Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12

Tìm hiểu Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12 sẽ giúp các em có cơ sở để khám phá, lí giải và hiểu sâu hơn về tác phẩm. Bài viết dưới đây sẽ là tài liệu hữu ích, hỗ trợ các em trong quá trình học tập môn Ngữ văn.

Mục lục bài viết:
1. Hoàn cảnh sáng tác Tuyên ngôn độc lập
2. Hoàn cảnh sáng tác Tây Tiến
3. Hoàn cảnh sáng tác Việt Bắc
4. Hoàn cảnh sáng tác Sóng
5. Hoàn cảnh sáng tác Đàn ghi ta của Lorca
6. Hoàn cảnh sáng tác Người lái đò sông Đà
7. Hoàn cảnh sáng tác Ai đã đặt tên cho dòng sông
8. Hoàn cảnh sáng tác Đất nước
9. Hoàn cảnh sáng tác Tiếng hát con tàu
10. Hoàn cảnh sáng tác Vợ chồng A Phủ
11. Hoàn cảnh sáng tác Vợ nhặt
12. Hoàn cảnh sáng tác Những đứa con trong gia đình
13. Hoàn cảnh sáng tác Chiếc thuyền ngoài xa
14. Hoàn cảnh sáng tác Rừng xà nu
15. Hoàn cảnh sáng tác Hồn Trương Ba, da hàng thịt
16. Hoàn cảnh sáng tác Dọn về làng

hoan canh sang tac cac tac pham van hoc 12

Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12

1. Hoàn cảnh sáng tác Tuyên ngôn độc lập

* Hoàn cảnh lịch sử:

– Bọn thực dân “núp bóng” sau quân Đồng minh vào tước khí giới Nhật có âm mưu đánh chiếm nước ta một lần nữa; thực dân Pháp với cái cớ Nhật đã đầu hàng nên Đông Dương thuộc quyền sở hữu của Pháp

– Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công (ngày 19/8/1945), 7 ngày sau đó, tức ngày 26/8/1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Trong căn nhà số 48, đường Hàng Ngang, Người đã soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập để ngày 2/9/1945, đọc trước quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

* Mục đích sáng tác Tuyên ngôn độc lập

– Tuyên bố trước toàn bộ đồng bào cả nước, nhân dân thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân trên đất nước Việt Nam
– Chính thức khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Nam
– Tố cáo tội ác và luận điệu xảo trá của thực dân Pháp với danh nghĩa “khai hóa văn minh”
– Đập tan âm mưu đánh chiếm nước ta một lần nữa của bọn đế quốc thực dân
– Khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

2. Hoàn cảnh sáng tác Tây Tiến

– Binh đoàn Tây Tiến được thành lập năm 1947 với nhiệm vụ chính là phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng địch -> Quang Dũng từng giữ chức Đại đội trưởng.
– Cuối năm 1948, Quang Dũng nhận được lệnh chuyển sang đơn vị khác, tại Phù Lưu Chanh, trong cảm xúc nghẹn ngào, lưu luyến của giây phút chia li, Quang Dũng đã viết bài thơ Tây Tiến.

3. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Việt Bắc

Dấu mốc là ngày 21/ tháng 7/ năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ (hiệp định đình chiến) chính thức được kí kết sau 75 ngày tiến hành đàm phán giữa các bên tại thành phố Geneve (Thụy Sĩ). Nội dung Hiệp định tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân ở Đông Dương, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương. Tháng 10 cùng năm, Bác Hồ cùng cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc để về thủ đô Hà Nội.
=> Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác nhân sự kiện trọng đại đó

– Nội dung chính: Tổng kết/ tái hiện lại giai đoạn lịch sử đầy khó khăn nhưng cũng đầy hào hùng của dân tộc; ca ngợi sự gắn bó ân tình thủy chung, khăng khít giữa cán bộ cách mạng với người dân Việt Bắc; ca ngợi công ơn Hồ Chủ Tịch, Đảng cách mạng đã soi đường chỉ lối cho dân tộc ta đi đến thắng lợi vẻ vang; niềm tin, niềm hi vọng vào tương lai tươi sáng của đất nước khi có Bác, có Đảng lãnh đạo.

4. Hoàn cảnh sáng tác Sóng

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ “Sóng” được Xuân Quỳnh sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền – Thái Bình. “Sóng” là bài thơ viết về những cung bậc cảm xúc phức tạp trong tâm hồn người con gái khi yêu, bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ dịu dàng, nữ tính của nữ sĩ Xuân Quỳnh.

– Nội dung chính của tác phẩm: Bài thơ “Sóng” diễn tả tình yêu thiết tha, nồng nàn, son sắt cùng những khao khát muốn vượt lên thử thách của thời gian để bất tử hóa tình yêu của người phụ nữ.

5. Hoàn cảnh sáng tác Đàn ghi ta của Lorca

* Hoàn cảnh sáng tác Đàn Ghita của Lorca:

– Trước đó, Thanh Thảo đã có cơ hội được đọc những bài thơ của Lorca, thậm chí chép lại những bản dịch vào cuốn sổ tay và mang ra chiến trường nhưng chưa hiểu rõ về nhà thơ này.
– Cho đến năm 1979, sau khi được nghe câu chuyện về cuộc đời và cái chết của nhà cách mạng, người nghệ sĩ chân chính Lorca, vì ngưỡng mộ nhà thơ tài hoa Tây Ban Nha này, Thanh Thảo đã viết bài thơ Đàn ghita của Lorca.

* Nội dung chính tác phẩm: Qua bài thơ, Thanh Thảo đã làm nổi bật hình tượng người nghệ sĩ Lorca với khát vọng cải cách, cách tân nghệ thuật; một người chiến sĩ dành cả cuộc đời đấu tranh cho tự do, công bằng, công lí. Cũng qua đây, tác giả cũng đã thể hiện nỗi xót thương, sự cảm thông cũng như sự ngưỡng mộ đối với tài năng, nhân cách của người nghệ sĩ chân chính.

6. Hoàn cảnh sáng tác Người lái đò sông Đà

– Hoàn cảnh ra đời Người lái đò sông Đà:

Giai đoạn 1958 – 1960, đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc, miền Nam anh hùng chiến đấu chống Mĩ ngụy, miền Bắc đi lên tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước tiến hành chủ trương vận động nhân dân miền xuôi lên vùng Tây Bắc để xây dựng vùng kinh tế mới.

Theo chủ trương đường lối vận động của Nhà nước, giới văn nghệ sĩ cũng hồ hởi ngược lên Tây Bắc để khám phá cuộc sống mới cũng như tìm kiếm cho mình mạch nguồn cảm hứng sáng tác. Vốn là người phóng túng, ưa sự dịch chuyển, Nguyễn Tuân đã lên đường đến nhiều vùng đất, cùng chung sống ăn ở với bộ đội và bà con dân tộc để khám phá cảnh sắc thiên nhiên cũng như tìm kiếm “thứ vàng mười” trong cảnh và người nơi đây. Tùy bút Người lái đò sông Đà chính là kết quả của chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của người nghệ sĩ tài hoa này.

