NT-Nuôi cá trê lai thành công nhanh chóng

2020-07-30 10:58:51

Hướng dẫn kỹ thuật nuôi và phòng bệnh cho cá trê lai

I. MỘT SỐ ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁ MÈO:

1. Cá trê lai, một loài cá có khả năng chống chịu cao với điều kiện xấu của ao nuôi

Cá da trơn lai có kích thước thương mại có thể sống trong nước với những hạn chế sau:

– Nhiệt độ từ 8 đến 39oC

– Tính axit, kiềm: pH từ 3,5 đến 10,5

– Ôxy hòa tan: Cá có cơ quan hô hấp phụ, có thể hấp thụ ôxy từ không khí nên có thể sống ở những nơi chật hẹp, hàm lượng ôxy hòa tan rất thấp, thậm chí có thể sống ngoài nước vài giờ nếu giữ được độ ẩm cần thiết. cho cá. Càng lớn, cá càng có sức đề kháng.

– Nhược điểm của cá trê lai là khả năng chịu lạnh kém. Vì vậy, vào mùa đông ở miền Bắc cần có phương án phòng chống rét cho cá.
2. Cá Trê lai lớn nhanh, cho năng suất cao

– Cá giống: ương từ cá bột sau 28 ngày có thể đạt cỡ cá giống 4 – 6 cm.

– Cá thương phẩm: Nuôi từ cá giống, sau 4-5 tháng đạt kích cỡ 250-400 g / con.

– Năng suất 1,0-2,0 kg / m2 có thể đạt được sau 4-5 tháng nuôi ở điều kiện bình thường, không có điều kiện thiết bị phức tạp.
3. Cá trê lai là loài cá ăn tạp, có thể ăn trực tiếp nhiều loại thức ăn.

– Khi còn nhỏ, chúng ăn các động vật nhỏ sống dưới nước như động vật phù du (Thủy sinh, bọ nước), giun đỏ, v.v.

– Khi trưởng thành: có thể ăn bã động vật, côn trùng, cám gạo, phân gia súc, gia cầm, thức ăn hỗn hợp, v.v.

Nuôi cá da trơn

4. Cá trê lai sinh sản kém và không có hiệu quả trong sản xuất. Chỉ sử dụng con lai F1 cho cá thịt.

5. Bạn chọn cá Trê lai để nuôi như thế nào? Và làm thế nào để phân biệt chúng?

Hiện nay, ở miền Bắc có 5 loài cá trê lai, trong đó 3 loài cá trê thuần chủng là: Cá trê đen (Clarias fuscus), cá trê vàng (C. macrocephalus), cá trê phi (C. gariepinus), hai loại cá trê lai. là: F.Đ và FV

Cả hai loại cá trê lai: F.Đ và FV đều có khả năng chống chịu tốt, mau lớn, thịt thơm ngon, ngoại hình đẹp. Mỗi loại đều có ưu điểm riêng: Cá trê lai FD có khả năng chịu lạnh và kháng bệnh tốt hơn FV, tuy nhiên FV lại có màu sắc đẹp, năng suất cá bột cao hơn FD nên tùy theo điều kiện nuôi dưỡng và yêu cầu của thị trường mà ta lựa chọn.
II. TÌM CÁ CHÉP THỊT CÁ MỸ

Cá trê lai có thể nuôi đơn lẻ hoặc kết hợp với các loài cá nuôi khác. Khi nuôi ghép cần chú ý đến kích cỡ cá thể để tránh ảnh hưởng xấu lẫn nhau,… Đồng thời, có thể nuôi cá trê trong hệ thống chăn nuôi tổng hợp với gà, vịt cho kết quả tốt. Thông thường, nuôi đơn lẻ dễ chăm sóc, quản lý và phổ biến hơn. Dưới đây là phần giới thiệu kỹ thuật nuôi đơn.

1. Nơi nuôi:

Ao nuôi có điều kiện giống như ao nuôi vỗ cá bố mẹ nhưng mực nước sâu hơn, thường sâu từ 1,0-1,5m, diện tích lớn hơn có thể từ vài chục đến vài nghìn m2.

2. Mật độ thả:

Tùy theo kích cỡ cá giống, khẩu phần ăn, khả năng thay nước, mức độ chăm sóc,… Nếu nuôi với diện tích nhỏ, chăm sóc tốt thì có thể thả cá nhỏ cỡ 3-5cm. Nếu ao rộng, khả năng tiêu diệt địch khó, kinh nghiệm nuôi còn hạn chế thì nên thả cá cỡ 5-7cm. Cá giống thả phải khỏe mạnh, đồng đều từ nguồn giống tốt. Dưới đây là một số mật độ thả nuôi độc canh.

– Ao nhỏ, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh tốt: Cỡ giống (cm) 3 – 5; Mật độ (cá thể / m2) 15 – 25.

