Kinh nghiệm chuẩn đoán bệnh tôm trong phòng lab

1. Sơ lược về bệnh
Bệnh là tình trạng rối loạn hoạt động bình thường của cơ thể khi có nguyên nhân gây bệnh. Nguyên nhân sinh học gây bệnh cho tôm bao gồm:

  • Rickettsia hoặc Clamydia.
  • Vi khuẩn gram dương (+).

Bệnh tôm được chia thành 2 loại triệu chứng:
Bệnh cấp tính: Tôm có màu sắc và trọng lượng không khác bình thường thường có dấu hiệu bệnh đặc trưng. Tôm bị bệnh cấp tính có thể chết ngay khi phát hiện dấu hiệu bệnh, tỷ lệ chết tăng rất nhanh, trong thời gian ngắn đạt đỉnh cao nhất (2 – 5 ngày). Ví dụ như bệnh đốm trắng do vi rút WSSV, bệnh đầu vàng do vi rút YHV, v.v.
Bệnh mãn tính: Tôm thường có màu hơi sẫm, thân gầy, bơi riêng lẻ lên mặt nước, ao nuôi, chậm lớn, chết dần (có thể kéo dài 2-3 tuần hoặc 1-2 tháng). Ví dụ, bệnh đốm đen, bệnh còi MBV, nhiễm nấm, v.v.
2. Phương pháp lấy mẫu
Bao gồm các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn lọc.
Lấy mẫu ngẫu nhiên: sử dụng khi kiểm tra, lấy mẫu tôm khám sức khỏe định kỳ. Bảng: Cỡ mẫu dựa trên tỷ lệ nhiễm mầm bệnh trong quần thể: Cỡ mẫu phụ thuộc vào tỷ lệ mắc bệnh dự kiến ​​tối đa ở mức tin cậy 95% của tổng số tôm trong ao. Khi lấy mẫu kiểm tra dịch bệnh trên tôm giống, cần ước tính tỷ lệ nhiễm bệnh từ 1 – 2%. Tôm giống nên được thu thập từ 5 vị trí đại diện xung quanh bể ương. Việc tầm soát bệnh tôm bố mẹ là cần thiết để kiểm tra tất cả tôm hoặc ước tính tỷ lệ nhiễm bệnh là 5%. Tôm nhỏ nên dựa trên tỷ lệ nhiễm bệnh ước tính từ 2 – 10%. Ví dụ, nếu tỷ lệ lây nhiễm ước tính là 2%. Nếu kết quả chẩn đoán dương tính có nghĩa là có ≥ 2% mẫu tôm bị nhiễm bệnh. Nếu kết quả chẩn đoán là âm tính, nghĩa là có ít hơn 2% mẫu tôm bị nhiễm bệnh hoặc tôm không bị nhiễm bệnh.
Lấy mẫu không ngẫu nhiên: được sử dụng khi lấy mẫu tôm bệnh, khi bệnh có biểu hiện tổng thể dễ quan sát và dễ ước tính tỷ lệ nhiễm bệnh. Sử dụng lưới đánh cá để đánh giá tỷ lệ và thu thập các mẫu tôm bệnh như sau:

  • Câu 4-5 con quanh ao.
  • Đếm số tôm khỏe và tôm bệnh.
  • Tính tỷ lệ tôm bệnh và tôm khỏe mạnh dựa trên số liệu đếm được.

Kết luận: Giả sử tỷ lệ tôm trong thủy sản có thể đại diện cho trạng thái của tôm ngoài ao từ đó đưa ra tỷ lệ nhiễm bệnh trong ao. Đưa 10 con tôm về phòng và kiểm tra dưới kính hiển vi.
Lưu ý quan trọng:

  • Lấy từ 5 đến 10 mẫu để lưu kiểm tra bệnh.
  • Mẫu thử phải là mẫu có các dấu hiệu lâm sàng điển hình. Nếu việc này khó thực hiện, hãy kiểm tra cách lấy mẫu các phiên bản.
  • Ví dụ, ao có 5000 con tôm. Tỷ lệ chết là 2% / ngày (hoặc 100 tỷ lệ chết / ngày) và tôm chết có biểu hiện lâm sàng chung.
  • Nếu 10 mẫu tôm có dấu hiệu bệnh rõ ràng được lấy đi xét nghiệm và phát hiện 2 mẫu có kết quả bất thường thì KHÔNG THỂ kết luận tôm chết do bệnh làm biến đổi mô bệnh học. Bởi vì tất cả các cá thể bị nhiễm bệnh đã có các dấu hiệu điển hình của bệnh, nguyên nhân gây ra tổn thương phải được tìm thấy trong hầu hết các mẫu.
  • Mặt khác, trong trường hợp không thể lấy mẫu các biểu hiện bệnh điển hình thì nên lấy mẫu ngẫu nhiên. Nếu 2/10 mẫu xét nghiệm có tổn thương (20%) thì đủ kết luận tỷ lệ tử vong 2% / ngày liên quan trực tiếp đến tổn thương đó.
  • Mẫu xét nghiệm bệnh phải còn sống vì thủy sinh vật, động vật thủy sản sau khi chết 30 phút không còn phù hợp để xét nghiệm mô bệnh học.
Xem thêm:  Mẫu bảng điểm cá nhân

4. Phương pháp kiểm tra nhanh bệnh tôm
Kiểm tra tôm giống
Kiểm tra sức khỏe tôm giống dựa trên 9 chỉ tiêu quan sát dưới kính hiển vi.