– Nội dung chính: Những khám phá hết sức độc đáo và tinh tế của Nguyễn Tuân về vẻ đẹp, hình thái khác nhau của thiên nhiên Tây Bắc, cụ thể là dòng Đà giang. Bên cạnh đó, ông cũng phát hiện và ca ngợi sự cần cù, chăm chỉ lao động, sự tài hoa, chất nghệ sĩ, “thứ vàng mười” ẩn chứa bên trong những con người lao động nơi đây.

7. Hoàn cảnh sáng tác Ai đã đặt tên cho dòng sông?

– Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm được viết vào năm 1981 và in trong tập bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? (năm 1986). Tập kí được Hoàng Phủ Ngọc Tường viết sau ngày hòa bình lập lại, non sông thu về một mối, cảm hứng chủ nghĩa anh hùng bao trùm toàn bộ các sáng tác văn chương nghệ thuật.

– Chủ đề tác phẩm: Tình yêu quê hương, đất nước gắn với tình yêu thiên nhiên và tự hào về giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

– Nội dung chính: Khám phá vẻ đẹp của dòng sông Hương Giang trên các mặt: Địa lí, lịch sử, văn hóa, thơ ca,…; qua đó thể hiện tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào đối với vẻ đẹp của dòng sông quê hương cũng như thấy được sự tài hoa, vốn kiến thức phong phú, đa dạng của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.

8. Hoàn cảnh sáng tác Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

 – Hoàn cảnh sáng tác Đất nước: Đoạn trích nằm ở phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng. Tác phẩm đồ sộ này được ông viết ở chiến khu Trị Thiên năm 1971 trong những năm tháng chiến tranh chống Mĩ đầy ác liệt, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trực tiếp cầm súng chiến đấu trên chiến trường. “Mặt đường khát vọng” với ý nghĩa thức tỉnh tuổi trẻ, bồi đắp thêm tình yêu quê hương đất nước, nhân dân, ý thức về trách nhiệm của bản thân cần hòa cùng cuộc chiến đấu của dân tộc, tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân.

– Nội dung khái quát đoạn trích: Tác phẩm là cách khám phá đất nước trên các bình diện khác nhau của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đặc biệt làm nổi bật lên tư tưởng đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại.

9. Hoàn cảnh sáng tác Tiếng hát con tàu

– Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:
+ Bối cảnh đất nước: Mới hàn gắn xong vết thương chiến tranh, miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây cũng là thời kì đất nước đang hồi sinh mạnh mẽ, cuộc sống mới đang nở hoa, niềm vui cuộc sống nhân dân đang vẫy gọi.
+ Nguồn cảm hứng: Từ chủ trương chính trị của Đảng di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới trên vùng núi Tây Bắc (1955 – 1960) đã khơi dậy trong tâm hồn thi sĩ niềm khát khao muốn tìm đến để hòa nhập với cái Ta chung của dân tộc, từ bỏ chốn phồn hoa đô thị để đồng cam cộng khổ với cuộc sống nhân dân và để tìm lại nguồn cảm hứng thi ca đã bị thui chột, bào mòn trong những năm tháng chiến tranh.

– Nội dung chính bài thơ: “Tiếng hát con tàu” là niềm khao khát của một hồn thơ muốn được lên đường để hòa nhập với cuộc sống nhân dân, muốn vứt bỏ lối sống ích kỉ với cái Tôi cá nhân, để lòng đóng khép với cuộc đời trước đó.

10. Hoàn cảnh sáng tác Vợ chồng A Phủ

– Hoàn cảnh sáng tác: “Vợ chồng A Phủ” là một trong ba truyện ngắn thuộc tập “Truyện Tây Bắc”, được sáng tác năm 1952, khi Tô Hoài đi bộ đội vào giải phóng Tây Bắc. Trong chuyến đi dài tám tháng ấy, Tô Hoài đã sống, tiếp xúc và hiểu biết sâu hơn về cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi.

– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” lên án tội ác của giai cấp thống trị đồng thời khẳng định và ngợi ca sức sống tiềm tàng, khát vọng tự do ở người dân lao động vùng cao Tây Bắc.

11. Hoàn cảnh sáng tác Vợ nhặt

– Hoàn cảnh sáng tác: Tiền thân của truyện ngắn “Vợ nhặt” là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” (1946) được tác giả Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau đó, vào năm 1954, tác giả viết thành truyện “Vợ nhặt” dựa vào phần cốt truyện cũ, in trong tập “Con chó xấu xí” (1962).

– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Truyện ngắn “Vợ nhặt” – Kim Lân đã phản ánh nạn đói khủng khiếp năm 1945 của đồng bào ta do thực dân Pháp, phát xít Nhật gây nên đồng thời ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất, niềm khao khát hạnh phúc gia đình và niềm tin vào tương lai tươi sáng của người dân lao động.

12. Hoàn cảnh sáng tác Rừng xà nu

Vào năm 1965, Mĩ kéo quân ồ ạt vào miền Nam với chiến dịch càn quét và diệt tận gốc Việt cộng. Tháng 3/1965, chúng đổ quân vào bãi biển Chu Lai bắt đầu cuộc chiến tranh Cục bộ. Trong tình thế căng thẳng, “ngàn cân treo sợi tóc” ấy, nhà văn Nguyên Ngọc đã sáng tác truyện ngắn Rừng xà nu như một hình thức cổ vũ, động viên tinh thần nhân dân đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do cho dân tộc đầy hữu hiệu. Đây cũng là tác phẩm khẳng định tinh thần dũng cảm, bất khuất, kiên cường của đồng bào Tây Nguyên anh hùng nói riêng và toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.

13. Hoàn cảnh sáng tác Những đứa con trong gia đình

– Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” được Nguyễn Thi sáng tác vào tháng 2 năm 1966, ngay trong thời điểm cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt, khi ông công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.

– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Truyện thể hiện mối quan hệ sâu sắc giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc. Chính sự gắn bó sâu nặng ấy đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn cho con người, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

14. Hoàn cảnh sáng tác Chiếc thuyền ngoài xa

– Hoàn cảnh sáng tác:

+ Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” được sáng tác vào tháng 8/1983, khi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ kết thúc thắng lợi, cả dân tộc đang bước vào giai đoạn đổi mới.
+ Truyện ngắn này thuộc giai đoạn sáng tác thứ hai trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu – từ ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mãn sang cảm hứng thế sự với những vấn đề về đạo đức và triết lí nhân sinh.

– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Thông qua câu chuyện về bức ảnh nghệ thuật, “Chiếc thuyền ngoài xa” đã mang đến bài học sâu sắc về cách nhìn nhận con người và cuộc sống: cần phải có một cái nhìn đa diện, nhiều chiều khi đánh giá con người, sự vật. Đồng thời gửi gắm những quan niệm đúng đắn về nghệ thuật, về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.

15. Hoàn cảnh sáng tác Hồn trương Ba, da hàng thịt

– Hoàn cảnh sáng tác: Đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được trích từ cảnh VII và đoạn kết của vở kịch, được sáng tác từ năm 1981 và ra mắt công chúng lần đầu năm 1984.

– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Đoạn trích khắc họa tình cảnh trớ trêu, đau khổ của Trương Ba khi rơi vào mẫu thuẫn giữa bên trong và bên ngoài, giữa tâm hồn thanh cao và thân xác anh hàng thịt, từ đó làm nổi bật ý nghĩa phê phán cùng những triết lí nhân văn.

