Nguồn gốc, ý nghĩa “Đàng Trong” và “Đàng Ngoài”

Niên đại là năm 1600, đánh dấu việc Nguyễn Hoàng thoát khỏi sự kìm kẹp của Trịnh Tùng. Cụ thể hơn, có từ năm 1600, Nguyễn Hoàng quyết định ra Bắc, đặt Thuận – Quảng vào thế biệt lập với Thăng Long.

Sau sự kiện Tết Đoan ngọ 1600, trong tiếng địa phương xuất hiện thêm một tên gọi mới, đặc biệt là vùng Bắc Bố Chính, đó là Đàng Ngoài và Đàng Trong. Bàn về sự xuất hiện của hai địa danh Đàng Ngoài và Đàng Trong, có nhiều ý kiến ​​khác nhau.

Nguồn gốc của sự phân chia giữa miền Trong và miền Ngoài

Nguồn gốc của sự phân chia giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài bắt nguồn từ cuộc chiến tranh Nam Bắc. Trong cuộc khôi phục nhà Lê nảy sinh ở Thanh Hóa, sau khi Nguyễn Kim bị ám sát, Trịnh Kiểm được vua Lê lên nắm quyền, ông tìm cách loại bỏ phe Nguyễn Kim. Con trai đầu của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông bị sát hại, con thứ là Nguyễn Hoàng, theo đề nghị của Nguyễn Bỉnh Khiêm và sự giúp đỡ của bà, vợ là Trịnh Kiểm, cùng anh em, họ hàng Tống Sơn và các quan cũ của Nguyễn Kim xin được vào phủ. trấn Thuận Hóa (1558) rồi đánh chiếm đất Quảng Nam (1570).

Xem thêm:  Giá rau càng cua hôm nay bao nhiêu 1kg 2021? Mua ở đâu rẻ?

Từ đó về sau, con cháu họ Nguyễn thực hiện việc giữ tước tước do vua Lê ban cho Nguyễn Hoàng và trên danh nghĩa vẫn là vua Lê, nhưng thực chất là cai trị hoàn toàn vùng Thuận-Quảng, dân gian gọi là chúa Nguyễn. Một mặt, các chúa Nguyễn cho xây dựng hệ thống thành lũy kiên cố như Trường Dục, Nhật Lệ (lũy Thầy), Trường Sa, Trấn Ninh, thành Sa Phù để tăng sức phòng thủ và đẩy lùi các cuộc tấn công. của quân Trịnh, mặt khác, từng bước mở rộng lãnh thổ về phía nam đến đồng bằng sông Cửu Long. Trong gần nửa thế kỷ từ 1627 đến 1672, hai bên đánh nhau 7 lần không có kết quả, nhân dân quá đau khổ, điêu đứng, họ Trịnh và họ Nguyễn phải ngưng chiến, lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt lãnh thổ. Nam sông Gianh thời chúa Nguyễn gọi là Đàng Trong hay Nam Hà.

Bạn đang xem: Nguồn gốc và ý nghĩa của từ “Bên trong” và “Bên ngoài”

Đàng Trong (ảnh wikipedia)

“Chữ Đăng” trong danh từ “Bên ngoài và Bên trong” có nghĩa là gì?

Trong cuốn Từ điển An Nam – Lusitan – Latinh (thường gọi là Từ điển Việt – Bồ Đào Nha, NXB Khoa học xã hội, năm 1991 của A. de Rhodes (do Thanh Lãng – Hoàng Xuân Việt – Đỗ Quang Chính dịch), Đàng Ngoài là “bốn tỉnh xung quanh kinh đô Đông Kinh ”, Đàng Trong là“ các tỉnh còn lại từ quốc gia (sic) Đông Kinh đến vương quốc Chămpa ”.

Nhiều từ mang nguyên âm “ă” trong tiếng Việt hiện đại, thế kỷ XVII vẫn còn nguyên âm “a”, nên trong từ điển của De Rhodes đã ghi: có chang (may), chong (no), chat (may be). ) chặt tay),… Do đó, trong từ điển trên có những cách nhưng chưa có.

