Nghiên cứu nuôi cá chiên trong ao nước chảy và lồng trên sông

Cá chiên là loại thủy sản quý hiếm, có giá trị kinh tế cao, được nuôi theo hình thức ao chảy, lồng bè trên sông. Việc nghiên cứu các phương thức canh tác này giúp người dân có kiến ​​thức, kinh nghiệm sản xuất, tạo ra hiệu quả canh tác cao.
1. Sự cần thiết
Cá chiên (Bagarius rutilus – Ng và Kottelat, 2000) là loài bản địa quý hiếm, cá sống ở vùng nước chảy, phân bố từ Ấn Độ qua Mianma, Thái Lan, Bắc Việt Nam, Indonesia. Ở nước ta, cá thường xuất hiện ở các sông suối trung và thượng lưu sông Lô, sông Gâm, sông Hồng, sông Đà. Cá có kích thước lớn, thịt thơm ngon, được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Hiện nay, nguồn lợi cá chiên đang bị khai thác quá mức và có nguy cơ bị tuyệt chủng, theo Sách Đỏ Việt Nam xếp cá chiên ở mức 2 (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 2000). Nhiều người dân vùng Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái đã nuôi cá lồng bè vì nghề sông nước lâu đời đã cho họ nhiều kinh nghiệm chăm sóc cá nuôi. Nguồn cá giống nuôi được đánh bắt từ tự nhiên nên càng làm cho nguồn cá giống tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Việc nghiên cứu “Công nghệ nuôi thương phẩm cá chiên trong ao nước chảy và lồng sông” sẽ góp phần hoàn thiện nghiên cứu về vòng đời của cá chiên và xây dựng quy trình nuôi cá bài bản.
2. Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện trên cá bột. Cá giống được sản xuất tại Trung tâm Giống thủy sản nước ngọt miền Bắc (Thạch Khôi, TP Hải Dương) trong khuôn khổ dự án: “Khai thác và phát triển nguồn gen cá chiên Bagarius rutilus – Ng & Kottelat, 2000”. .
Phương pháp thiết lập thử nghiệm
Nuôi cá chiên trong ao nước chảy với mật độ khác nhau
Thí nghiệm được bố trí trong 3 ao, mỗi ao có diện tích 900 m2, dùng lưới chia mỗi ao thành 3 ngăn. Thí nghiệm mật độ nuôi được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần nhắc lại. Sử dụng 2.400 cá bột lớn cỡ 30 – 50 g / con để bố trí thử nghiệm.
Công thức thực nghiệm
+ Công thức 1: 0,7 con / m2 (210 con / ô) + Công thức 2: 0,9 con / m2 (270 con / ô) + Công thức 3: 1 con / m2 (300 con / ô) – Chế độ chăm sóc, quản lý: Các ao nuôi áp dụng cùng một chế độ chăm sóc. – Thức ăn: Dùng cá trê hoặc cá tạp băm nhỏ vừa miệng cá. Cá cỡ 50 – 150 g / con, cho ăn 2 lần / ngày, thức ăn chiếm 5 – 7% thể trọng. Khi cá> 150 g / con, cho ăn 1 lần / ngày vào buổi chiều, lượng thức ăn chiếm 3 – 4% khối lượng cơ thể. Hàng ngày kiểm tra khay cho ăn, hàng tháng kiểm tra độ tăng trọng của cá để điều chỉnh thức ăn, bố trí máy phun cung cấp ôxy. Làm sạch sàng cho ăn và ngăn lưới.
Nuôi cá chiên lồng trên sông với các mật độ khác nhau
Thí nghiệm tại Phú Thọ và Hải Dương, mỗi thí nghiệm sử dụng mật độ 3 ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Số lượng cá sử dụng 3.460 con (30 – 50 g / con).
Công thức mật độ
Phú Thọ: Lồng 20 m3 – Công thức 1: 7 con / m3 (140 con / lồng) – Công thức 2: 9 con / m3 (180 con / lồng) – Công thức 3: 10 con / m3 (200 con / lồng) Hải Đường: Lồng 25 m3 – Công thức 1: 7 con / m3 (175 con / lồng) – Công thức 2: 9 con / m3 (225 con / lồng) – Công thức 3: 10 con / m3 (200 con / lồng) + / Chế độ chăm sóc: Giống nhau. – Thức ăn: cá tươi xay nhỏ thích hợp cho cá + Cá 50 – 150 g / con cho ăn 2 lần / ngày với khẩu phần bằng 5 – 7% khối lượng cá. + Cá> 150 g / con cho ăn 1 lần / ngày. Chế độ ăn cho 3-4% trọng lượng cơ thể. Hàng ngày, hàng tháng kiểm tra khay ăn và tăng trọng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp, vệ sinh khay ăn, lồng nuôi.
Tiêu chí theo dõi
– Tăng trọng của cá WG (tăng trọng) WG (gam) = W2 – W1 (W2 và W1 là trọng lượng cá sau và trước khi thả) – Chiều dài cá tăng LG (tăng chiều dài) LG = L2 – L1 (L2 và L1 là chiều dài cá sau và trước khi thả nuôi) – Tăng trưởng trung bình hàng ngày (ADG) ADG (gam / con / ngày) = (W2 – W1) / Số ngày nuôi – Tỷ lệ sống TLS (%) = Số cá còn lại khi thu hoạch / số lượng cá khi thả. – Năng suất cá nuôi

