Kỹ thuật nuôi thương phẩm bào ngư – Tạp chí Thủy sản Việt Nam


Bào ngư là đối tượng nuôi có giá trị cao Ảnh: ST
Hình thức chăn nuôi
Có 3 hình thức nuôi bào ngư: Nuôi lồng trong bể xi măng, nuôi lồng bè treo trên biển và thả đáy trên các bãi đá, rạn san hô ven biển. Nuôi lồng trong bể xi măng: Bể xi măng có dạng hình hộp chữ nhật, diện tích 10x2x1) m, có mái che nắng, xung quanh trống, có ngăn nhỏ để lọc nước biển tuần hoàn. Nước nuôi đảm bảo độ mặn 30 – 35 ‰; pH 7,6 – 7,8; oxy hòa tan> 5 mg / l; nhiệt độ 26 – 300C. Dùng một cái lồng nhựa, hình chữ nhật, có lỗ. Kích thước lồng (50x40x30) cm treo trong bể hoặc xếp chồng cách đáy 20 cm. Cho ăn bằng lồng treo biển: Dùng lồng nhựa hình chữ nhật có lỗ (3 – 4 mm), kích thước (50x40x30) cm có móc nhựa đóng nắp để dễ kiểm tra và cho ăn. Lồng được treo trên bè nổi cách nhau 0,5 m và ở độ sâu 2 – 5 m. Bè nổi được thiết kế giống bè nuôi tôm, cá; có thể nuôi bào ngư ở trên, tôm hùm ở dưới. Lồng được cố định bằng các neo sắt có khối lượng từ 50-100 kg / chiếc. Chiếc bè được thiết kế di động để có thể dễ dàng di chuyển khi cần thiết. Lồng nuôi được đặt ở nơi tương đối kín gió, không có sóng lớn, xa cửa sông, không bị ảnh hưởng bởi nguồn nước ngọt, nhất là vào mùa mưa lũ. Độ mặn khu vực đặt lồng nuôi ổn định 30 – 35 ‰, độ sâu từ 6 – 8 m. Sinh sản trên đá: Bãi nuôi là những phiến đá, tảng đá lớn tạo lỗ cho bào ngư trú ẩn, nơi có nhiều thực vật biển như rong biển (Sargassum), rong biển (Gracilaria), rong biển (Hypnea) … phân bố. Trang trại lưu thông nước tốt, mực nước> 1,5m; độ sâu nước nuôi đạt 1 – 3 m so với mực nước biển; tốc độ dòng 1-5 cm / s. Diện tích nuôi từ 3.000 m2 trở lên. Nếu đáy trại ít gồ ghề, có nhiều rãnh thì có thể bố trí thêm đá làm giá thể cho bào ngư bám vào và ẩn náu. Dùng dây thừng, phao neo (hoặc cọc bê tông cố định trên vùng triều) để đánh dấu, xác định vùng nuôi. Có biển chỉ dẫn khu vực nuôi (nếu cần).
Điều kiện thả
Nước có độ mặn cao, ổn định: 29 – 32 ‰; nhiệt độ: 18 – 300C; pH: 7,5 – 8,5; hàm lượng oxy hòa tan> 5 mg / l; Các thông số môi trường khác đều nằm trong giới hạn cho phép đối với vùng nuôi trồng thủy sản theo QCVN 10-MT: 2015 / BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển.
Hạt giống
Thời gian thả giống: Quanh năm, tránh thả nuôi lúc nắng nóng. Tốt nhất là tháng 3 – tháng 5 hàng năm. Chọn giống có chất lượng tốt, khỏe mạnh, hình dáng hoàn chỉnh, không dị hình, cầm chắc tay. Không mang mầm bệnh, được kiểm dịch trước khi đưa vào vùng nuôi. Kích thước chiều dài vỏ hạt ít nhất là 8 – 10 mm. Vận chuyển giống lúc chiều mát hoặc chiều tối, tránh vận chuyển lúc nắng nóng. Thả giống: Sau khi vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi nuôi, bào ngư cần được làm quen với môi trường nuôi mới trước khi thả nuôi. Thời gian thả giống: Chiều muộn khi thời tiết mát mẻ (16 – 17h chiều). Mật độ thả: 5 – 10 con / m2.
Chăm lo
