Kỹ thuật nuôi cá mú

Cá song là một trong những loài cá biển có giá trị kinh tế cao. Chúng được nuôi ở nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Philippines, Brunei và Việt Nam,… Cá mú thuộc họ Serranidae, trên thế giới có 159 loài trong tổng số 15 loài. giống (De Bruin, Russel, & Bogusch, 1995), ở Việt Nam có 48 loài thuộc 11 chi (Lê Trọng Phan, 1997). Cá song phân bố ở vùng biển ấm, nơi có các rạn san hô. Vào mùa hè chúng sống gần bờ, đến mùa đông chúng di cư ra xa bờ. Chúng có tập tính dinh dưỡng ăn thịt, ăn cá, mực, giáp xác, thường ăn thịt lẫn nhau ở giai đoạn con non. Phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nơi có các rạn san hô và đá ngầm. Nghề nuôi cá mú ở châu Á đã có từ lâu đời nhưng nguồn cá giống hoàn toàn hoang dã. Nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá mú bắt đầu ở Nhật Bản vào những năm 60, và ở các nước Đông Nam Á vào cuối những năm 70. Đến nay, đã có hơn 10 loài cá mú được nuôi và sản xuất nhân tạo như: cá mú chấm đen (Epinephelus malabaricus), cá mú nâu (E.coioides), cá mú ruồi (E. tauvina), cá mú đỏ (E. akaara) , cá mú cọp (E. fuscoguttatus), cá mú nghệ (E. lanceolatus), cá mú chuột (Cromileptes altivelis), cá mú sao (Plectropomus leopardus), cá mú nghệ (Cephalopholis miniata)… Một số loài cá mú được nuôi phổ biến ở các nước trong khu vực .

