Nghiên cứu xác định loại thức ăn phù hợp nuôi ốc nhồi (Pila polita) thương phẩm – Tạp chí Thủy sản Việt Nam

1. Đặt vấn đề
Ốc nhồi (Pila polita) được biết đến là loài động vật thân mềm đặc hữu của các thủy vực nước ngọt và nước nông. Trong 100 g ốc nhồi có 77,6 g nước; 11,9 g chất đạm; 7,6 g glucid; 0,7 g lipit; cung cấp khoảng 86 Kcal [4]. Ngoài ra, ốc nhồi còn rất giàu muối khoáng, đặc biệt là canxi, phốt pho (1.357 mg canxi, 191 mg phốt pho / 100 g ốc nhồi), các loại vitamin (0,05 mg Vitamin B1; 0,17 mg Vitamin B2; 2,2 mg Vitamin PP….)[6]. Vì vậy, ốc nhồi là một loại thực phẩm quý và bổ dưỡng. Lượng ốc hương khai thác trong tự nhiên rất ít, không đủ cung cấp cho thị trường. Để có cơ sở phát triển ốc nhồi thành đối tượng kinh tế đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, cần phải có những nghiên cứu về thức ăn. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xác định loại thức ăn thích hợp để nuôi ốc nhồi thương phẩm”.

2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu – Đối tượng nghiên cứu: Ốc nhồi cỡ 0,4 g / con (1 tháng tuổi). 2.2. Nội dung nghiên cứu – Đánh giá sinh trưởng của ốc khi sử dụng các loại thức ăn. – Đánh giá tỷ lệ sống của ốc khi sử dụng các loại thức ăn. 2.3. Bố trí thí nghiệm Thí nghiệm được chia thành 6 lô, tương ứng với các công thức thức ăn khác nhau, mỗi lô thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Các lô thí nghiệm được sắp xếp ngẫu nhiên. Ốc ở các ô thí nghiệm được nuôi với mật độ giống nhau 30 con / bể (40 x 40 x 60 cm). Cho ăn 2 lần / ngày, sáng (30%) và chiều tối (70%), xi phông 1 lần / ngày, trước khi cho ăn buổi sáng. Lượng thức ăn cho ăn ở mức gần với nhu cầu, khoảng 3 – 5% trọng lượng ốc. Khối lượng thức ăn hàng ngày trong mỗi ô thí nghiệm được ghi lại để phân tích. Điều kiện sinh thái và chăm sóc tương đương. Công thức thức ăn như sau: + Thức ăn 1: Cám gạo + TA 2: Cám công nghiệp + Thức ăn 3: Bèo cái + TA 4: (2/3 lượng thức ăn) vịt cái + (1/3 thức ăn) cám công nghiệp (Jumbo ) + TA 5: (2/3 lượng thức ăn) vịt mái + (1/3 lượng thức ăn) cám gạo + Tốc độ sinh trưởng của ốc được thể hiện qua các chỉ tiêu: chiều cao vỏ (mm)), chiều dài vỏ (mm), khối lượng tươi ( g).