Trong Từ điển tiếng Việt (2000), Hoàng Phê (chủ biên) đã ghi nhận Đàng và Đàng là hai dạng của một từ. Đăng có hai nghĩa (trong bốn nghĩa) liên quan đến chữ Đăng (Bên trong, Bên ngoài):

  1. Nơi này, đối lập với nơi khác: Ngồi ở mũi tàu, không phải ở vị trí cầm lái.
  2. (tiếng lóng) Mặt của một người hoặc nhiều người, đối lập với người khác; bên: bên nhà gái; họ hàng bên ngoại.

Trong cuốn Cochinchina (NXB Tiền, 1999, trang 16–17) của Li Tana (Nguyễn Nghi dịch), Đàng Trong được dịch là “vùng trong”. Dịch “Tang” là “vùng” cũng tạm được nhưng không đúng nghĩa.

Tóm lại, Đàng trong danh từ Đàng Trong và Đàng Ngoài đều có nghĩa là “bên”, mang những nghĩa trái ngược nhau. Ngày qua là ngày nay.

(PGS.TS Lê Trung Hoa)

Địa danh Đàng Ngoài – Đàng Trong và thời điểm xuất hiện

Sau năm 1600, khi ba đồn ở Bắc Bố Chính được thành lập, cuộc sống địa phương trở nên nhộn nhịp. Một phần vì những người lính trong đồn có nhu cầu cuộc sống, một phần người dân gần đó muốn được thông thương với những người lính đóng trong ba đồn. Đó là lý do tại sao có một thị trường [gia binh] nhóm gần pháo đài Phan Long. Lúc đầu tên chợ còn là tên đồn, chợ Phan Long. Sau này, chợ được đổi tên là chợ Ba Đồn. Có lẽ do quân lính cùng vợ con ở các đồn Xuân Kiều, Trung Ái tập trung về chợ Phan Long ngày càng đông đúc nên có tên chung là chợ Ba Đồn. [chợ chung cho cả ba cái đồn]. Chợ Ba Đồn từ khi ra đời, đến nay đã tồn tại và trở thành một thị trấn lớn, nơi đặt huyện lỵ của huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày nay.

Do hoàn cảnh lịch sử, người dân địa phương cả phía Bắc Đèo Ngang và phía Nam Đèo Ngang có dịp gặp gỡ, mua bán, trao đổi hàng hóa địa phương tại phiên chợ, cứ 10 ngày họp một lần. vào các ngày 6, 16, 26 âm lịch hàng tháng.

Gặp nhau ở chợ mới biết mặt nhau, biết mặt nhau, biết quê nhau. Từ tình huống như vậy, rất dễ sinh ra một cái tên đặc biệt để phân biệt giữa người trong cuộc và người ngoài cuộc. Vì vậy, địa danh Đàng Trong – Đàng Ngoài, theo chúng tôi xuất hiện sau năm 1600. Nơi xuất hiện là vùng Bắc Bố Chính. Cơ hội xuất hiện là vào các phiên chợ ở Ba Đồn. Nhóm sử dụng đầu tiên có thể là người dân vùng Sông Gianh – Đèo Ngang, vì làn điệu dân ca đầu tiên sử dụng tên Đàng Ngoài mang phương ngữ đậm đặc của vùng Bắc Bố Chính.

Bắc Bộ vốn đã khô khan lắm rồi.
Nhiều người con gái đẹp đến thăm chồng,
Gặp một cơn bão,
Con đường êm ả và nhiều gánh nặng,
Đèo Ngang chưa leo,
Chung [sợ] đá cheo leo,
Chân leo, chân trượt,
Khap [giáp mặt] Hỡi gáo nước
Cho [thấy] người chăn trâu,
Ba đồn binh ở đâu?

