Kỹ thuật nuôi cá chình năng suất cao – Tạp chí Thủy sản Việt Nam


Cá chình là đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao. Ảnh: Phan Thanh
Hình thức
Bể xi măng: Chia thành các bể nuôi lươn giống (cấp 1), lươn giống (cấp 2, cấp 3) và lươn lớn. Bể có hình chữ nhật hoặc hình vuông. Bể nuôi lươn giống sâu khoảng 1m, lươn giống sâu 1,2 – 1,5m. Đáy bồn được làm gọn để không bị rò rỉ nước, độ nghiêng khoảng 3 – 4 độ để thuận tiện cho việc thoát nước và vệ sinh bồn. Có đường ống cấp nước đầu vào và đầu ra dễ dàng, nước đầu vào phải sạch và đảm bảo theo yêu cầu. Ao đất: Diện tích khoảng 0,05 – 0,2 ha, độ sâu 1,5 – 2m. Đáy ao là đất thịt lẫn ít cát, không đào ao ở vùng đất bị nhiễm phèn. Có hệ thống cấp thoát nước độc lập. Lồng: Thể tích của lồng từ 8 m3 nước trở lên. Chuồng được thiết kế vuông vắn, không nên nuôi ở nơi nước đọng hoặc nơi nước chảy xiết. Vị trí đặt lồng phải thuận tiện giao thông để thuận tiện cho việc cung cấp giống, thức ăn, chăm sóc, quản lý, thu hoạch và vận chuyển sản phẩm.
Chuẩn bị các
Đối với ao đất cần tháo cạn nước, dọn cỏ xung quanh bờ và đáy ao, lấp các chỗ rò rỉ, san phẳng đáy ao nghiêng về phía cống thoát nước. Dùng vôi bột với lượng 10 – 12 kg / 100 m2 rải đều quanh bờ và đáy ao. Sau đó, cấp nước đầy bể, ao và thả cá giống. Bể mới: Cần rửa sạch bằng phèn chua nồng độ 0,1 – 0,3 kg / m3, ngâm 5 – 7 ngày; sau đó, xả hết nước, chà và rửa sạch. Bể cũ: dùng Chlorine 50-100g / lít nước tạt đều khắp bể, sau 5-10 ngày tiến hành vệ sinh bể. Trước khi thả nuôi 7 ngày, dùng thuốc tím, liều lượng 2 g / m3 nước tưới đều khắp bể để sát trùng, sục rửa và cấp nước từ bể lọc để loại bỏ chất bẩn hữu cơ và sinh vật gây hại. . Nước trong bể ở mức 0,8 – 1 m.
Hạt giống
Cá con yêu cầu phải khỏe mạnh, kích thước đồng đều. Cá rất nhớt, không có vết xước, không có đốm trắng. Cá di chuyển nhanh nhẹn, không dị hình, dị dạng. Tuyệt đối không sử dụng cá do chập điện, câu cá. Nên mua của những cơ sở uy tín, đảm bảo. Thông thường, các hộ nuôi thường chọn mua lươn loại 3 (10 con / kg). Đây là loại cá giống có sức đề kháng tốt, lớn nhanh, dễ chăm sóc, tỷ lệ hao hụt giảm. Lươn không có vảy nên khi vận chuyển thường bị bầm dập và thường có ký sinh trùng trên da. Vì vậy, trước khi thả giống cần sát trùng cá trong dung dịch muối 1,5-3% (15-30 phút). Tùy theo điều kiện ao nuôi, cơ sở vật chất và khả năng đầu tư của người nuôi mà thả mật độ khác nhau. Tuy nhiên, cá chình là đối tượng nuôi cần đầu tư lớn, không thả dày, nên thả đủ số lượng cá giống mỗi lần và kích cỡ đồng đều để không ảnh hưởng đến sản lượng.
Món ăn