Kiểm tra tôm nuôi
Mẫu bàn chải. Đánh giá tỷ lệ biểu hiện bệnh trên tôm ngay sau khi mẫu cá được thu thập. Lấy mẫu là một cách khá chính xác để kiểm tra tình trạng của tôm nuôi
Các đặc điểm bên ngoài cần đánh giá:

  • Cỡ tôm: đánh giá độ đồng đều, mức độ phát triển của đàn tôm theo ngày tuổi, từ đó đưa ra nhận định ban đầu về tình trạng sức khỏe của tôm. Nếu tôm quá nhỏ so với bình thường, có thể cho rằng tôm bị nhiễm bệnh gây chậm lớn. Nếu tôm bị lệch lớn, có thể giả thiết rằng tôm bị thiếu dinh dưỡng (thiếu khoáng hoặc thiếu dinh dưỡng) hoặc bị nhiễm các bệnh gây biến dạng kích thước.
  • Màu vỏ tôm: màu sắc tôm bình thường hoặc bất thường; tình trạng của các hạt sắc tố trên vỏ tôm. Có thể xem thêm về sự thay đổi màu sắc của tôm nuôi để đánh giá sơ bộ.
  • Tình trạng vỏ: Độ nhẵn hay độ lồi của vỏ cho biết tình trạng dinh dưỡng của tôm. Tôm giàu dinh dưỡng có vỏ bóng, khá dày, trong khi tôm bệnh thường có vỏ lồi lõm.

Ngoài ra, vỏ rất mỏng có / hoặc không do lột xác mà không cứng vỏ thường là dấu hiệu của môi trường thủy sinh kém và bị sốc nặng. Nếu trong chày có trên 5% tôm vỏ mỏng thì cần đặc biệt chú ý.

  • Hình dạng không đều: dị dạng (do các bệnh thông thường như ASDD hoặc IHHNV), gãy gai thùy, gãy râu, mòn chân bơi, bò, chóp đuôi (do đáy ao bẩn); Vỏ có đốm đen, đốm nâu, đốm trắng (do nhiễm vi khuẩn hoặc bệnh taura)
  • Đục cơ: tỷ lệ tôm / cá đục; Cơ thịt bị mờ (đốm, sọc hoặc toàn bộ tôm) luôn là dấu hiệu cho thấy tôm có sức khỏe kém.
Xem thêm:  Thông tư 233/2016/TT-BTC sửa đổi Thông tư 56/2014/TT-BTC và hướng dẫn Luật giá 2016

Tôm nhiễm EHP. các triệu chứng bệnh

  • Mang: Mang bình thường có màu trắng trong suốt. Mang đổi màu sang vàng, nâu hoặc đen, thường là do đáy ao bẩn và có nhiều chất hữu cơ trong nước. Ngoài ra, những vùng trắng như tuyết trên mang có thể bị hoại tử mang do bão hòa khí trong nước
  • Hệ tiêu hóa:

Hình dạng và màu sắc gan tụy: Gan tụy bình thường có màu vàng cam đến nâu. Khi tôm sắp lột xác, gan tụy có thể có màu vàng tươi hơn và kích thước lớn. Bao tử (hạt gạo): Bao tử của một con tôm bình thường khi mới nhú lên hầu như luôn chứa đầy thức ăn. Bụng đói là một tình trạng bệnh lý. Ruột tôm: luôn có thức ăn. Tùy theo thời điểm ăn, loại thức ăn mà ruột có màu sắc khác nhau. Ruột rỗng, lỏng và chứa đầy chất lỏng là một tình trạng bệnh lý. Dấu hiệu trên tôm bị bệnh
Xem nhanh dưới kính hiển vi:
Kiểm tra khả năng chịu lực:

  • Loại bỏ lớp giáp bao phủ mang.
  • Dùng bút ngoáy lá mang để nhỏ sẵn một giọt nước muối sạch.
  • Dùng một miếng lá lốt hoặc lá lốt, miết nhẹ cho lá mang phẳng và mỏng.
  • Quan sát kỹ dưới kính hiển vi X10 – x40.
  • Kiểm tra ký sinh trùng, làm sạch bên ngoài các vết bẩn
  • Hoặc mô mang có thể được nhuộm và kiểm tra bệnh.