– Ao vừa, chăm sóc đảm bảo: Cỡ giống (cm) 4-6; Mật độ (cá thể / m2) 15 – 20.

– Ao lớn, khó tiêu diệt địch hại: Cỡ giống (cm) 5-7; Mật độ (cá thể / m2) 10 – 15.

Trong nuôi ghép, cá trê thường được thả với tỷ lệ 1,0-2,0 con / m2, kích cỡ cá trê phải nhỏ hơn các loại cá nuôi khác.

3. Thức ăn cho cá:

Sử dụng các loại thức ăn sau: Cám, gạo kém chất lượng, ngô, bã rượu, mì sợi, bột cá nhạt, vỏ tôm, tôm, cua, ếch, nhái, trùn quế, phế thải lò mổ, phân gia súc, gia cầm,… để cho cá ăn. Cá càng lớn, khả năng tiêu hóa càng mạnh, cá ăn tạp. Thức ăn cần được trộn đều. Thức ăn dạng bột cần được nấu chín. Lượng đạm (Protein) trong thức ăn càng nhiều càng tốt, lượng tối thiểu cần cho tháng thứ nhất: từ 20 – 30%, tháng thứ 2 từ 10 – 20%, tháng thứ 3 trở đi từ 10 – 15%. tổng cộng. số thực phẩm.

Khi cho cá ăn, nắm thành nắm khoảng 500g / 1 con và thả từ từ vào vài nơi trong ao để cá ăn (khoảng 200 m2 / 1 điểm) lượng thức ăn cho ăn từ 4 – 6% trọng lượng cá / ngày đối với thức ăn khô, 8-12% đối với thức ăn ướt, được điều chỉnh theo mức tiêu thụ của cá.

Hình thức nuôi cá trê tốt là nuôi gà vịt là chuồng gà đặt trên bờ hoặc bờ ao, phân gà (5 – 10%), phân gà là thức ăn tốt cho cá. Gà khoảng 2,5 kg nuôi được 1m2 ao. Trên mặt ao thả bèo cái giống mới vào 1/2 diện tích mặt ao để hút chất bẩn, cung cấp thức ăn cho vật nuôi. Nếu có thể, bên cạnh có một ao khác để tận dụng nước thải từ ao nuôi cá tra để nuôi các loài khác như mè, rô phi. Những loài cá này được dùng làm thức ăn cho người, cá da trơn hoặc các loại gia súc khác.

4. Chăm sóc:

Mặc dù cá trê lai có khả năng chống chịu với điều kiện môi trường xấu cao nhưng khi nước bị nhiễm bẩn thì có màu đen, có mùi hôi, phải thay nước mới. Vào mùa hè, chống nóng cho cá bằng cách để nước sâu trên 1m, thả bèo nổi trên mặt nước. Về mùa đông, cần chống rét cho cá bằng cách để nước sâu trên 1,5m, khuất gió, phủ bèo tấm che mặt ao,… Khi cá mới thả cần chú ý diệt trừ độc hại. các loài săn mồi như bói cá, rắn nước,… Nếu trong ao có cá quá lớn cần tỉa bớt để tránh tranh giành, ăn thịt lẫn nhau. Có các biện pháp tích cực để ngăn chặn cá xâm nhập trong mùa mưa bão như cột, cống an toàn, ngăn chặn nạn đánh bắt trộm cá.

5. Thu hoạch:

Thu hoạch bằng câu, thả ống, chài, thu tất cả bằng tát ao. Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, khi thu hoạch có thể đạt kích thước:

Nuôi 3-4 tháng đạt cỡ 200-300 g / con

Nuôi 5-6 tháng đạt cỡ 400-500 g / con

Nuôi 8-10 tháng đạt cỡ 600-800 g / con

Tỷ lệ sống từ 70 đến 80%.
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÒNG NGỪA MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP

1. Bệnh da nhầy:

* Triệu chứng: Cá con thường bơi thẳng đứng trên mặt nước, mang màu tím, vây bị ăn mòn, râu cong, có mảng nhầy trên da, đôi khi có cá bơi mất thăng bằng, vặn mình, cá chết. loạt.

* Tác nhân gây bệnh: Do ký sinh trùng như: Trichodina glossatella, Epistylis, v.v … trong đó giun đũa là nguy hiểm nhất.

* Trị bệnh: Dùng sunfat đồng (phèn xanh) CuSO4 nồng độ 0,3-0,4 ppm (1ppm = 1 / 1.000.000), tắm 20-30 phút, tắm 2-3 ngày. Khi thấy cá nổi nhiều trên mặt nước thì ngừng tắm ngay, cho vào thau nước sạch.

2. Bệnh trắng da, khoang cơ thể:

* Triệu chứng: Cá con thường nổi trên mặt nước, bơi chậm, trên thân có các vệt, mảng trắng, da bị loét, vây chết. Cá chết đứng thẳng, chết rất nhanh dưới đáy bể.

Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Flezibacter columnaris. Vi khuẩn tiết ra chất độc phá hủy da, mang, cản trở hô hấp làm cá chết rất nhanh.

* Trị bệnh: Có thể dùng các loại thuốc kháng sinh như Chloroxide, Tetracylin hoặc Ampicillin để tắm cho cá với liều lượng 1 viên 250mg / 10 lít trong 30 phút.

3. Bệnh sâu vẽ bùa, bệnh đốm trắng:

* Triệu chứng: Có những chấm trắng nhỏ trên da, gốc vây, ngực, to bằng đầu đinh ghim. Cá bơi thành đàn trên mặt nước, mép của thiết bị nuôi. Khi bị nặng, da cá bong ra từng mảng. Bệnh dễ lây lan, chết hàng loạt, rất nhanh trong 2-3 ngày.

* Nguồn bệnh: Do động vật nguyên sinh Ichthyophirius mulrifilis gây ra. Có 2 giai đoạn phát triển:

– Giai đoạn 1: Ký sinh trùng khu trú thành nang dưới da (đốm trắng) không có cách điều trị.

– Giai đoạn 2: Nang vỡ, ấu trùng bơi trong nước tìm vật chủ trong vòng 24 giờ, giai đoạn này cá chết hàng loạt.

* Điều trị: Bệnh khó chữa. Có thể sử dụng hai cách:

Cách 1: Ngâm cá trong dung dịch Vemalachit 0,005ppm. Độ pH trong nước tăng lên 9 với nước vôi trong, giữ nhiệt độ nước ở 28-29oC. Mỗi ngày thay nước 1 lần, giữ liên tục trong 8 ngày.

– Cách 2: Ngâm cá trong nước có pha Formalin CH3COOH hàm lượng 25ppm, ở nhiệt độ nước 28-29oC trong 8 ngày.

4. Bệnh sán lá đơn chủ 16 móc:

* Triệu chứng: Cá bệnh có màu đen, đầu to, đuôi nhỏ, mang sưng to, có thể thấy những sợi nhỏ, màu trắng, dài 0,5-1,0mm bám vào da, vây, râu của cá. Cá bơi xung quanh, chậm rãi, hoặc đứng thẳng trên mặt nước hoặc dựa vào tường của một dụng cụ.

* Nguồn bệnh: Do một loại sán ký chủ có 16 móc Dactylogyrus gây ra. Chúng khiến cá yếu bị chết và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây bệnh khác xâm nhập.

* Trị bệnh: Tắm cá trong nước muối 30/00 trong 3-5 phút, hoặc phun trực tiếp Dipterex 0,25-0,5 ppm trong 1-2 ngày.

Trong thời gian điều trị các bệnh trên, cần cho cá ăn thức ăn tươi ngon, chất lượng, lúc đầu bằng 1/2 mức thức ăn bình thường, sau đó tăng dần theo sự phục hồi của cá.

5. Phòng trị bệnh cho cá trưởng thành:

Cá tra càng lớn thì khả năng chống chịu bệnh tật càng cao. Tuy nhiên, nếu điều kiện nuôi quá xấu như nước quá bẩn, thức ăn ôi thiu, kém chất lượng sẽ phát sinh một số bệnh:

5.1. Các bệnh do ký sinh trùng:

* Triệu chứng: Trên da có nhiều chất nhờn, lở loét, vây thối rữa, trên lưng có đốm trắng, cá có màu đen hơn bình thường, ngáp, đứng trên mặt nước hoặc vặn mình.

* Tác nhân gây bệnh: Do ký sinh trùng như: Giun đũa, Costia, v.v.

* Trị bệnh: Dùng CuSO4 với liều lượng 0,3-0,5 ppm phun trực tiếp xuống ao trong 2-3 ngày phun đều khắp mặt ao.

5.2. Các bệnh do vi khuẩn:

* Triệu chứng: Trên thân xuất hiện các vết loét, vây bị thối, bụng cá sưng to, phù nề, ứ máu, da có nhiều chất nhờn, cá chết nhanh.

* Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Aeromonas sp, Flexibacter sp,… gây ra.

* Trị bệnh: Thay nước 2 ngày / lần, bón vôi 120-200 kg / ha, trộn Tetracilin, chloroxide hoặc Ganidan vào thức ăn với liều lượng 0,3-0,5 g / kg thức ăn.

Xem thêm:  Soạn bài nghĩa của câu (tiếp theo) (ngắn gọn)

Theo nongnghiep.farmvina.com

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “NT-Nuôi cá trê lai thành công nhanh chóng❤️️”. Hy vọng qua bài viết “NT-Nuôi cá trê lai thành công nhanh chóng” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “NT-Nuôi cá trê lai thành công nhanh chóng [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “NT-Nuôi cá trê lai thành công nhanh chóng” được đăng bởi vào ngày 2022-06-03 01:55:26. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button