16. Hoàn cảnh sáng tác Dọn về làng

– Cuộc chiến tranh biên giới kết thúc thắng lợi, hòa cùng không khí chiến thắng của nhân dân cả nước nói chung và nhân dân miền núi nói riêng, Nông Quốc Chấn đã viết lên những vần thơ này. Bài thơ chất chứa những tình cảm chân thành mà thắm thiết và niềm vui, tự hào của tác giả đối với nhân dân trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp đau thương nhưng cũng không kém phần hào hùng. Đây cũng là chiến thắng mang đầy ý nghĩa đối với người dân miền núi khi đã thoát khỏi sự bóc lột, đàn áp của thực dân Pháp.

Xem thêm:  That kind of thing là gì

—————–HẾT——————-

https://thuthuat.taimienphi.vn/hoan-canh-sang-tac-cac-tac-pham-van-hoc-12-69461n.aspx
Bên cạnh hoàn cảnh sáng tác, tìm hiểu nhan đề cũng là một bước quan trọng giúp em hiểu rõ hơn về chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. ABC Land xin giới thiệu tới các em bài viết Ý nghĩa nhan đề các tác phẩm Ngữ văn lớp 12. Chúc các em học tốt!

Nội dung trên đây,admin Abcland.Vn đã tổng hợp và gửi tới bạn đọc chi tiết về chủ đề “Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12❤️️”. Admin hy vọng bài viết chúng tôi chia sẻ về “Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12” sẽ giúp có nhiều thông tin hơn về “Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12 [ ❤️️❤️️ ]”. Hãy đóng góp ý kiến để abcland.vn biên soạn bài viết chất lượng hơn về “Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12” bạn nhé.

Bài viết “Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12” được đăng bởi vào ngày 2022-04-27 01:45:25. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Xem thêm về Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12
#Hoàn #cảnh #sáng #tác #các #tác #phẩm #văn #học

Tìm hiểu Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12 sẽ giúp các em có cơ sở để khám phá, lí giải và hiểu sâu hơn về tác phẩm. Bài viết dưới đây sẽ là tài liệu hữu ích, hỗ trợ các em trong quá trình học tập môn Ngữ văn.
Mục lục bài viết:1. Hoàn cảnh sáng tác Tuyên ngôn độc lập
2. Hoàn cảnh sáng tác Tây Tiến
3. Hoàn cảnh sáng tác Việt Bắc
4. Hoàn cảnh sáng tác Sóng
5. Hoàn cảnh sáng tác Đàn ghi ta của Lorca
6. Hoàn cảnh sáng tác Người lái đò sông Đà
7. Hoàn cảnh sáng tác Ai đã đặt tên cho dòng sông
8. Hoàn cảnh sáng tác Đất nước
9. Hoàn cảnh sáng tác Tiếng hát con tàu
10. Hoàn cảnh sáng tác Vợ chồng A Phủ
11. Hoàn cảnh sáng tác Vợ nhặt
12. Hoàn cảnh sáng tác Những đứa con trong gia đình
13. Hoàn cảnh sáng tác Chiếc thuyền ngoài xa
14. Hoàn cảnh sáng tác Rừng xà nu
15. Hoàn cảnh sáng tác Hồn Trương Ba, da hàng thịt
16. Hoàn cảnh sáng tác Dọn về làng

Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12

1. Hoàn cảnh sáng tác Tuyên ngôn độc lập
* Hoàn cảnh lịch sử:
– Bọn thực dân “núp bóng” sau quân Đồng minh vào tước khí giới Nhật có âm mưu đánh chiếm nước ta một lần nữa; thực dân Pháp với cái cớ Nhật đã đầu hàng nên Đông Dương thuộc quyền sở hữu của Pháp
– Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công (ngày 19/8/1945), 7 ngày sau đó, tức ngày 26/8/1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Trong căn nhà số 48, đường Hàng Ngang, Người đã soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập để ngày 2/9/1945, đọc trước quảng trường Ba Đình, Hà Nội.
* Mục đích sáng tác Tuyên ngôn độc lập
– Tuyên bố trước toàn bộ đồng bào cả nước, nhân dân thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân trên đất nước Việt Nam
– Chính thức khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Nam
– Tố cáo tội ác và luận điệu xảo trá của thực dân Pháp với danh nghĩa “khai hóa văn minh”
– Đập tan âm mưu đánh chiếm nước ta một lần nữa của bọn đế quốc thực dân
– Khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.
2. Hoàn cảnh sáng tác Tây Tiến
– Binh đoàn Tây Tiến được thành lập năm 1947 với nhiệm vụ chính là phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng địch -> Quang Dũng từng giữ chức Đại đội trưởng.
– Cuối năm 1948, Quang Dũng nhận được lệnh chuyển sang đơn vị khác, tại Phù Lưu Chanh, trong cảm xúc nghẹn ngào, lưu luyến của giây phút chia li, Quang Dũng đã viết bài thơ Tây Tiến.
3. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Việt Bắc
Dấu mốc là ngày 21/ tháng 7/ năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ (hiệp định đình chiến) chính thức được kí kết sau 75 ngày tiến hành đàm phán giữa các bên tại thành phố Geneve (Thụy Sĩ). Nội dung Hiệp định tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân ở Đông Dương, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương. Tháng 10 cùng năm, Bác Hồ cùng cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc để về thủ đô Hà Nội.
=> Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác nhân sự kiện trọng đại đó
– Nội dung chính: Tổng kết/ tái hiện lại giai đoạn lịch sử đầy khó khăn nhưng cũng đầy hào hùng của dân tộc; ca ngợi sự gắn bó ân tình thủy chung, khăng khít giữa cán bộ cách mạng với người dân Việt Bắc; ca ngợi công ơn Hồ Chủ Tịch, Đảng cách mạng đã soi đường chỉ lối cho dân tộc ta đi đến thắng lợi vẻ vang; niềm tin, niềm hi vọng vào tương lai tươi sáng của đất nước khi có Bác, có Đảng lãnh đạo.
4. Hoàn cảnh sáng tác Sóng
– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ “Sóng” được Xuân Quỳnh sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền – Thái Bình. “Sóng” là bài thơ viết về những cung bậc cảm xúc phức tạp trong tâm hồn người con gái khi yêu, bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ dịu dàng, nữ tính của nữ sĩ Xuân Quỳnh.
– Nội dung chính của tác phẩm: Bài thơ “Sóng” diễn tả tình yêu thiết tha, nồng nàn, son sắt cùng những khao khát muốn vượt lên thử thách của thời gian để bất tử hóa tình yêu của người phụ nữ.
5. Hoàn cảnh sáng tác Đàn ghi ta của Lorca
* Hoàn cảnh sáng tác Đàn Ghita của Lorca:
– Trước đó, Thanh Thảo đã có cơ hội được đọc những bài thơ của Lorca, thậm chí chép lại những bản dịch vào cuốn sổ tay và mang ra chiến trường nhưng chưa hiểu rõ về nhà thơ này.
– Cho đến năm 1979, sau khi được nghe câu chuyện về cuộc đời và cái chết của nhà cách mạng, người nghệ sĩ chân chính Lorca, vì ngưỡng mộ nhà thơ tài hoa Tây Ban Nha này, Thanh Thảo đã viết bài thơ Đàn ghita của Lorca.
* Nội dung chính tác phẩm: Qua bài thơ, Thanh Thảo đã làm nổi bật hình tượng người nghệ sĩ Lorca với khát vọng cải cách, cách tân nghệ thuật; một người chiến sĩ dành cả cuộc đời đấu tranh cho tự do, công bằng, công lí. Cũng qua đây, tác giả cũng đã thể hiện nỗi xót thương, sự cảm thông cũng như sự ngưỡng mộ đối với tài năng, nhân cách của người nghệ sĩ chân chính.
6. Hoàn cảnh sáng tác Người lái đò sông Đà
– Hoàn cảnh ra đời Người lái đò sông Đà:
Giai đoạn 1958 – 1960, đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc, miền Nam anh hùng chiến đấu chống Mĩ ngụy, miền Bắc đi lên tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước tiến hành chủ trương vận động nhân dân miền xuôi lên vùng Tây Bắc để xây dựng vùng kinh tế mới.
Theo chủ trương đường lối vận động của Nhà nước, giới văn nghệ sĩ cũng hồ hởi ngược lên Tây Bắc để khám phá cuộc sống mới cũng như tìm kiếm cho mình mạch nguồn cảm hứng sáng tác. Vốn là người phóng túng, ưa sự dịch chuyển, Nguyễn Tuân đã lên đường đến nhiều vùng đất, cùng chung sống ăn ở với bộ đội và bà con dân tộc để khám phá cảnh sắc thiên nhiên cũng như tìm kiếm “thứ vàng mười” trong cảnh và người nơi đây. Tùy bút Người lái đò sông Đà chính là kết quả của chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của người nghệ sĩ tài hoa này.
– Nội dung chính: Những khám phá hết sức độc đáo và tinh tế của Nguyễn Tuân về vẻ đẹp, hình thái khác nhau của thiên nhiên Tây Bắc, cụ thể là dòng Đà giang. Bên cạnh đó, ông cũng phát hiện và ca ngợi sự cần cù, chăm chỉ lao động, sự tài hoa, chất nghệ sĩ, “thứ vàng mười” ẩn chứa bên trong những con người lao động nơi đây.
7. Hoàn cảnh sáng tác Ai đã đặt tên cho dòng sông?
– Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm được viết vào năm 1981 và in trong tập bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? (năm 1986). Tập kí được Hoàng Phủ Ngọc Tường viết sau ngày hòa bình lập lại, non sông thu về một mối, cảm hứng chủ nghĩa anh hùng bao trùm toàn bộ các sáng tác văn chương nghệ thuật.
– Chủ đề tác phẩm: Tình yêu quê hương, đất nước gắn với tình yêu thiên nhiên và tự hào về giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
– Nội dung chính: Khám phá vẻ đẹp của dòng sông Hương Giang trên các mặt: Địa lí, lịch sử, văn hóa, thơ ca,…; qua đó thể hiện tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào đối với vẻ đẹp của dòng sông quê hương cũng như thấy được sự tài hoa, vốn kiến thức phong phú, đa dạng của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.
8. Hoàn cảnh sáng tác Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm
 – Hoàn cảnh sáng tác Đất nước: Đoạn trích nằm ở phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng. Tác phẩm đồ sộ này được ông viết ở chiến khu Trị Thiên năm 1971 trong những năm tháng chiến tranh chống Mĩ đầy ác liệt, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trực tiếp cầm súng chiến đấu trên chiến trường. “Mặt đường khát vọng” với ý nghĩa thức tỉnh tuổi trẻ, bồi đắp thêm tình yêu quê hương đất nước, nhân dân, ý thức về trách nhiệm của bản thân cần hòa cùng cuộc chiến đấu của dân tộc, tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân.
– Nội dung khái quát đoạn trích: Tác phẩm là cách khám phá đất nước trên các bình diện khác nhau của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đặc biệt làm nổi bật lên tư tưởng đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại.
9. Hoàn cảnh sáng tác Tiếng hát con tàu
– Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:
+ Bối cảnh đất nước: Mới hàn gắn xong vết thương chiến tranh, miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây cũng là thời kì đất nước đang hồi sinh mạnh mẽ, cuộc sống mới đang nở hoa, niềm vui cuộc sống nhân dân đang vẫy gọi.
+ Nguồn cảm hứng: Từ chủ trương chính trị của Đảng di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới trên vùng núi Tây Bắc (1955 – 1960) đã khơi dậy trong tâm hồn thi sĩ niềm khát khao muốn tìm đến để hòa nhập với cái Ta chung của dân tộc, từ bỏ chốn phồn hoa đô thị để đồng cam cộng khổ với cuộc sống nhân dân và để tìm lại nguồn cảm hứng thi ca đã bị thui chột, bào mòn trong những năm tháng chiến tranh.
– Nội dung chính bài thơ: “Tiếng hát con tàu” là niềm khao khát của một hồn thơ muốn được lên đường để hòa nhập với cuộc sống nhân dân, muốn vứt bỏ lối sống ích kỉ với cái Tôi cá nhân, để lòng đóng khép với cuộc đời trước đó.
10. Hoàn cảnh sáng tác Vợ chồng A Phủ
– Hoàn cảnh sáng tác: “Vợ chồng A Phủ” là một trong ba truyện ngắn thuộc tập “Truyện Tây Bắc”, được sáng tác năm 1952, khi Tô Hoài đi bộ đội vào giải phóng Tây Bắc. Trong chuyến đi dài tám tháng ấy, Tô Hoài đã sống, tiếp xúc và hiểu biết sâu hơn về cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi.
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” lên án tội ác của giai cấp thống trị đồng thời khẳng định và ngợi ca sức sống tiềm tàng, khát vọng tự do ở người dân lao động vùng cao Tây Bắc.
11. Hoàn cảnh sáng tác Vợ nhặt
– Hoàn cảnh sáng tác: Tiền thân của truyện ngắn “Vợ nhặt” là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” (1946) được tác giả Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau đó, vào năm 1954, tác giả viết thành truyện “Vợ nhặt” dựa vào phần cốt truyện cũ, in trong tập “Con chó xấu xí” (1962).
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Truyện ngắn “Vợ nhặt” – Kim Lân đã phản ánh nạn đói khủng khiếp năm 1945 của đồng bào ta do thực dân Pháp, phát xít Nhật gây nên đồng thời ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất, niềm khao khát hạnh phúc gia đình và niềm tin vào tương lai tươi sáng của người dân lao động.
12. Hoàn cảnh sáng tác Rừng xà nu
Vào năm 1965, Mĩ kéo quân ồ ạt vào miền Nam với chiến dịch càn quét và diệt tận gốc Việt cộng. Tháng 3/1965, chúng đổ quân vào bãi biển Chu Lai bắt đầu cuộc chiến tranh Cục bộ. Trong tình thế căng thẳng, “ngàn cân treo sợi tóc” ấy, nhà văn Nguyên Ngọc đã sáng tác truyện ngắn Rừng xà nu như một hình thức cổ vũ, động viên tinh thần nhân dân đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do cho dân tộc đầy hữu hiệu. Đây cũng là tác phẩm khẳng định tinh thần dũng cảm, bất khuất, kiên cường của đồng bào Tây Nguyên anh hùng nói riêng và toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.
13. Hoàn cảnh sáng tác Những đứa con trong gia đình
– Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” được Nguyễn Thi sáng tác vào tháng 2 năm 1966, ngay trong thời điểm cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt, khi ông công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Truyện thể hiện mối quan hệ sâu sắc giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc. Chính sự gắn bó sâu nặng ấy đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn cho con người, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
14. Hoàn cảnh sáng tác Chiếc thuyền ngoài xa
– Hoàn cảnh sáng tác:
+ Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” được sáng tác vào tháng 8/1983, khi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ kết thúc thắng lợi, cả dân tộc đang bước vào giai đoạn đổi mới.
+ Truyện ngắn này thuộc giai đoạn sáng tác thứ hai trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu – từ ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mãn sang cảm hứng thế sự với những vấn đề về đạo đức và triết lí nhân sinh.
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Thông qua câu chuyện về bức ảnh nghệ thuật, “Chiếc thuyền ngoài xa” đã mang đến bài học sâu sắc về cách nhìn nhận con người và cuộc sống: cần phải có một cái nhìn đa diện, nhiều chiều khi đánh giá con người, sự vật. Đồng thời gửi gắm những quan niệm đúng đắn về nghệ thuật, về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.
15. Hoàn cảnh sáng tác Hồn trương Ba, da hàng thịt
– Hoàn cảnh sáng tác: Đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được trích từ cảnh VII và đoạn kết của vở kịch, được sáng tác từ năm 1981 và ra mắt công chúng lần đầu năm 1984.
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Đoạn trích khắc họa tình cảnh trớ trêu, đau khổ của Trương Ba khi rơi vào mẫu thuẫn giữa bên trong và bên ngoài, giữa tâm hồn thanh cao và thân xác anh hàng thịt, từ đó làm nổi bật ý nghĩa phê phán cùng những triết lí nhân văn.
16. Hoàn cảnh sáng tác Dọn về làng
– Cuộc chiến tranh biên giới kết thúc thắng lợi, hòa cùng không khí chiến thắng của nhân dân cả nước nói chung và nhân dân miền núi nói riêng, Nông Quốc Chấn đã viết lên những vần thơ này. Bài thơ chất chứa những tình cảm chân thành mà thắm thiết và niềm vui, tự hào của tác giả đối với nhân dân trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp đau thương nhưng cũng không kém phần hào hùng. Đây cũng là chiến thắng mang đầy ý nghĩa đối với người dân miền núi khi đã thoát khỏi sự bóc lột, đàn áp của thực dân Pháp.
—————–HẾT——————-
https://thuthuat.taimienphi.vn/hoan-canh-sang-tac-cac-tac-pham-van-hoc-12-69461n.aspx
Bên cạnh hoàn cảnh sáng tác, tìm hiểu nhan đề cũng là một bước quan trọng giúp em hiểu rõ hơn về chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. ABC Land xin giới thiệu tới các em bài viết Ý nghĩa nhan đề các tác phẩm Ngữ văn lớp 12. Chúc các em học tốt!

