lý thuyết đến thực tiễn

Các trang trại nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú trong ao nước ngọt thường chỉ thành công trong 2-3 vụ đầu tiên. Những ao nuôi tiếp theo của những ao tôm này thường gặp phải những vấn đề nghiêm trọng như bệnh mềm vỏ, bệnh xanh vỏ, kích cỡ tôm không đồng đều hoặc tôm chết kéo dài trong suốt thời gian nuôi. Vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng này? Đầu tiên cần phải hiểu bản chất của môi trường nước ngọt. Qua bảng số liệu dưới đây ta thấy so với nước mặn, môi trường nước ngọt rất nghèo chất khoáng.
Bảng 1: So sánh thành phần một số chất chính trong nước mặn và nước ngọt (Claude E.Boyd, 2000)

Thành phần Nước biển (mg / l) Nước ngọt (mg / l)
Clorua (Cl) Natri (Na) Sunfat (SO42-) Magie (Mg) Canxi (Ca) Kali (K) Bicacbonat (HCO3) Brom (Br) Stronti (Sr) Silicat (SiO2) Bo (Bo)

19000 10500 2700 1350 400 380 142 65 8,0 6,4 4,6

7,8 6,3 11,2 4,1 15 2,3 58,4 0,02 0,1 13,1 0,1

Tôm cần khoáng để tăng trưởng và phát triển, chúng có thể hấp thụ khoáng qua thức ăn và môi trường nước. Trong một số vụ nuôi đầu tiên trong ao nước ngọt, các chất khoáng trong đất được thải ra ngoài môi trường, góp phần đảm bảo nồng độ muối khoáng trong nước. Tuy nhiên, sau đó, lượng khoáng chất này giảm dần và tôm nuôi gặp vấn đề. Vì vậy, bí quyết để nuôi tôm nước mặn trong ao nước ngọt thành công là bổ sung đúng và đủ các khoáng chất cần thiết cho tôm kết hợp với thả tôm với mật độ thích hợp tùy theo trình độ quản lý. Nhờ bí quyết này, trang trại của Chaiwat ở tỉnh Pathumi, Thái Lan, đã thành công trong 14 năm qua (3 năm đầu nuôi tôm sú, 6 năm tiếp theo nuôi tôm thẻ chân trắng và 5 năm trước quay lại nuôi. tôm sú). cho đến nay), họ duy trì năng suất ổn định 5 tấn / ha / vụ với tỷ lệ hư hỏng dưới 10%. Với tôm sú trung bình sau 115 ngày nuôi, tôm đạt 40-50 con / kg, FCR: 1.3 Trang trại được bao quanh bởi ruộng lúa và vườn cây ăn trái, độ mặn của nước ở đây chính xác là 0 ‰. Hiện trang trại có 31 ao, diện tích từ 3.000 – 4.000 m2 / ao. Tổng diện tích trang trại bao gồm ao chứa, ao xử lý, nhà và đường giao thông là 30 ha. Chi tiết về thực hành canh tác của họ được liệt kê dưới đây:
1, Chuẩn bị ao
Sau mỗi vụ nuôi, dùng bừa rải đều bùn khắp ao rồi đem phơi nắng cho đến khi khô bề mặt (thường mất gần một tháng). Tiếp theo, rải đều vôi Dolomite CaMg (CO3) 2 trong ao để khoáng hóa đất cũng như tăng độ kiềm, ổn định pH. 1.1. Xử lý nước trong hồ chứa: Vì trang trại nằm giữa cánh đồng lúa nên họ treo một túi chứa 5 kg thuốc tím (KMnO4) ở đầu nguồn cung cấp nước cho hồ chứa. Bằng cách này, thuốc tím sẽ vô hiệu hóa các loại thuốc trừ sâu có trong nguồn nước. Tiếp theo, để nước trong 3 ngày cho trứng của vật nuôi nở, sau đó dùng thuốc diệt côn trùng diệt giáp xác và khử trùng ao nuôi. Sau đó, ao được cấp nước từ bể chứa qua nhiều lớp vải lọc bằng lưới nhỏ. Nguồn nước này hoàn toàn sạch và không chứa các vật trung gian mang bệnh. Nước nên được lấy ở tầng giữa của ao để tránh bùn, khí độc và vi khuẩn có hại nằm ở đáy ao. Độ sâu cấp nước là 1m. Dùng xuồng có móc sắt di chuyển quanh ao 2 lần / ngày trong 7 ngày để móc sắt xới đất dưới đáy ao giúp trộn đều vôi bột xuống đáy ao: Việc này giúp khoáng hóa đất. Phân vi sinh lên men: Thành phần gồm: Trực khuẩn, rỉ đường, hoa quả theo mùa và nước. Bật quạt ngay từ đầu để thúc đẩy sự phát triển của sinh vật phù du trong ao. Trước khi thả, bón lót cho ao với liều lượng 8.000 lít / 4000 m3 nước ao.
2. Nhân giống và thả giống
– Trang trại có mối quan hệ tốt với các trại giống có uy tín và họ thường trả giá cao hơn 15% so với giá thị trường để có được mẻ giống tốt nhất. Mật độ thả (tôm sú): Thực hiện đúng mật độ 35 con / m2 – Yêu cầu trại giống hạ độ mặn xuống 12-13 ‰ với mức giảm 3-5 ‰ / ngày. – Làm chuồng bạt diện tích khoảng 220 m2 bằng bạt kín một góc ao (hình 1), trước khi thả giống 3 ngày bón 7.000 lít nước để nâng độ mặn trong lồng lên 8. -10 ‰.