3. Kết quả và thảo luận
3.1. Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng của ốc nhồi Chiều cao trung bình của bố trí thí nghiệm là 2,05 mm / con. Sau 120 ngày thí nghiệm, chiều cao trung bình của ốc đạt 37,1 mm / con. Các loại thức ăn khác nhau cho các chiều cao ốc khác nhau (bảng 3.1). Kết quả bảng 3.1 cho thấy, tốc độ tăng trưởng chiều cao tích lũy của ốc khi sử dụng thức ăn đơn thấp hơn so với khi ốc sử dụng thức ăn phối hợp, cụ thể: Chiều cao ốc lớn nhất là 42,27 mm. / cá khi ốc sử dụng TA4 (vịt cái + Jumbo), tiếp theo là ốc sử dụng TA5 (vịt cái + cám gạo) để có chiều cao tích lũy là 39,75 mm / con. Chiều cao tích lũy của ốc khi sử dụng thức ăn bèo cái và cám Jumbo tương đương nhau, lần lượt đạt 34,85 mm / con và 34,52 mm / con. Chiều cao tích lũy của ốc thấp nhất khi sử dụng thức ăn là cám gạo. Về sinh trưởng chiều cao tuyệt đối của ốc khi sử dụng TA1, TA2, TA3 là 0,27 mm / con / ngày, tăng trưởng chiều cao tuyệt đối khi sử dụng TA5 là 0,31 mm / con / ngày. Chỉ tiêu này cao nhất khi ốc sử dụng TA4 cho kết quả là 0,34 mm / con / ngày. Kết quả trong nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Đạt [3] Khi sử dụng các loại thức ăn khác nhau, tốc độ tăng trưởng chiều cao tuyệt đối của ốc là 0,033 – 0,043 cm / ngày. Tốc độ tăng trưởng chiều cao điển hình (SGR) là 2,34 – 2,52% / ngày. Trong đó TA4 đạt cao nhất (2,52% / ngày) và TA1 đạt thấp nhất (2,34% / ngày) về chiều cao. Kết quả bảng 3.2 cho thấy mức độ ảnh hưởng của các loại thức ăn đến chiều dài của ốc. Quan sát kết quả bảng 3.2 cho thấy chiều dài ốc lúc bắt đầu thả nuôi đạt 3,12 mm / con sau 4 tháng nuôi, chiều dài lũy kế 41,03 – 50,35 mm / con. Sự tăng trưởng tích lũy về chiều dài của ốc là khác nhau giữa các loại thức ăn. Tăng trưởng cộng dồn về chiều dài cao nhất khi sử dụng TA4 (50,35 mm / con), tiếp theo là TA5 (47,33 mm / con) và thấp nhất trong 3 khẩu phần còn lại là TA1, TA2, TA3. Chiều dài tăng trưởng cộng dồn tương tự nhau, lần lượt là 41,03 mm / con, 41,57 mm / con và 41,73 mm / con. Ốc sinh trưởng chiều dài tuyệt đối cao hơn ốc sinh trưởng chiều cao tuyệt đối, ốc sinh trưởng chiều dài tuyệt đối dao động trong khoảng 0,34 – 0,42 mm / ngày. Tăng trưởng chiều dài tuyệt đối của ốc thấp nhất khi sử dụng TA1, tiếp theo là TA2, TA3, TA5 và cao nhất khi sử dụng TA4. Tương tự như tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối của ốc,% / ngày tăng trưởng tương đối của ốc cũng cao nhất khi sử dụng TA4 (2,37% / ngày), tiếp theo là TA4 cho sinh trưởng tương đối tốt. 2,32% / ngày, thấp nhất TA3 (2,22% / ngày), TA2 (2,22% / ngày), TA1 (2,21% / ngày) Việc đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn đến trọng lượng của ốc là rất quan trọng, quyết định hiệu quả của nông nghiệp. Giống như tốc độ tăng trưởng chiều dài và chiều cao của ốc, tốc độ tăng trưởng khối lượng của ốc cũng cho kết quả tương tự về ảnh hưởng của các loại thức ăn, được thể hiện trong bảng 3.3. Qua kết quả ở bảng 3.3 cho thấy khối lượng ốc lúc thả nuôi đạt 0,37 g / con, sau 4 tháng nuôi trọng lượng ốc đạt bình quân 24,76 g / con. Tăng trưởng cộng dồn về trọng lượng của ốc cao nhất khi sử dụng TA4 (31,15 g / con), tiếp theo là TA5 cho tăng trưởng cộng dồn 26,87 g / con, thấp nhất là tăng trưởng cộng dồn. sự tích tụ của ốc khi ốc sử dụng TA1, TA2, TA3. Sinh trưởng tuyệt đối của ốc g / ngày cao nhất khi sử dụng TA4 là 0,26 g / ngày, tiếp theo là 0,22 g / ngày khi ốc sử dụng TA5, thấp nhất là 0,18 g / ngày khi sử dụng TA. sử dụng TA1, TA2, TA3. Kết quả nghiên cứu sinh trưởng trọng lượng tuyệt đối của ốc cũng giống với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Đạt khi nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ đến sinh trưởng tuyệt đối của ốc. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Đạt, sinh trưởng tuyệt đối của ốc cũng là 0,19 – 0,26 g / con / ngày. [3]. Sau 120 ngày nuôi, ốc ăn TA4 cho tỷ lệ sống tương đương với ốc ăn TA3, TA5 lần lượt là 75,56%, 72,22% và 72,22%; tiếp theo là tỷ lệ sống của ốc được nuôi bằng TA2 (68,89%) thấp hơn so với ốc được nuôi bằng TA4 nhưng không có sự khác biệt với tỷ lệ sống của ốc được nuôi bằng TA3, TA5, tỷ lệ sống của ốc đạt mức thấp nhất là 65,55% khi cho ăn TA1. Tỷ lệ thịt ốc ở các nghiệm thức nuôi được thể hiện trong bảng 3.4. Tỷ lệ thịt ốc ở các nghiệm thức nuôi dao động từ 57,96 – 70,63%. Kết quả khảo nghiệm sau 120 ngày nuôi cho thấy, ốc nuôi bằng TA4 cho tỷ lệ thịt ốc cao nhất (70,63%), ốc thịt thấp nhất khi nuôi bằng TA3 đạt 57,96%. Do thí nghiệm được tiến hành với quy mô nhỏ nên hạch toán kinh tế không hạch toán hết được nhân công, khấu hao cơ sở vật chất, tạm tính lãi trên 1 kg ốc thương phẩm thông qua giá bán thương phẩm và đầu tư. thức ăn, hạt giống. Qua bảng 3.5 cho thấy nuôi ốc hương bằng TA4 cho hiệu quả kinh tế cao nhất, thu lãi 31.500 đồng / kg ốc, tiếp đến là TA5 cho lãi 24.700 đồng / kg ốc, TA3 cho lãi 13.800 đồng / kg ốc, TA1 và TA2 cho lãi 3.000. Lần lượt là đồng / kg và 4.000 đồng / kg. Như vậy có thể thấy khi nuôi ốc hương sử dụng kết hợp bèo tấm với cám công nghiệp hoặc cám gạo (TA4, TA5) cho hiệu quả cao hơn nhiều so với sử dụng thức ăn đơn lẻ, đặc biệt là thức ăn chăn nuôi. đơn giản là các loại cám. Sử dụng một loại thức ăn duy nhất là bèo tấm cho lợi nhuận tương đối cao vì khi sử dụng loại thức ăn này, người chăn nuôi không mất ít tiền đầu tư vào thức ăn. 3.2. Kết luận – Kết hợp bèo tấm và cám Jumbo cho chỉ tiêu sinh trưởng của ốc cao nhất, tăng trưởng tích lũy về khối lượng 31,15 g / con, chiều dài tăng trưởng 50,35 mm / con và chiều cao 42,27 mm / con… – Thức ăn kết hợp bèo tấm và lúa cám cho ốc sinh trưởng đứng thứ hai với khối lượng tăng trưởng 26,87 g / con, chiều dài tăng trưởng 47,33 mm / con, chiều cao tăng trưởng 39,75 mm / con. – Thức ăn đơn cám gạo, cám công nghiệp và bèo tấm cho thông số sinh trưởng của ốc thấp nhất. – Tỷ lệ sống của ốc nhồi TA4, TA3, TA5 tương ứng là 75,56%, 72,22% và 72,22%; Tỷ lệ sống của ốc thấp nhất là 65,55% khi được nuôi bằng TA1. – Tỷ lệ thịt ốc nuôi bằng TA4 cho tỷ lệ thịt cao nhất (70,63%), ốc thịt thấp nhất khi nuôi bằng TA3 đạt 57,96%. – Nuôi ốc hương bằng TA4 cho hiệu quả kinh tế cao nhất, lãi 31.500 đồng / kg ốc, tiếp theo là TA5 cho lãi 24.700 đồng / kg ốc, TA3 cho lãi 13.800 đồng / kg ốc, TA1 và TA2 lần lượt cho lãi. 3.000 đồng / kg và 4.000 đồng / kg…
NGƯỜI GIỚI THIỆU
Tài liệu trong nước 1. Thái Trần Bái, Nguyễn Văn Khang, 1998. Động vật không xương sống. NXB Giáo dục, tr 170-208. 2. Võ Xuân Chữ, 2011. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khảo nghiệm sinh sản của ốc nhồi Pila polita tại Đắk Lắk. Luận văn thạc sỹ. Đại học Tây Nguyên, 66 tr. 3. Nguyễn Thị Đạt, 2010. Ảnh hưởng của mật độ và một số loại thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc nhồi (Pila polita Deshayes, 1830) trong nuôi thương phẩm. Luận văn thạc sỹ. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. 4. Đặng Ngọc Thanh và Trương Quang Học (2001) Hướng dẫn thực tập Động vật không xương sống. NXB Giáo dục 5. http://vietbao.vn/Khoa-hoc/Da-co-mot-the-he-oc-buou-vang-lai/40011565/188/ Tài liệu nước ngoài 6. Burch JB, Upatham ES 1989. Động vật thân mềm quan trọng về mặt y học của Thái Lan. J Med ppl Malacol; Proc. Dự án Đảo Kuril Quốc tế (IKIP), PP: 1 ÷ 9. 7. Dillon RT (2000), Hệ sinh thái của động vật thân mềm nước ngọt. Cambridge, Vương quốc Anh: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 509 trang.

Xem thêm:  What is Decred (DCR)? Things to know about the latest DCR coin 2020

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Nghiên cứu xác định loại thức ăn phù hợp nuôi ốc nhồi (Pila polita) thương phẩm – Tạp chí Thủy sản Việt Nam❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Nghiên cứu xác định loại thức ăn phù hợp nuôi ốc nhồi (Pila polita) thương phẩm – Tạp chí Thủy sản Việt Nam” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Nghiên cứu xác định loại thức ăn phù hợp nuôi ốc nhồi (Pila polita) thương phẩm – Tạp chí Thủy sản Việt Nam [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Nghiên cứu xác định loại thức ăn phù hợp nuôi ốc nhồi (Pila polita) thương phẩm – Tạp chí Thủy sản Việt Nam” được đăng bởi vào ngày 2022-06-04 01:25:30. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button