(Dân ca vùng Bắc Bộ Chính)

(Hoàng Đình Hiếu – nguyencuulichsu.com)

Nhưng tại sao từ “Trong” và từ “Bên ngoài”

style = “text-align: left;”>

“Không phải người xưa không biết phân biệt đông tây, vẽ bản đồ, chỉ khác là phương nam, phương chính, nằm ở trên có nghĩa là Con Trời ngồi ở phương bắc trông coi.” của và quy luật. Quan điểm đó đã thay đổi, chi tiết chính xác hơn, với kiến ​​thức mới, trong bản đồ ngay trong tâm trí trẻ, ví dụ ở bên phải sách giáo khoa Địa lý. Ở đó Chiêm Thành, Campuchia nằm ở phía nam Bắc Bộ, không phải ở hướng Tây. […] Và không thể coi từ Tây sang Nam chỉ là sự điều chỉnh danh từ. Trong tâm thức xưa, miền tây là chốn rừng thiêng nước độc, là sự e dè, sợ hãi. Sự phân biệt đầy định kiến ​​ấy đã len lỏi vào sự phân biệt giữa “trong” và “ngoài”: giữa núi rừng âm u và nơi đồng quê khoáng đạt. Tên gọi của hai xứ Nam Kỳ và Bắc Kỳ xuất phát từ thành kiến ​​đó. Vì vậy, quan niệm Nam tiến khi thay thế tư tưởng phương Tây giống như một cuộc giải phóng tâm trí lớn lao. Việc đi về hướng Tây rất khó khăn, gây ra sự sợ hãi và bối rối […] trong khi miền Nam được coi là một nhiệm vụ lịch sử, tự nhiên, suôn sẻ, đạo đức và không thể chối cãi.

(Tạ Chí Đại Trường)

Theo tác giả Roland Jacques (trong cuốn “Những người Bồ Đào Nha tiên phong trong lĩnh vực ngôn ngữ học Việt Nam”, NXB Khoa học xã hội, 2007), cách diễn giải của một linh mục dòng Tên (và cũng là nhà ngữ văn) học giả người Bồ Đào Nha Gaspar do Amaral (tài liệu xuất bản tại 1637) có nhiều luận cứ đáng tin cậy. Theo ông, sau khi nhà Mạc lên ngôi ở Thăng Long, việc khôi phục nhà Lê ngay lập tức được tiến hành. Năm 1545, nhà Lê (Trùng Hưng) củng cố và xây dựng thành lũy, tạo nên “mật khu” ở Thanh Hóa, Nghệ An. Sau đó, kinh đô Thăng Long bị mất, nhà Lê (Trung Hưng) rút về hậu cứ và kiên trì tìm cách lấy lại.

Mãi đến năm 1592, nhà Lê (Trung Hưng) mới lấy lại được đất từ ​​tay “kẻ ngược dòng” sau nhiều trận chiến. Chính thời kỳ này, người ta quen gọi vùng Thanh Hóa, Nghệ An là Đàng Trong (ngụ ý đất chính, đất riêng). Phần từ đó ra Bắc gọi là Đàng Ngoài. Cũng phải thôi, vì đối với các triều thần nhà Lê (Trung Hưng), dải Thanh – Nghệ kia mới xứng là “trái tim” của nước họ ”.

Vì vậy, theo thông tin mà cố linh mục Gaspar do Amaral cung cấp thì hai tên Đàng Trong và Đàng Ngoài ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XVI.

(An ninh thế giới)

Ngoài
Đàng Ngoài (hình Wikipedia)

“Tới Bắc vào Nam”

style = “text-align: left;”>

Trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi (đầu thời Lê), động từ nhập được dùng để chỉ việc tiến vào phương Nam: “Trần Thái Tôn sai tướng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải vào trấn thủ Nghệ An” (Vua Trần) Thái. Tôn lệnh cho Thượng tướng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải chặn quân Nguyên ở Nghệ An).