NUÔI CÁ
Tốc độ sinh trưởng khác nhau giữa các loài: Tốc độ sinh trưởng của một số loài cá mú nuôi ở nước ta sau 1 năm: cá mú 0,3 – 0,4 kg, cá mú chấm đen 0,8 kg, cá mú đen chấm nâu 0,8 kg, cá mú ruồi: 1 – 1,2kg, cá mú nghệ: 3 – 4kg.
A. Nuôi trong ao
Chọn vị trí và chuẩn bị ao nuôi
Địa điểm nuôi phải có đủ nước biển, độ mặn của nước trong khoảng 18-32 ‰ và nhiệt độ 27-30oC, hàm lượng oxy hòa tan trên 3mg / lít, độ pH từ 7-8. Vị trí nuôi không bị ô nhiễm nước thải (công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt), thuận tiện giao thông, liên lạc. Có nguồn cá rô phi giống và cá tạp (cá mồi) quanh năm. Ao đất hoặc bê tông hình chữ nhật, diện tích 0,5-1 ha. Độ sâu nước ao từ 1-2m. Hệ thống cống đôi bằng gỗ hoặc bê tông cấp thoát nước riêng biệt. Đáy ao phải bằng phẳng, sạch sẽ để dễ quản lý và thu hoạch. Ao được rút cạn nước, phơi khô đáy ao. Diệt cá tạp và động vật ăn thịt trong ao bằng bột bả chè (Saponin) với liều lượng 100 ppm và từ từ cho nước vào để tạo thức ăn tự nhiên phát triển trong ao. Để tăng diện tích trú ẩn cho cá mú, người ta buộc các ống tre hoặc nhựa PVC dài 0,5m, đường kính 100cm thành từng bó, đặt ở khu vực riêng của ao. Ở mỗi vị trí được đặt khoảng 12 bó. Trang bị hệ thống quạt và máy bơm.
Nhân giống và chăm sóc
Thả 5.000-10.000 cá rô phi bố mẹ / ha, tỷ lệ đực / cái 1/5 đực để sản xuất cá rô phi giống làm nguồn thức ăn cho cá mú giống. Thả giống cá mú với mật độ 5.000 con / ha. Ngoài thức ăn tự nhiên là cá rô phi con, cách ngày cho cá ăn cá tạp hoặc tôm nhỏ với khẩu phần 3-10% trọng lượng cơ thể. Nên cho ăn ngày 2 lần, vào sáng sớm và chiều tối. Một phần thức ăn cho vào khay để kiểm tra tình trạng đánh bắt của cá, phần thức ăn còn lại rải đều khắp ao. Định kỳ hàng tháng kiểm tra tốc độ tăng trưởng của cá, điều chỉnh khẩu phần thức ăn hàng ngày. Hệ số thức ăn (FCR) từ 4 đến 8. Thay nước từ 40-70% / ngày.
B. Nuôi trong lồng lưới
Chọn địa điểm canh tác
Lồng lưới nên được đặt ở những vùng nước lặng, trong đầm phá, cửa sông, cửa biển hoặc hải đảo, không bị ô nhiễm công nghiệp và nông nghiệp, vùng nội địa độc hại và ít bị ảnh hưởng bởi lũ lụt. cơn mưa. Mật độ thả và cỡ cá Cá giống cỡ nhỏ 2-3 cm sẽ được thả vào lồng lưới nhỏ (3x3x2 m) với cỡ mắt lưới 0,5-1,0 cm để tập ăn và làm quen với môi trường bè. . Mật độ thả 50-60 con / m3. Thời gian ấp từ 30-45 ngày để đạt kích cỡ cá giống lớn 10-20 cm. Cá giống lớn được thả trong lồng lưới lớn (5x5x2m), mặt lưới 2-4 cm. Mật độ thả 10 – 20 con / m3. Trong quá trình nuôi nên tiếp tục kích cỡ để tránh hiện tượng cá ăn thịt lẫn nhau.
Cho ăn và chăm sóc
Cá thường được huấn luyện để ăn cá tạp và tôm tươi chết trong vòng 1-3 tuần. Trong vài tháng đầu cho cá ăn khẩu phần 10% trọng lượng cơ thể / ngày. Sau đó, giảm xuống 5 – 6% trọng lượng cơ thể / ngày. Lồng lưới cần được kiểm tra hàng ngày để tránh cá bị hư hỏng. Vệ sinh lưới định kỳ để đảm bảo nước qua lưới được thông thoáng và loại bỏ một số ký sinh trùng, vi sinh vật có hại bám vào lưới.
Mùa gặt
Giai đoạn ương 6 – 8 tháng, cá có trọng lượng trên 500g bắt đầu được thu hoạch một phần bằng cách nâng lưới (vó) tại các vị trí cho ăn trong ao. Lưới thu hoạch kích thước 4x2x1m được đặt gần đáy ao. Lưới che bằng ống PVC (đường kính 100-120 cm) được buộc thành từng bó đặt ở giữa lưới để thu cá vào các vật dụng trú ẩn, khi cá đã tập trung về các vật dụng trú ẩn sẽ giăng lưới. bắt được cá nặng trên 400 gr chuyển sang bè thu hoạch lắp đặt sẵn trong ao (8x4x1m hoặc 4x2x1m, mắt lưới 2-4 cm). Mật độ thả trong các bè này là 10 – 20 con / m3. Cá mú được cho ăn 5% trọng lượng cơ thể cách ngày trong khi chờ tiêu thụ. Việc thu hoạch toàn bộ được thực hiện khi trong ao chỉ còn lại một số cá mú sau khi thu gom một phần, lần này tháo cạn nước và dùng lưới để bắt cá. Trước khi vận chuyển, cá được cho vào bể xi măng sục khí từ 1 – 2 giờ, sau đó cho túi đá vào bể để từ từ hạ nhiệt độ xuống 18oC. Sau đó cho 3-5 con vào túi nylon bơm ôxy với mực nước trong túi 3-5 cm, cuối cùng cho vào thùng xốp (30x30x20 cm), cho vào thùng xốp một ít nước để làm mát trong quá trình vận chuyển.
MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP
– Bệnh do động vật nguyên sinh: Cryptocaryon stians, Trichodina, Brooklynella. – Bệnh do ký sinh trùng: Rhexanellosis, Benedenia, sán dây Tetrarhynchida – Bệnh do vi khuẩn: nhóm Vibrio, Aeromonas, Flexibacter, Streptococcus. Các nhóm Vibrio spp gây ra các triệu chứng xuất huyết trên thân hoặc vùng đuôi, Flexibacter thường gây cắt cụt đuôi. – Bệnh do virus gây hoại tử dây thần kinh (Viral Nercular Necrosis): thân cá đen, lờ đờ nổi trên mặt nước, mất các phần phụ. Bệnh gai cột sống cũng do virus gây ra, làm cho thân cá đen và xương sống bị biến dạng. Theo TS Nguyễn Tuấn, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, 02/06/2012

Xem thêm:  Trường cấp 3 quận Hoàn Kiếm

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Kỹ thuật nuôi cá mú❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Kỹ thuật nuôi cá mú” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Kỹ thuật nuôi cá mú [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Kỹ thuật nuôi cá mú” được đăng bởi vào ngày 2022-06-04 01:52:30. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button