Xem thêm:  Quy định mới về hợp đồng giáo viên

2.3. Phương pháp xử lý dữ liệu
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Excel, phân tích bằng hệ số Anova 1 và xác định sự khác biệt giữa các công thức thực nghiệm.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Nuôi cá chiên lồng trên sông
Kết quả nuôi cá chiên lồng ở Phú Thọ
Sau 18 tháng thử nghiệm nuôi thương phẩm cá chiên lồng trên sông cho kết quả khả quan, số liệu được tổng hợp trong bảng 3.1. Kết quả bảng 3.1 cho thấy chiều dài và trọng lượng của cá giảm dần khi mật độ nuôi tăng. Trọng lượng bình quân thu hoạch ở mật độ 3 thấp nhất là 1,36 kg / con, cao nhất ở mật độ 1 là 1,48 kg / con và đến mật độ 2 đạt 1,38 kg / con. Như vậy, nuôi cá chiên lồng sông ở các mật độ khác nhau có sự khác biệt về khối lượng cá cuối chu kỳ nuôi, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05). Tỷ lệ sống của cá sau 18 tháng nuôi ở mật độ 1 cho kết quả cao nhất (85%) và thấp nhất ở mật độ 3 (73%).
Kết quả nuôi cá chiên lồng ở Hải Dương
Cá chiên được thử nghiệm thương phẩm trong lồng sông ở Hải Dương với kích cỡ thả 17,4 cm / con, trọng lượng 40-43 g / con. Kết quả nuôi cấy được trình bày trong Bảng 3.2. Sau 14 tháng nuôi, Bảng 3.2 cho thấy mật độ nuôi tăng lên làm giảm chiều dài và tăng trọng của cá. Trọng lượng cá thu hoạch cao nhất ở nghiệm thức 1 là 1,04 kg / con, nghiệm thức 2 đạt 0,97 kg / con và nghiệm thức 3 là 0,93 kg / con. Tỷ lệ sống cao nhất ở nghiệm thức 1 là 81,0% và thấp nhất ở nghiệm thức 3 là 72,5%.
Năng suất và hiệu quả kinh tế
Kết quả bảng 3.3 cho thấy, nuôi cá chiên cho hiệu quả kinh tế cao. Tại Phú Thọ, sau 18 tháng thả nuôi đã cho hiệu quả kinh tế cao nhất ở mật độ 1 (lãi 29,8 triệu / lồng 20 m3). Sau đó 14 tháng nuôi đạt kết quả cao nhất ở mật độ 1 (lãi 23,13 triệu / lồng 25 m3). So với tháng nuôi thứ 14 ở Phú Thọ, kết quả nuôi cá chiên lồng trên sông ở Hải Dương thấp hơn. Điều này có thể lý giải là do cá chiên là loài cá bản địa nên thích nghi với môi trường sinh thái, với các yếu tố sinh lý, hóa học… tốt hơn so với môi trường nuôi mới.

Xem thêm:  Vua là người như thế nào ?

