nổi bật nên tâm trạng của Kiều khi bị giam lỏng tại lầu Ngưng Bích. Dù ở hoàn cảnh cô đơn, lạc lõng, mịt mù về tương lai thế nhưng Kiều vẫn là một người con hiếu thảo, một người tình hết mực thuỷ chung, son sắt. Trong đoạn thơ này, Nguyễn Du cũng kết hợp sử dụng các thành ngữ, các điển tích điển cố, các từ ngữ vô cùng chính xác để miêu tả tâm trạng của Kiều. Ông quả là một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ miêu tả.
Qua tám câu thơ giữa đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Nguyễn Du đã khắc hoạ hết sức thành công nỗi nhớ thương người yêu, nhớ thương cha mẹ của nàng Kiều. Qua đó, ta thấy được Kiều không chỉ là một người con gái tài sắc vẹn toàn mà còn rất hiếu thảo và vô cùng thuỷ chung. Đoạn thơ cũng đã giúp Nguyễn Du thể hiện tấm lòng nhân đạo của mình khi khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp, phẩm chất cao quý của những người phụ nữ trong xã hội xưa.
—————-HẾT—————–
https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-8-cau-tho-giua-doan-trich-kieu-o-lau-ngung-bich-69345n.aspx Kiều ở lầu Ngưng Bích không chỉ cho ta thấy được tấm lòng thuỷ chung son sắt với người yêu, hiếu thảo với cha mẹ của nàng Kiều xinh đẹp, mà còn cho ta thấy được nỗi xót xa mình tự thương mình của nàng. Thông qua các bài viết: Cảm nhận về 8 câu thơ cuối của bài Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích tâm trạng Kiều khi ở lầu Ngưng Bích qua 4 bức tranh: Buồn trông các em sẽ hiểu rõ hơn những nỗi niềm thương thân này của Kiều.

Back to top button