Xem thêm:  Trồng địa lan bằng gì

#Hoàn #cảnh #sáng #tác #các #tác #phẩm #văn #học

Tìm hiểu Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12 sẽ giúp các em có cơ sở để khám phá, lí giải và hiểu sâu hơn về tác phẩm. Bài viết dưới đây sẽ là tài liệu hữu ích, hỗ trợ các em trong quá trình học tập môn Ngữ văn.
Mục lục bài viết:1. Hoàn cảnh sáng tác Tuyên ngôn độc lập
2. Hoàn cảnh sáng tác Tây Tiến
3. Hoàn cảnh sáng tác Việt Bắc
4. Hoàn cảnh sáng tác Sóng
5. Hoàn cảnh sáng tác Đàn ghi ta của Lorca
6. Hoàn cảnh sáng tác Người lái đò sông Đà
7. Hoàn cảnh sáng tác Ai đã đặt tên cho dòng sông
8. Hoàn cảnh sáng tác Đất nước
9. Hoàn cảnh sáng tác Tiếng hát con tàu
10. Hoàn cảnh sáng tác Vợ chồng A Phủ
11. Hoàn cảnh sáng tác Vợ nhặt
12. Hoàn cảnh sáng tác Những đứa con trong gia đình
13. Hoàn cảnh sáng tác Chiếc thuyền ngoài xa
14. Hoàn cảnh sáng tác Rừng xà nu
15. Hoàn cảnh sáng tác Hồn Trương Ba, da hàng thịt
16. Hoàn cảnh sáng tác Dọn về làng

Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12

1. Hoàn cảnh sáng tác Tuyên ngôn độc lập
* Hoàn cảnh lịch sử:
– Bọn thực dân “núp bóng” sau quân Đồng minh vào tước khí giới Nhật có âm mưu đánh chiếm nước ta một lần nữa; thực dân Pháp với cái cớ Nhật đã đầu hàng nên Đông Dương thuộc quyền sở hữu của Pháp
– Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công (ngày 19/8/1945), 7 ngày sau đó, tức ngày 26/8/1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Trong căn nhà số 48, đường Hàng Ngang, Người đã soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập để ngày 2/9/1945, đọc trước quảng trường Ba Đình, Hà Nội.
* Mục đích sáng tác Tuyên ngôn độc lập
– Tuyên bố trước toàn bộ đồng bào cả nước, nhân dân thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân trên đất nước Việt Nam
– Chính thức khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Nam
– Tố cáo tội ác và luận điệu xảo trá của thực dân Pháp với danh nghĩa “khai hóa văn minh”
– Đập tan âm mưu đánh chiếm nước ta một lần nữa của bọn đế quốc thực dân
– Khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.
2. Hoàn cảnh sáng tác Tây Tiến
– Binh đoàn Tây Tiến được thành lập năm 1947 với nhiệm vụ chính là phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng địch -> Quang Dũng từng giữ chức Đại đội trưởng.
– Cuối năm 1948, Quang Dũng nhận được lệnh chuyển sang đơn vị khác, tại Phù Lưu Chanh, trong cảm xúc nghẹn ngào, lưu luyến của giây phút chia li, Quang Dũng đã viết bài thơ Tây Tiến.
3. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Việt Bắc
Dấu mốc là ngày 21/ tháng 7/ năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ (hiệp định đình chiến) chính thức được kí kết sau 75 ngày tiến hành đàm phán giữa các bên tại thành phố Geneve (Thụy Sĩ). Nội dung Hiệp định tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân ở Đông Dương, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương. Tháng 10 cùng năm, Bác Hồ cùng cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc để về thủ đô Hà Nội.
=> Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác nhân sự kiện trọng đại đó
– Nội dung chính: Tổng kết/ tái hiện lại giai đoạn lịch sử đầy khó khăn nhưng cũng đầy hào hùng của dân tộc; ca ngợi sự gắn bó ân tình thủy chung, khăng khít giữa cán bộ cách mạng với người dân Việt Bắc; ca ngợi công ơn Hồ Chủ Tịch, Đảng cách mạng đã soi đường chỉ lối cho dân tộc ta đi đến thắng lợi vẻ vang; niềm tin, niềm hi vọng vào tương lai tươi sáng của đất nước khi có Bác, có Đảng lãnh đạo.
4. Hoàn cảnh sáng tác Sóng
– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ “Sóng” được Xuân Quỳnh sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền – Thái Bình. “Sóng” là bài thơ viết về những cung bậc cảm xúc phức tạp trong tâm hồn người con gái khi yêu, bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ dịu dàng, nữ tính của nữ sĩ Xuân Quỳnh.
– Nội dung chính của tác phẩm: Bài thơ “Sóng” diễn tả tình yêu thiết tha, nồng nàn, son sắt cùng những khao khát muốn vượt lên thử thách của thời gian để bất tử hóa tình yêu của người phụ nữ.
5. Hoàn cảnh sáng tác Đàn ghi ta của Lorca
* Hoàn cảnh sáng tác Đàn Ghita của Lorca:
– Trước đó, Thanh Thảo đã có cơ hội được đọc những bài thơ của Lorca, thậm chí chép lại những bản dịch vào cuốn sổ tay và mang ra chiến trường nhưng chưa hiểu rõ về nhà thơ này.
– Cho đến năm 1979, sau khi được nghe câu chuyện về cuộc đời và cái chết của nhà cách mạng, người nghệ sĩ chân chính Lorca, vì ngưỡng mộ nhà thơ tài hoa Tây Ban Nha này, Thanh Thảo đã viết bài thơ Đàn ghita của Lorca.
* Nội dung chính tác phẩm: Qua bài thơ, Thanh Thảo đã làm nổi bật hình tượng người nghệ sĩ Lorca với khát vọng cải cách, cách tân nghệ thuật; một người chiến sĩ dành cả cuộc đời đấu tranh cho tự do, công bằng, công lí. Cũng qua đây, tác giả cũng đã thể hiện nỗi xót thương, sự cảm thông cũng như sự ngưỡng mộ đối với tài năng, nhân cách của người nghệ sĩ chân chính.
6. Hoàn cảnh sáng tác Người lái đò sông Đà
– Hoàn cảnh ra đời Người lái đò sông Đà:
Giai đoạn 1958 – 1960, đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc, miền Nam anh hùng chiến đấu chống Mĩ ngụy, miền Bắc đi lên tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước tiến hành chủ trương vận động nhân dân miền xuôi lên vùng Tây Bắc để xây dựng vùng kinh tế mới.
Theo chủ trương đường lối vận động của Nhà nước, giới văn nghệ sĩ cũng hồ hởi ngược lên Tây Bắc để khám phá cuộc sống mới cũng như tìm kiếm cho mình mạch nguồn cảm hứng sáng tác. Vốn là người phóng túng, ưa sự dịch chuyển, Nguyễn Tuân đã lên đường đến nhiều vùng đất, cùng chung sống ăn ở với bộ đội và bà con dân tộc để khám phá cảnh sắc thiên nhiên cũng như tìm kiếm “thứ vàng mười” trong cảnh và người nơi đây. Tùy bút Người lái đò sông Đà chính là kết quả của chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của người nghệ sĩ tài hoa này.
– Nội dung chính: Những khám phá hết sức độc đáo và tinh tế của Nguyễn Tuân về vẻ đẹp, hình thái khác nhau của thiên nhiên Tây Bắc, cụ thể là dòng Đà giang. Bên cạnh đó, ông cũng phát hiện và ca ngợi sự cần cù, chăm chỉ lao động, sự tài hoa, chất nghệ sĩ, “thứ vàng mười” ẩn chứa bên trong những con người lao động nơi đây.
7. Hoàn cảnh sáng tác Ai đã đặt tên cho dòng sông?
– Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm được viết vào năm 1981 và in trong tập bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? (năm 1986). Tập kí được Hoàng Phủ Ngọc Tường viết sau ngày hòa bình lập lại, non sông thu về một mối, cảm hứng chủ nghĩa anh hùng bao trùm toàn bộ các sáng tác văn chương nghệ thuật.
– Chủ đề tác phẩm: Tình yêu quê hương, đất nước gắn với tình yêu thiên nhiên và tự hào về giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
– Nội dung chính: Khám phá vẻ đẹp của dòng sông Hương Giang trên các mặt: Địa lí, lịch sử, văn hóa, thơ ca,…; qua đó thể hiện tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào đối với vẻ đẹp của dòng sông quê hương cũng như thấy được sự tài hoa, vốn kiến thức phong phú, đa dạng của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.
8. Hoàn cảnh sáng tác Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm
 – Hoàn cảnh sáng tác Đất nước: Đoạn trích nằm ở phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng. Tác phẩm đồ sộ này được ông viết ở chiến khu Trị Thiên năm 1971 trong những năm tháng chiến tranh chống Mĩ đầy ác liệt, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trực tiếp cầm súng chiến đấu trên chiến trường. “Mặt đường khát vọng” với ý nghĩa thức tỉnh tuổi trẻ, bồi đắp thêm tình yêu quê hương đất nước, nhân dân, ý thức về trách nhiệm của bản thân cần hòa cùng cuộc chiến đấu của dân tộc, tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân.
– Nội dung khái quát đoạn trích: Tác phẩm là cách khám phá đất nước trên các bình diện khác nhau của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đặc biệt làm nổi bật lên tư tưởng đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại.
9. Hoàn cảnh sáng tác Tiếng hát con tàu
– Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:
+ Bối cảnh đất nước: Mới hàn gắn xong vết thương chiến tranh, miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây cũng là thời kì đất nước đang hồi sinh mạnh mẽ, cuộc sống mới đang nở hoa, niềm vui cuộc sống nhân dân đang vẫy gọi.
+ Nguồn cảm hứng: Từ chủ trương chính trị của Đảng di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới trên vùng núi Tây Bắc (1955 – 1960) đã khơi dậy trong tâm hồn thi sĩ niềm khát khao muốn tìm đến để hòa nhập với cái Ta chung của dân tộc, từ bỏ chốn phồn hoa đô thị để đồng cam cộng khổ với cuộc sống nhân dân và để tìm lại nguồn cảm hứng thi ca đã bị thui chột, bào mòn trong những năm tháng chiến tranh.
– Nội dung chính bài thơ: “Tiếng hát con tàu” là niềm khao khát của một hồn thơ muốn được lên đường để hòa nhập với cuộc sống nhân dân, muốn vứt bỏ lối sống ích kỉ với cái Tôi cá nhân, để lòng đóng khép với cuộc đời trước đó.
10. Hoàn cảnh sáng tác Vợ chồng A Phủ
– Hoàn cảnh sáng tác: “Vợ chồng A Phủ” là một trong ba truyện ngắn thuộc tập “Truyện Tây Bắc”, được sáng tác năm 1952, khi Tô Hoài đi bộ đội vào giải phóng Tây Bắc. Trong chuyến đi dài tám tháng ấy, Tô Hoài đã sống, tiếp xúc và hiểu biết sâu hơn về cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi.
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” lên án tội ác của giai cấp thống trị đồng thời khẳng định và ngợi ca sức sống tiềm tàng, khát vọng tự do ở người dân lao động vùng cao Tây Bắc.
11. Hoàn cảnh sáng tác Vợ nhặt
– Hoàn cảnh sáng tác: Tiền thân của truyện ngắn “Vợ nhặt” là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” (1946) được tác giả Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau đó, vào năm 1954, tác giả viết thành truyện “Vợ nhặt” dựa vào phần cốt truyện cũ, in trong tập “Con chó xấu xí” (1962).
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Truyện ngắn “Vợ nhặt” – Kim Lân đã phản ánh nạn đói khủng khiếp năm 1945 của đồng bào ta do thực dân Pháp, phát xít Nhật gây nên đồng thời ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất, niềm khao khát hạnh phúc gia đình và niềm tin vào tương lai tươi sáng của người dân lao động.
12. Hoàn cảnh sáng tác Rừng xà nu
Vào năm 1965, Mĩ kéo quân ồ ạt vào miền Nam với chiến dịch càn quét và diệt tận gốc Việt cộng. Tháng 3/1965, chúng đổ quân vào bãi biển Chu Lai bắt đầu cuộc chiến tranh Cục bộ. Trong tình thế căng thẳng, “ngàn cân treo sợi tóc” ấy, nhà văn Nguyên Ngọc đã sáng tác truyện ngắn Rừng xà nu như một hình thức cổ vũ, động viên tinh thần nhân dân đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do cho dân tộc đầy hữu hiệu. Đây cũng là tác phẩm khẳng định tinh thần dũng cảm, bất khuất, kiên cường của đồng bào Tây Nguyên anh hùng nói riêng và toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.
13. Hoàn cảnh sáng tác Những đứa con trong gia đình
– Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” được Nguyễn Thi sáng tác vào tháng 2 năm 1966, ngay trong thời điểm cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt, khi ông công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Truyện thể hiện mối quan hệ sâu sắc giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc. Chính sự gắn bó sâu nặng ấy đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn cho con người, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
14. Hoàn cảnh sáng tác Chiếc thuyền ngoài xa
– Hoàn cảnh sáng tác:
+ Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” được sáng tác vào tháng 8/1983, khi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ kết thúc thắng lợi, cả dân tộc đang bước vào giai đoạn đổi mới.
+ Truyện ngắn này thuộc giai đoạn sáng tác thứ hai trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu – từ ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mãn sang cảm hứng thế sự với những vấn đề về đạo đức và triết lí nhân sinh.
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Thông qua câu chuyện về bức ảnh nghệ thuật, “Chiếc thuyền ngoài xa” đã mang đến bài học sâu sắc về cách nhìn nhận con người và cuộc sống: cần phải có một cái nhìn đa diện, nhiều chiều khi đánh giá con người, sự vật. Đồng thời gửi gắm những quan niệm đúng đắn về nghệ thuật, về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.
15. Hoàn cảnh sáng tác Hồn trương Ba, da hàng thịt
– Hoàn cảnh sáng tác: Đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được trích từ cảnh VII và đoạn kết của vở kịch, được sáng tác từ năm 1981 và ra mắt công chúng lần đầu năm 1984.
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Đoạn trích khắc họa tình cảnh trớ trêu, đau khổ của Trương Ba khi rơi vào mẫu thuẫn giữa bên trong và bên ngoài, giữa tâm hồn thanh cao và thân xác anh hàng thịt, từ đó làm nổi bật ý nghĩa phê phán cùng những triết lí nhân văn.
16. Hoàn cảnh sáng tác Dọn về làng
– Cuộc chiến tranh biên giới kết thúc thắng lợi, hòa cùng không khí chiến thắng của nhân dân cả nước nói chung và nhân dân miền núi nói riêng, Nông Quốc Chấn đã viết lên những vần thơ này. Bài thơ chất chứa những tình cảm chân thành mà thắm thiết và niềm vui, tự hào của tác giả đối với nhân dân trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp đau thương nhưng cũng không kém phần hào hùng. Đây cũng là chiến thắng mang đầy ý nghĩa đối với người dân miền núi khi đã thoát khỏi sự bóc lột, đàn áp của thực dân Pháp.
—————–HẾT——————-
https://thuthuat.taimienphi.vn/hoan-canh-sang-tac-cac-tac-pham-van-hoc-12-69461n.aspx
Bên cạnh hoàn cảnh sáng tác, tìm hiểu nhan đề cũng là một bước quan trọng giúp em hiểu rõ hơn về chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. ABC Land xin giới thiệu tới các em bài viết Ý nghĩa nhan đề các tác phẩm Ngữ văn lớp 12. Chúc các em học tốt!