Mang của tôm chắc và trong suốt. Mang tôm có màu vàng đục
Kiểm tra gan tụy:

  • Lấy gan tụy và đặt trên một lu sạch.
  • Dùng dao phẫu thuật cắt gan thành hai phần theo rãnh giữa (nếu gan tụy của tôm nhỏ có thể không cần cắt).
  • Đậy bằng một miếng vải thưa hoặc lam, bóp nhẹ để làm phẳng và mỏng gan tụy. Lưu ý, việc lấy mẫu và quan sát gan tụy cần nhanh chóng, tránh hiện tượng gan tụy tự phân làm thay đổi nhân dạng.

Bóp gan tụy tôm bằng phương pháp quan sát nhanh dưới kính hiển vi

  • Kiểm tra màu sắc dịch gan, các đốm hoặc vệt hắc tố (màu đen) trên gan, tình trạng của các ống dẫn gan tụy, tình trạng của các ống và tế bào gan tụy.
  • Nếu nghi ngờ tôm bị nhiễm các bệnh như BP (Baculovirus penaei type virus), MBV (Penaeus monodon-type baculoviruses), hoặc BMN (loại virus gây bệnh hoại tử tuyến giữa trực khuẩn), một vài ống gan tụy được cắt bỏ bằng kẹp và đặt vào một giọt. Nước biển sạch trên khè. Thêm 1 giọt xanh malachit 0,01%, đậy bằng lam và bóp mỏng mẫu gan tụy, kiểm tra nhiều lần trong vòng 5 phút để xác định trực khuẩn ẩn hoặc nhân gan tụy to. BP và MBV bắt màu xanh của thuốc nhuộm rất nhanh, các phần khác (ví dụ: nhân tế bào bình thường, giọt dầu) thì không.
Xem thêm:  Những dấu hiệu thiếu vitamin D sớm nhất

Gan tụy của tôm chuyển sang màu đen do melanization Gan tụy bị teo hoàn toàn, xuất hiện nhiều dải hắc tố Gan tôm khỏe được soi dưới kính hiển vi
Kiểm tra giữa kỳ:

  • Lấy phần ruột giữa để làm cùi.
  • Bóp hết phần chứa trong ruột, thêm một giọt nước biển vào chất đã loại bỏ và kiểm tra:
  • Chất dinh dưỡng hoặc dạng bào tử của gregarin
  • Thể vùi Baculovirus (MBV hoặc BP)

Ngoài ra, còn có một cách khác để kiểm tra tình trạng ruột non như sau: cho tôm mổ hết phân, cắt bỏ vỏ trên lưng tôm, dùng dao mổ xẻ lấy phần cơ để lấy ruột và nhẹ nhàng bỏ ruột và đặt nó vào. què. Đổ thêm một ít nước lên trên, bóp bằng khơ và soi dưới kính hiển vi để kiểm tra kết cấu của ruột. Thành ruột hoại tử, mất cấu trúc (mũi tên đen) do nhiễm độc tảo lam. Các sợi vi khuẩn lam có thể nhìn thấy trong ruột tôm (mũi tên đỏ)

Kiểm tra tập hợp con:

  • Phụ kiện thường dùng để kiểm tra tình trạng lột xác, sinh vật lạ bám vào, nhiễm khuẩn trên tôm nuôi.

Chuẩn bị các mẫu chân bơi, đầu đuôi và vỏ ngoài để kiểm tra ngoại ký sinh bằng kính hiển vi và tình trạng thay lông. Tôm ở giai đoạn D – trước khi lột xác và nhiễm bệnh (đốm đen) Lưu ý rằng việc kiểm tra bệnh được thực hiện trên tôm chỉ là một trong ba phần quan trọng để đưa ra định hướng cho tình trạng ao nuôi. 2 phần còn lại là kiểm tra các thông số chất lượng nước và lịch sử ao nuôi.
5. Đánh giá mức độ bệnh

Nguồn: Theo thanhtomtep.com
Vui lòng ghi rõ nguồn thuysan247.com khi sao chép bài viết này.
Liên hệ để biết thông tin và gửi bài cộng tác qua email [email protected]Nhấn nút “quan tâm” nếu bạn muốn nhận thông tin cập nhật từ chúng tôi trên Zalo.

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Kinh nghiệm chuẩn đoán bệnh tôm trong phòng lab❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Kinh nghiệm chuẩn đoán bệnh tôm trong phòng lab” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Kinh nghiệm chuẩn đoán bệnh tôm trong phòng lab [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Kinh nghiệm chuẩn đoán bệnh tôm trong phòng lab” được đăng bởi vào ngày 2022-06-03 15:07:31. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button