Bạt: Mép bạt cao hơn mực nước 30 – 40 cm.
3. Còn hàng
Để túi giống nổi trên mặt nước để cân bằng nhiệt độ giữa túi giống và nước ao. Sau đó, mở miệng túi từ từ để nước ao hòa với nước trong túi giống. Còn hàng duy nhất lúc 7h sáng. Cho 200-300 con vào lồng lưới nhỏ (kích thước: dài x rộng x cao: 40cm x 40cm x 60cm), sau 7 ngày đếm số tôm còn lại để xác định tỷ lệ sống. Sử dụng thức ăn công nghiệp cho ăn 3 lần / ngày với lượng 150g / 100.000 con / ngày. Tăng lượng thức ăn lên 5-7% cho ngày hôm sau. Sau 7 ngày, kéo một góc của lồng bạt xuống dưới mặt nước 30 cm, sao cho nước của ao và lồng trải bạt hòa vào nhau. Sau 3 ngày, độ mặn trong lồng bạt xuống 0 ‰ thì dỡ lồng.
4. Quản lý chặt chẽ việc cho ăn
Sau khi bỏ bạt, lượng thức ăn bắt đầu cho ăn là 1kg / 100.000 con / ngày và căn cứ vào tỷ lệ sống đã xác định ở trên để xác định lượng thức ăn. Trong tuần đầu tiên, lượng thức ăn tăng thêm hàng ngày là 300 g. Giờ cho ăn: 7h sáng, 12h trưa, 17h chiều, 9h tối. 4.1. Mỗi bữa ăn phải trộn khoáng và vitamin C: vì tôm cần nhiều khoáng nên hàm lượng khoáng trong ao nước ngọt rất hạn chế. Nếu không sẽ dẫn đến mềm vỏ và chết dần trong quá trình nuôi. Vitamin C giúp tôm tăng cường sức đề kháng. 4.2. Sử dụng sàng: cho vào sàng lượng 2-2,5g / kg thức ăn, cứ 1.500 m2 sử dụng 1 sàng, kiểm tra sàng sau 2 giờ.
Bảng 2: Cách sử dụng sàng ăn

Thức ăn trên sàn Phân tôm Bữa ăn tiếp theo

Chấm dứt

Không có phân hoặc phân ngắn

Tăng 5-7%

Chấm dứt

Phân dài

Duy trì lượng cho ăn

Giảm 20-40%

5. Quản lý môi trường nước
5.1. Sử dụng nước sủi bọt: Cung cấp khoáng chất cho môi trường nước + Nước sủi bọt có độ mặn 120-150 ‰, nếu độ mặn thấp hơn 100 ‰ thì vẫn tồn tại vi khuẩn Vibrio, nếu độ mặn cao hơn 160 ‰ thì muối sẽ kết tinh dẫn đến mất một số khoáng chất cần thiết. + Sử dụng nước bất cứ lúc nào nếu phát hiện tôm có dấu hiệu thiếu khoáng như mềm vỏ, xanh vỏ, nổi vỏ trên mặt ao nuôi. Sử dụng định kỳ:

  • Lần 1: Trước khi thả giống: 8.000 lít / 4.000m3
  • Lần 2: Cho vào lồng bạt (trước khi thả): 7.000 lít / 4.000m3
  • Lần 3: Cuối tháng đầu tiên: 10.000 lít / 4.000m3
  • Lần 4: Cuối tháng thứ 2: 14.000 lít / 4.000m3
  • Lần 5: Trước khi thu hoạch: 14.000 lít / 4.000m3