Sử dụng được 2 loại thực phẩm tươi sống và công nghiệp. Cho ăn theo nguyên tắc 4 quyết: chất lượng, số lượng, thời điểm, địa điểm. Thức ăn để nuôi lươn phải đảm bảo tỷ lệ đạm 45%. Ngoài ra, tỷ lệ một số thành phần như chất béo 3%, xenlulo 1%, canxi 2,5%, photpho 1,3% và các loại muối khoáng, nguyên tố vi lượng, vitamin phù hợp hơn. Như vậy, đây là loại thức ăn có tỷ lệ bột cá cao, nhiều mỡ nên dễ hút ẩm, dễ mốc, phải chú ý bảo quản tốt, thời gian bảo quản không quá 2 tháng. Thức ăn tươi sống là cá tạp, trai, hến … Thức ăn đảm bảo tươi sống. Trước khi sử dụng cần rửa sạch và khử trùng thật sạch. Sau đó, tùy theo kích cỡ của cá mà người nuôi có thể băm nhỏ hoặc để nguyên con.
Chăm sóc và quản lý
Cho cá ăn đúng giờ, khi muốn thay đổi lượng thức ăn cần thực hiện từ từ, tránh thay đổi đột ngột. Cá chình không ưa ánh sáng nên ban ngày cá chình thường tập trung một chỗ ở góc ao, bể. Chỉ ban đêm cá tản ra kiếm mồi nên cá thường kiếm mồi mạnh vào chiều tối và đêm. Mỗi ngày cho ăn 2 – 3 lần, tổng lượng thức ăn trong ngày khoảng 10 – 20% trọng lượng cơ thể. Bên cạnh đó, căn cứ vào điều kiện thời tiết, môi trường để điều chỉnh thức ăn cho phù hợp. Hàng ngày phải thường xuyên theo dõi hoạt động của cá để có những điều chỉnh phù hợp. Giám sát chặt chẽ từ phương pháp cho ăn đến sự thay đổi của môi trường (oxy, pH, khí độc). Khi phát hiện cá có dấu hiệu nhiễm bệnh cần có biện pháp xử lý kịp thời. Trong cùng một bể, lồng nên thả cá giống cùng kích cỡ, cá nhỏ dễ bị cá lớn cạnh tranh và chiếm hết thức ăn. Sau 6 tháng nuôi phải tách cá lớn hơn, phân loại để dễ chăm sóc, cá phát triển tốt. Trước khi định cỡ nên ngừng cho cá ăn 1 ngày để hạn chế hao hụt khi đánh bắt.
Mùa gặt
Sau 1 năm giống cỡ 10 con / kg có thể đạt 1 – 1,5kg / con thì tiến hành thu hoạch. Một ngày trước khi thu hoạch, nên ngừng cho cá ăn. Hạ mực nước xuống, kéo lưới rồi xả hết nước trong ao để vớt hết số cá còn lại. Giữ cá sống trong bể có sục khí. Đối với những con chưa đạt kích cỡ thương phẩm thì có thể nuôi và nuôi. Khi thu hoạch trong bể chỉ nên rút nước khoảng 20 cm. Xếp cá vào một góc, chuẩn bị xẻng xúc cá cho vào xô hoặc túi nhỏ. Khi gần hết nước, bạn có thể mở van xả nước để hứng sạch. Lưu ý, cá chình bơi rất nhanh nên yêu cầu thao tác nhanh nhẹn nhưng nhẹ nhàng, tránh làm trầy xước, hư hỏng, ảnh hưởng đến chất lượng cá thương phẩm.

Xem thêm:  Trường Xuân An lời bài hát
>> Mới đây, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã thí điểm thành công hình thức nuôi cá chình bông bằng hệ thống tuần hoàn (RAS). Nuôi theo công nghệ này, tỷ lệ sống của cá cao, sạch bệnh, tốn ít nước, năng suất cao gấp 4 – 5 lần so với nuôi thông thường.

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Kỹ thuật nuôi cá chình năng suất cao – Tạp chí Thủy sản Việt Nam❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Kỹ thuật nuôi cá chình năng suất cao – Tạp chí Thủy sản Việt Nam” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Kỹ thuật nuôi cá chình năng suất cao – Tạp chí Thủy sản Việt Nam [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Kỹ thuật nuôi cá chình năng suất cao – Tạp chí Thủy sản Việt Nam” được đăng bởi vào ngày 2022-06-03 23:48:47. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button