Trong Thiên Nam Tử Chi Lộ, một tác giả tự xưng là “một nhà Nho đỗ đạt thơ văn, họ Đỗ Bá, hiệu là Đạo Phú, sinh ở Bích Triều, Thanh Giang”, cũng có câu dùng XUẤT, NHẬP, QUỐC TẾ. . Về hướng Bắc Nam như thế này: – “Như chữ Lạc Việt, NHẬP, thu đông, xuất xuân hạ” (Nếu vượt biển từ Cửa Lặc để vào thì phải đi vào mùa thu hoặc đông, mới lấy được. ra ngoài, bạn phải đi vào mùa thu hoặc mùa đông. đi vào mùa xuân hoặc mùa hè). – “Tự cường xuất kinh nhà Hồ… Từ ngoài vào trong Tam đô tạp lục” (Từ NGOÀI đến thành nhà Hồ… Từ NGOÀI đến thành Tam Đô).

Hơn nữa, có nơi văn bản sử dụng cả chữ Hán với XUẤT và NHẬP và sử dụng câu Nôm với chữ RA và chữ IN để giải nghĩa nhau: – “Tú Câu Ngàn Nhập thuyền xanh Điện Thạch Hà biên, XUẤT là thuyền xanh. của Điền Thiên Lộc. biên ải, tục lệ vào THẠCH HÀ, bỏ THIÊN LỘC ”(Từ Câu Ngàn phải chèo thuyền dọc theo bên Thạch Hà, nhưng khi ra ngoài phải chèo thuyền dọc theo Thiên Lộc. bên, có câu tục ngữ rằng: VÀO THẠCH HÀ, RA THIÊN LỘC).

Sử liệu Việt Nam đưa ra để khẳng định rằng, chính cách nói VÀO NAM, NGOÀI BẮC đã dẫn đến cách gọi BÊN TRONG và NGOÀI RA, chứ không phải ngược lại.

Có lẽ trước hết phải có những câu nói cụ thể ở từng địa phương nhỏ, phản ánh đúng việc đi lại tùy theo địa hình từng vùng, rồi hình thành những câu nói tổng quát hơn như xuôi Đông về Đoài, Bắc vào Nam, chứ không phải trước hết có những công thức khái quát dựa trên quốc địa lý và sau đó áp dụng luật chung nhất cho từng vùng nhỏ.

Cách nói từ Nam chí Bắc đã có từ thời Nguyễn Trãi. Vì vậy, nó phải được sản xuất trên cơ sở những cách nói về du ký ở Việt Nam thời kỳ trước, tức là vào khoảng đầu thế kỷ XV. Vào thời điểm này, như sử liệu cho thấy, lãnh thổ mới của Việt Nam bao gồm vùng Bắc Bộ và dải đất từ ​​Thanh Hóa đến Thừa Thiên.

Đi vào chỗ hẹp, chỗ kín, chỗ bí, dùng hết vào, vào …, ra chỗ rộng, mở ra dùng, ra ngoài …, điều đó hoàn toàn không có gì mới mẻ đối với tôi. những cách diễn đạt quen thuộc như vào ngõ, vào cổng, vào hang, vào rừng / xuống biển, xuống ruộng, ra sân, ra bãi biển …

Nhưng do một sự tình cờ của địa lý, vùng biên giới chật hẹp, bí ẩn ở phía Nam, đồng bằng rộng mở ở phía Bắc, nên những cách ra vào nói trên là ngẫu nhiên. Tuy nhiên, mang một nét mới về nội dung: nói ở địa danh X có nghĩa là đi về phương Nam, so với đồng bằng Bắc Bộ; và nói một địa điểm Y là nói ra phía Bắc, so với các vùng Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên.

(Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn)

Nguồn: M & I

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Nguồn gốc, ý nghĩa “Đàng Trong” và “Đàng Ngoài”❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Nguồn gốc, ý nghĩa “Đàng Trong” và “Đàng Ngoài”” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Nguồn gốc, ý nghĩa “Đàng Trong” và “Đàng Ngoài” [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Nguồn gốc, ý nghĩa “Đàng Trong” và “Đàng Ngoài”” được đăng bởi vào ngày 2022-06-01 12:18:59. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button