Kết quả nuôi cá chiên trong ao chảy ở Hà Giang
Khối lượng thu hoạch trung bình của cá thấp nhất ở mật độ 3 là 1,08 kg / con và cao nhất ở mật độ 1 là 1,29 kg / con (Bảng 3.4). Tỷ lệ sống của cá nuôi ở mật độ 1 cao nhất 83,3% và thấp nhất 77%. ở mật độ 3. Nguyên nhân do nuôi cá chiên lồng trên sông, loài cá này có vây ngực cứng và răng sắc nhọn. Khi nuôi với mật độ dày, nếu thức ăn không đủ hoặc phân bố không đều trong ao, cá sẽ tranh giành thức ăn, xây xát, cắn nhau gây thương tích, tạo điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát triển, tỷ lệ sống thấp. Mặc dù mùa đông 2013-2014 trời rét, nhiệt độ lên xuống thất thường, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá nhưng so với một số loài cá nuôi khác, cá chiên chịu lạnh tốt hơn.
Năng suất và hiệu quả kinh tế của nuôi cá chiên trong ao nước chảy
Sau 18 tháng nuôi, đánh giá kinh tế sơ bộ ở cả 3 mật độ thả để xác định mật độ nuôi phù hợp nhất. Kết quả được thể hiện chi tiết trong Bảng 3.5. Ao 300 m2 cho lãi cao nhất ở mật độ 1 là 37,5 triệu đồng / ao, tiếp theo là mật độ 2 và 3 lần lượt là 32,3 và 30,6 triệu đồng / ao. Như vậy có thể khẳng định cá chiên phát triển tốt trong ao có nước chảy, mật độ 0,7 con / m2 là phù hợp và có khả năng sinh sôi.
3.2. Bệnh cá và cách phòng tránh
Kết quả phân tích cho thấy, cá chiên được nuôi ở cả ao và lồng bè chủ yếu bị nhiễm các loại ký sinh trùng như giun dưa, giun đũa, bệnh do vi khuẩn Pseudomonas, Aeromonas và Steptococcus, trong đó tỷ lệ cá nhiễm bệnh trên dưa. cao (đạt 47,8% khi cá còn nhỏ), không phát hiện nấm, vi khuẩn gây bệnh cho cá thương phẩm.
Làm thế nào để ngăn chặn?
Xử lý bệnh thối quả dưa bằng formalin (7 – 12 ppm); tắm trong 10-15 phút, tắm liên tục trong 5 ngày. Cá bị lở loét ở gốc vây và quanh miệng có thể dùng kháng sinh Frifampicin trộn vào thức ăn (450 mg / kg cá mồi), cho ăn liên tục 7 ngày. Để trị giun đũa, dùng CuSO4 hoặc Formalin (3 – 5 ppm) tắm cho cá 10 – 15 phút / lần / 2 ngày hoặc phun xuống ao với liều lượng 0,5 – 0,7 g / m3 nước.
4. Kết luận
– Cá chiên tăng trưởng bình quân sau 18 tháng nuôi trong lồng bè trên sông với mật độ 7 – 10 con / m3, trọng lượng> 1 kg / con, trọng lượng cá cao nhất khi nuôi tại Phú Thọ ở mật độ 7 con. / m3 là 1,48 kg / con. – Cá nuôi trong ao đạt sinh trưởng tốt nhất (1,29 kg) ở mật độ 0,7 con / m2, khi tăng mật độ giảm sinh trưởng. – Nuôi cá lồng trên sông cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn nuôi trong ao. – Cá chiên khi còn nhỏ dễ bị bệnh ký sinh trùng (sâu dưa), khi lớn bị lở loét do vi khuẩn. Ký sinh trùng có thể được điều trị bằng formalin và vi khuẩn bằng rifampicin. Theo Võ Văn Bình, Nguyễn Mai Hương, Đặng Văn Hoan, Mai Văn Nguyên, Nguyễn Anh Hiếu – NBC, Viện Nghiên cứu Thủy sản Việt Nam

Xem thêm:  Cách sử dụng Voila AI Artist dễ nhất

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Nghiên cứu nuôi cá chiên trong ao nước chảy và lồng trên sông❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Nghiên cứu nuôi cá chiên trong ao nước chảy và lồng trên sông” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Nghiên cứu nuôi cá chiên trong ao nước chảy và lồng trên sông [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Nghiên cứu nuôi cá chiên trong ao nước chảy và lồng trên sông” được đăng bởi vào ngày 2022-06-03 22:00:20. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button