Kiểm soát tỉ lệ tử vong của cá hồi vân nhiễm virus IPNV và VHSV

Cá hồi vân Báo cáo của Saeed Ganjoor M và cộng sự năm 2016 cho thấy việc xử lý nước bằng chất khử trùng chloramin-T làm giảm tỷ lệ chết của cá hồi vân (Virus Onc là tác nhân gây ra nhiều bệnh nguy hiểm ở cá nuôi bởi nó gây ra tỷ lệ chết cao và thiệt hại về kinh tế. 2 các bệnh virus quan trọng của cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) là Hoại tử tuyến tụy nhiễm trùng (IPNV) và bệnh tật Xuất huyết do vi rút (VHSV)Đây là những loại vi rút gây bệnh chủ yếu trên cá nhỏ và gây chết cao. Bệnh hoại tử tuyến tụy truyền nhiễm (IPNV) ở cá hồi. Ảnh: ResearchGate
Hoại tử tuyến tụy nhiễm trùng (IPNV) là một bệnh truyền nhiễm do vi rút gây ra, ảnh hưởng đến nhiều loài cá ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới, rất dễ lây lan và gây thiệt hại cho cá hồi con được nuôi trong điều kiện thâm canh. Bệnh thường xảy ra nhất ở cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss), cá hồi hương (Salvelinus fontinalis), cá hồi nâu (Salmo trutta), cá hồi Đại Tây Dương (Salmo salar) và một số loài cá hồi khác (Oncorhynchus spp.). Độ nhạy cảm của cá thường giảm khi tuổi càng cao. Các dấu hiệu lâm sàng bao gồm sưng mắt, da sẫm màu, bơi theo hình xoắn ốc và bụng phình to. Tỷ lệ chết tích lũy có thể thay đổi từ ít hơn 10% đến hơn 90% tùy thuộc vào sự kết hợp của một số yếu tố như chủng và số lượng vi rút, vật chủ và điều kiện môi trường. Bệnh lây truyền theo chiều ngang của nước và theo chiều dọc của trứng. Tác nhân gây bệnh IPNV, là một loại vi rút RNA thuộc họ Birnaviridae. Các biện pháp kiểm soát hiện đang được thực hiện là thực hành an toàn sinh học trong nuôi cá hồi thông qua việc tránh sử dụng trứng đã thụ tinh từ cá bố mẹ mang IPNV và sử dụng nguồn cung cấp nước an toàn. Trong thời gian bùng phát dịch bệnh, giữ cá hồi ở mật độ thích hợp có thể giúp giảm tỷ lệ tử vong. Hiện tại không có phương pháp điều trị hoặc vắc xin nào hoàn toàn hiệu quả.