Thức ăn của bào ngư là hỗn hợp các loại rong: rong mơ, rong mơ, rong đông lạnh… Trước khi cho bào ngư ăn, cần loại bỏ hết thức ăn thừa để nuôi lồng, sau đó mới đưa nguồn thức ăn mới vào. . Lượng thức ăn bằng 10 – 30% khối lượng cơ thể. Lượng rong cho ăn phải thừa, không được thiếu, nếu thiếu thì phải tăng cường cho ăn lần sau. Từ tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau: Đây là mùa sinh trưởng của rong câu nên không cần bổ sung thức ăn, bào ngư sử dụng thức ăn có sẵn tại trại. Từ tháng 6 đến tháng 11: Đây là mùa rong chết, bãi nuôi không đủ cung cấp thức ăn cho bào ngư, cần bổ sung thức ăn từ rong nuôi (rong cá) hoặc rong khô (mơ khô). ). Nếu thức ăn là rong biển khô thì phải ngâm trong nước biển 30-60 phút trước khi cho ăn. Lượng thức ăn có thể thay đổi tùy thuộc vào nhiệt độ nước và khả năng tiếp nhận của bào ngư. Thông thường 2-3 ngày cho ăn 1 lần, mùa hè có thể 2 ngày 1 lần, mùa đông nếu nhiệt độ thấp thì 3 ngày cho ăn 1 lần. Thường rải rong vào lúc 4-5 giờ chiều để bào ngư bò ra kiếm ăn vào ban đêm. Khi cho ăn thức ăn bổ sung, định kỳ 5 – 7 ngày cho ăn một lần. Lượng cho ăn như sau:
Quản lý
Trong quá trình nuôi, định kỳ kiểm tra tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của bào ngư. Thường xuyên theo dõi các yếu tố môi trường, độ mặn, nhiệt độ, độ trong và màu nước. Nếu thấy có hiện tượng bất thường cần có biện pháp xử lý ngay, di chuyển bè đến vị trí khác, có điều kiện môi trường thuận lợi cho bào ngư phát triển. Theo dõi chặt chẽ hoạt động bắt mồi của bào ngư, nếu thấy khả năng bắt mồi kém thì phải kiểm tra thức ăn có hôi, ôi thiu không; kiểm tra lưu lượng nước tại nơi đặt bè; Tập tính ăn mồi của bào ngư, khi nước có dòng chảy sẽ kích thích bào ngư bắt mồi rất tốt. Hàng ngày phải kiểm tra lồng, đề phòng sâu bệnh xâm nhập vào lồng, nhất là cua, ghẹ. Khi bào ngư chết phải đưa ra khỏi lồng ngay lập tức. Thường xuyên gia cố, thay thế, sửa chữa hệ thống dây neo; hệ thống cọc bê tông và biển báo khu vực nuôi. Phòng trừ dịch bệnh: Cần sử dụng nguồn giống bào ngư sạch bệnh để nuôi thương phẩm. Con giống phải được kiểm dịch trước khi vận chuyển, xuất chuồng. Trong quá trình nuôi, khi cần bổ sung thức ăn, trước khi cho ăn phải rửa sạch và ngâm Iodine 2 ppm.
Mùa gặt
Sau 24 – 30 tháng nuôi, bào ngư đạt cỡ thương phẩm 40 – 50 con / kg, tỷ lệ sống 25 – 30% thì tiến hành thu hoạch. Thu hoạch bào ngư khi thủy triều xuống, thời tiết mát mẻ. Cắt tỉa những cá thể đạt kích thước thương phẩm, những cá thể chưa đạt kích thước tiếp tục phát triển.

Xem thêm:  Top 10 bài biểu cảm về cây phượng siêu hay

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Kỹ thuật nuôi thương phẩm bào ngư – Tạp chí Thủy sản Việt Nam❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Kỹ thuật nuôi thương phẩm bào ngư – Tạp chí Thủy sản Việt Nam” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Kỹ thuật nuôi thương phẩm bào ngư – Tạp chí Thủy sản Việt Nam [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Kỹ thuật nuôi thương phẩm bào ngư – Tạp chí Thủy sản Việt Nam” được đăng bởi vào ngày 2022-06-03 21:11:48. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button