+ Nước muối được bơm vào ao qua một ống nhựa PVC có đục những lỗ nhỏ li ti và đặt ngay trước quạt nhằm mục đích giúp nước hòa tan đều trong nước ao. Nếu không, nước sẽ lắng xuống đáy ao và tôm sẽ chết. 5.2. Một số lưu ý khác – Định kỳ đánh men vi sinh với tần suất 1 tuần / lần – Bổ sung 10 kg MgO / ha trước ngày rằm 1 ngày để cung cấp khoáng: Vì lúc này tôm thường lột xác. đồng thời. – Bón 25 kg K2O với tần suất 2 tuần / lần – Cứ 10 ngày bón vào chỗ nhiều bùn 300 kg muối sống / ha để khử trùng đáy ao. Sau đó 2 ngày men vi sinh. – Bón vôi đôlômit để duy trì độ kiềm> 120 ppm – pH: Duy trì pH không thấp hơn 7,5 vào buổi sáng và không cao hơn 8,2 vào buổi chiều, pH thấp thì tăng cường sử dụng vôi. PH cao làm tăng sự sử dụng của vi sinh vật, hạn chế lượng cho ăn, tăng cường trao đổi nước. Cắt tảo bằng vôi nóng CaO (liều lượng 25kg / 4000 m3 nước, đánh lúc 1h sáng liên tục trong 3 ngày sẽ thấy hiệu quả). – Quạt nước: đảm bảo 1 HP cho 400 kg tôm, theo dõi kỹ hàm lượng oxy hòa tan (DO), đặc biệt vào thời điểm từ 0 giờ – 5 giờ sáng, đảm bảo DO luôn cao hơn 5 mg / l. – Kiểm tra sức khỏe tôm: thời điểm tốt nhất là 2-5 giờ sáng, kiểm tra vào thời điểm này có thể giúp dự đoán các vấn đề sức khỏe của tôm trong 2-3 ngày tới từ đó có các biện pháp phòng ngừa. khấu trừ thích hợp
6. Bệnh
Các ao nuôi nước ngọt nếu kiểm soát tốt chất lượng con giống đầu vào thì khả năng nhiễm một số bệnh thông thường do vi khuẩn Vibrio gây ra là rất thấp. Trong trường hợp của ChaiWat, trang trại của anh không bị EMS, tỷ lệ mất mùa rất thấp (<10%). Chaiwat đã chia sẻ kinh nghiệm của mình với 23 trang trại xung quanh và giờ những trang trại đó hiếm khi thất bại. Sự kết luận
Nuôi tôm là một cái nghiệp, thành công không đến từ sự may rủi mà ở sự đầu tư bài bản về cơ sở vật chất, hệ thống ao nuôi, ao xử lý nước thải. Và quan trọng hơn, người quản lý phải học hỏi không ngừng. Mô hình trên có thể là một gợi ý tốt. Bài viết được tổng hợp chủ yếu từ Tạp chí Nuôi trồng Thủy sản Châu Á Thái Bình Dương (Aquionary Asia Paciffic) và bổ sung thêm một số kinh nghiệm của tác giả. Chúc bạn và gia đình gặp nhiều may mắn!
Người giới thiệu:
1. Sorapat Panakorn, Cách nuôi hai con tôm biển thành công trong ao nước ngọt, Tạp chí Nuôi trồng thủy sản Châu Á Paciffic Tháng 5 / Tháng 6 năm 2015 Tập 11 Số 3. 2. Sorapat Panakorn, Câu chuyện thành công: cách nuôi độc đáo, Nuôi trồng thủy sản Châu Á Paciffic Tháng 1 / Tháng 2 năm 2015 Tập 11 Số 1. 3. Claude E.Boyd, Thành phần nước và quản lý ao nuôi tôm: So sánh nước biển và nước lợ, The Advocate tháng 10.2001 Tác giả Green Mussels, Silver Tôm Thủy sản, ngày 4 tháng 9 năm 2015

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “lý thuyết đến thực tiễn❤️️”. Hy vọng qua bài viết “lý thuyết đến thực tiễn” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “lý thuyết đến thực tiễn [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “lý thuyết đến thực tiễn” được đăng bởi vào ngày 2022-06-04 04:19:07. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Xem thêm:  Mẫu phiếu khám bệnh vào viện chuyên khoa răng hàm mặt
Back to top button