Xem thêm:  Lịch chiếu phim Mùa hoa tìm lại - VTV3

Bệnh xuất huyết do vi rút (VHSV) ở cá hồi. Ảnh: montanaoutdoor
Virus VHS Novirhabdovirus thuộc họ Rhabdoviridae là tác nhân gây bệnh cho nhiều động vật thủy sinh. Nó lây nhiễm cho 48 loài cá. VHSV thuộc giống Novirhabdovirus, trong họ Rhabdoviridae. Cá bị nhiễm bệnh có thể có các dấu hiệu lâm sàng không đặc hiệu trong giai đoạn đầu của quá trình nhiễm bệnh, bao gồm chết nhanh (có thể đạt 100% ở cá bột), hôn mê, có thể lồi một mắt hoặc cả hai mắt, mang nhợt nhạt, có thể có chấm xuất huyết, xuất huyết (vây, mang, mắt, da), và bụng phình to. Ngoài ra, cá còn có những tập tính bơi khác thường như bơi theo hình xoắn ốc. Đây là một bệnh nước lạnh có tỷ lệ tử vong cao nhất ở nhiệt độ khoảng 9-12 ° C. Cá hồi vân nhỏ (0,3-3 g) nhạy cảm nhất với tỷ lệ chết gần 100%. Một số chất kích thích miễn dịch như beta-glucans có nguồn gốc từ nấm men, peptide có nguồn gốc từ IL-1 và chế phẩm sinh học đã được đánh giá để tăng cường khả năng bảo vệ chống lại VHS. Kiểm soát tỷ lệ tử vong của cá hồi vân khi bị nhiễm vi rút Chloramin-T là một hợp chất khử trùng được áp dụng để vô hiệu hóa một số mầm bệnh. Công thức của cloramin-T là C7H7ClNO2S.Na (3H2O). Chloramin-T là chất bột màu trắng. Độ hòa tan của nó trong nước là 150 g / L (ở 25 °). Vào mùa đông năm 2015, các nhà khoa học đã quan sát tỷ lệ chết của cá hồi vân trong một số trại giống ở Iran. Biểu hiện là bơi theo hình xoắn ốc, da sạm đen, bụng chướng và chán ăn. Lúc đầu, tỷ lệ chết thấp nhưng tăng dần trong vài ngày sau đó. Đầu tiên, một số cá con được lấy mẫu từ mỗi bể và gửi đến phòng thí nghiệm để phát hiện mầm bệnh. Sau đó, 9 bể được chọn và nhóm thành 3 nghiệm thức (kiểm soát, điều trị-1 và điều trị-2). Xử lý đối chứng gồm 3 bể không tử vong. Nghiệm thức-1 và Xử lý-2 có tỷ lệ tử vong cao do nhiễm virus trong trang trại. Sau đó, 10 ppm chloramin-T làm chất khử trùng được thêm vào mỗi bể xử lý-1 trong 1 giờ trong 3 ngày liên tục (3 lần). Bể xử lý-2 không thêm thuốc. Sau 7 ngày tỷ lệ chết của cá bột trong mỗi bể được ước tính và so sánh với nhau. Tỷ lệ sống sót trong các bể xử lý-1 là khoảng 76% trong khi tỷ lệ sống sót trong các bể xử lý-2 là khoảng 27%. Một tháng sau, kết quả kiểm tra được báo cáo. Kết quả cho thấy cá của bể đối chứng là an toàn (không có mầm bệnh) trong khi cá của nghiệm thức 1 và nghiệm thức 2 bị nhiễm vi rút IPN và vi rút VHS dựa trên xét nghiệm RT-PCR. Dựa trên nghiên cứu này, chloramin-T làm giảm tỷ lệ chết ở cá bị nhiễm IPNV và VHSV. Khi cá hồi vân bị bệnh, tỷ lệ chết sẽ tăng dần, điều quan trọng là người nuôi phải kiểm soát được bệnh vào ngày thứ 10, nếu không tỷ lệ chết sẽ tăng cao, gây thiệt hại về tài chính. Các bài kiểm tra trong phòng thí nghiệm rất tốn thời gian; Họ cần 3-10 ngày để có kết quả. Do đó, hoạt động tốt nhất trước khi có kết quả phòng thí nghiệm và sử dụng chất khử trùng. Chloramin-T là một lựa chọn khả thi, vì 30 gam chloramin-T là đủ cho 20.000 cá con được an toàn. Vì vậy, một nhà sản xuất hạt giống cá hồi vân có thể áp dụng nó trong khi nghĩ rằng một căn bệnh do virus sẽ xuất hiện.

Xem thêm:  Từng là điểm nóng sốt đất điên cuồng, đất nền nơi này liệu có sôi động trở lại?
Nguồn: Theo omicsonline.org
Vui lòng ghi rõ nguồn thuysan247.com khi sao chép bài viết này.
Liên hệ để biết thông tin và gửi bài cộng tác qua email [email protected]Nhấn nút “quan tâm” nếu bạn muốn nhận thông tin cập nhật từ chúng tôi trên Zalo.

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Kiểm soát tỉ lệ tử vong của cá hồi vân nhiễm virus IPNV và VHSV❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Kiểm soát tỉ lệ tử vong của cá hồi vân nhiễm virus IPNV và VHSV” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Kiểm soát tỉ lệ tử vong của cá hồi vân nhiễm virus IPNV và VHSV [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Kiểm soát tỉ lệ tử vong của cá hồi vân nhiễm virus IPNV và VHSV” được đăng bởi vào ngày 2022-06-04 12:46:55. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button