Xem thêm:  Spy x Family tập 5: Gia đình điệp viên và trò chơi “giải cứu công chúa” cực kỳ hấp dẫn

#Hoàn #cảnh #sáng #tác #các #tác #phẩm #văn #học

Tìm hiểu Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12 sẽ giúp các em có cơ sở để khám phá, lí giải và hiểu sâu hơn về tác phẩm. Bài viết dưới đây sẽ là tài liệu hữu ích, hỗ trợ các em trong quá trình học tập môn Ngữ văn.
Mục lục bài viết:1. Hoàn cảnh sáng tác Tuyên ngôn độc lập
2. Hoàn cảnh sáng tác Tây Tiến
3. Hoàn cảnh sáng tác Việt Bắc
4. Hoàn cảnh sáng tác Sóng
5. Hoàn cảnh sáng tác Đàn ghi ta của Lorca
6. Hoàn cảnh sáng tác Người lái đò sông Đà
7. Hoàn cảnh sáng tác Ai đã đặt tên cho dòng sông
8. Hoàn cảnh sáng tác Đất nước
9. Hoàn cảnh sáng tác Tiếng hát con tàu
10. Hoàn cảnh sáng tác Vợ chồng A Phủ
11. Hoàn cảnh sáng tác Vợ nhặt
12. Hoàn cảnh sáng tác Những đứa con trong gia đình
13. Hoàn cảnh sáng tác Chiếc thuyền ngoài xa
14. Hoàn cảnh sáng tác Rừng xà nu
15. Hoàn cảnh sáng tác Hồn Trương Ba, da hàng thịt
16. Hoàn cảnh sáng tác Dọn về làng

Hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học 12

1. Hoàn cảnh sáng tác Tuyên ngôn độc lập
* Hoàn cảnh lịch sử:
– Bọn thực dân “núp bóng” sau quân Đồng minh vào tước khí giới Nhật có âm mưu đánh chiếm nước ta một lần nữa; thực dân Pháp với cái cớ Nhật đã đầu hàng nên Đông Dương thuộc quyền sở hữu của Pháp
– Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công (ngày 19/8/1945), 7 ngày sau đó, tức ngày 26/8/1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Trong căn nhà số 48, đường Hàng Ngang, Người đã soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập để ngày 2/9/1945, đọc trước quảng trường Ba Đình, Hà Nội.
* Mục đích sáng tác Tuyên ngôn độc lập
– Tuyên bố trước toàn bộ đồng bào cả nước, nhân dân thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân trên đất nước Việt Nam
– Chính thức khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Nam
– Tố cáo tội ác và luận điệu xảo trá của thực dân Pháp với danh nghĩa “khai hóa văn minh”
– Đập tan âm mưu đánh chiếm nước ta một lần nữa của bọn đế quốc thực dân
– Khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.
2. Hoàn cảnh sáng tác Tây Tiến
– Binh đoàn Tây Tiến được thành lập năm 1947 với nhiệm vụ chính là phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng địch -> Quang Dũng từng giữ chức Đại đội trưởng.
– Cuối năm 1948, Quang Dũng nhận được lệnh chuyển sang đơn vị khác, tại Phù Lưu Chanh, trong cảm xúc nghẹn ngào, lưu luyến của giây phút chia li, Quang Dũng đã viết bài thơ Tây Tiến.
3. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Việt Bắc
Dấu mốc là ngày 21/ tháng 7/ năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ (hiệp định đình chiến) chính thức được kí kết sau 75 ngày tiến hành đàm phán giữa các bên tại thành phố Geneve (Thụy Sĩ). Nội dung Hiệp định tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân ở Đông Dương, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương. Tháng 10 cùng năm, Bác Hồ cùng cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc để về thủ đô Hà Nội.
=> Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác nhân sự kiện trọng đại đó
– Nội dung chính: Tổng kết/ tái hiện lại giai đoạn lịch sử đầy khó khăn nhưng cũng đầy hào hùng của dân tộc; ca ngợi sự gắn bó ân tình thủy chung, khăng khít giữa cán bộ cách mạng với người dân Việt Bắc; ca ngợi công ơn Hồ Chủ Tịch, Đảng cách mạng đã soi đường chỉ lối cho dân tộc ta đi đến thắng lợi vẻ vang; niềm tin, niềm hi vọng vào tương lai tươi sáng của đất nước khi có Bác, có Đảng lãnh đạo.
4. Hoàn cảnh sáng tác Sóng
– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ “Sóng” được Xuân Quỳnh sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền – Thái Bình. “Sóng” là bài thơ viết về những cung bậc cảm xúc phức tạp trong tâm hồn người con gái khi yêu, bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ dịu dàng, nữ tính của nữ sĩ Xuân Quỳnh.
– Nội dung chính của tác phẩm: Bài thơ “Sóng” diễn tả tình yêu thiết tha, nồng nàn, son sắt cùng những khao khát muốn vượt lên thử thách của thời gian để bất tử hóa tình yêu của người phụ nữ.
5. Hoàn cảnh sáng tác Đàn ghi ta của Lorca
* Hoàn cảnh sáng tác Đàn Ghita của Lorca:
– Trước đó, Thanh Thảo đã có cơ hội được đọc những bài thơ của Lorca, thậm chí chép lại những bản dịch vào cuốn sổ tay và mang ra chiến trường nhưng chưa hiểu rõ về nhà thơ này.
– Cho đến năm 1979, sau khi được nghe câu chuyện về cuộc đời và cái chết của nhà cách mạng, người nghệ sĩ chân chính Lorca, vì ngưỡng mộ nhà thơ tài hoa Tây Ban Nha này, Thanh Thảo đã viết bài thơ Đàn ghita của Lorca.
* Nội dung chính tác phẩm: Qua bài thơ, Thanh Thảo đã làm nổi bật hình tượng người nghệ sĩ Lorca với khát vọng cải cách, cách tân nghệ thuật; một người chiến sĩ dành cả cuộc đời đấu tranh cho tự do, công bằng, công lí. Cũng qua đây, tác giả cũng đã thể hiện nỗi xót thương, sự cảm thông cũng như sự ngưỡng mộ đối với tài năng, nhân cách của người nghệ sĩ chân chính.
6. Hoàn cảnh sáng tác Người lái đò sông Đà
– Hoàn cảnh ra đời Người lái đò sông Đà:
Giai đoạn 1958 – 1960, đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc, miền Nam anh hùng chiến đấu chống Mĩ ngụy, miền Bắc đi lên tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước tiến hành chủ trương vận động nhân dân miền xuôi lên vùng Tây Bắc để xây dựng vùng kinh tế mới.
Theo chủ trương đường lối vận động của Nhà nước, giới văn nghệ sĩ cũng hồ hởi ngược lên Tây Bắc để khám phá cuộc sống mới cũng như tìm kiếm cho mình mạch nguồn cảm hứng sáng tác. Vốn là người phóng túng, ưa sự dịch chuyển, Nguyễn Tuân đã lên đường đến nhiều vùng đất, cùng chung sống ăn ở với bộ đội và bà con dân tộc để khám phá cảnh sắc thiên nhiên cũng như tìm kiếm “thứ vàng mười” trong cảnh và người nơi đây. Tùy bút Người lái đò sông Đà chính là kết quả của chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của người nghệ sĩ tài hoa này.
– Nội dung chính: Những khám phá hết sức độc đáo và tinh tế của Nguyễn Tuân về vẻ đẹp, hình thái khác nhau của thiên nhiên Tây Bắc, cụ thể là dòng Đà giang. Bên cạnh đó, ông cũng phát hiện và ca ngợi sự cần cù, chăm chỉ lao động, sự tài hoa, chất nghệ sĩ, “thứ vàng mười” ẩn chứa bên trong những con người lao động nơi đây.
7. Hoàn cảnh sáng tác Ai đã đặt tên cho dòng sông?
– Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm được viết vào năm 1981 và in trong tập bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? (năm 1986). Tập kí được Hoàng Phủ Ngọc Tường viết sau ngày hòa bình lập lại, non sông thu về một mối, cảm hứng chủ nghĩa anh hùng bao trùm toàn bộ các sáng tác văn chương nghệ thuật.
– Chủ đề tác phẩm: Tình yêu quê hương, đất nước gắn với tình yêu thiên nhiên và tự hào về giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
– Nội dung chính: Khám phá vẻ đẹp của dòng sông Hương Giang trên các mặt: Địa lí, lịch sử, văn hóa, thơ ca,…; qua đó thể hiện tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào đối với vẻ đẹp của dòng sông quê hương cũng như thấy được sự tài hoa, vốn kiến thức phong phú, đa dạng của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.
8. Hoàn cảnh sáng tác Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm
 – Hoàn cảnh sáng tác Đất nước: Đoạn trích nằm ở phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng. Tác phẩm đồ sộ này được ông viết ở chiến khu Trị Thiên năm 1971 trong những năm tháng chiến tranh chống Mĩ đầy ác liệt, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trực tiếp cầm súng chiến đấu trên chiến trường. “Mặt đường khát vọng” với ý nghĩa thức tỉnh tuổi trẻ, bồi đắp thêm tình yêu quê hương đất nước, nhân dân, ý thức về trách nhiệm của bản thân cần hòa cùng cuộc chiến đấu của dân tộc, tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân.
– Nội dung khái quát đoạn trích: Tác phẩm là cách khám phá đất nước trên các bình diện khác nhau của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đặc biệt làm nổi bật lên tư tưởng đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại.
9. Hoàn cảnh sáng tác Tiếng hát con tàu
– Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:
+ Bối cảnh đất nước: Mới hàn gắn xong vết thương chiến tranh, miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây cũng là thời kì đất nước đang hồi sinh mạnh mẽ, cuộc sống mới đang nở hoa, niềm vui cuộc sống nhân dân đang vẫy gọi.
+ Nguồn cảm hứng: Từ chủ trương chính trị của Đảng di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới trên vùng núi Tây Bắc (1955 – 1960) đã khơi dậy trong tâm hồn thi sĩ niềm khát khao muốn tìm đến để hòa nhập với cái Ta chung của dân tộc, từ bỏ chốn phồn hoa đô thị để đồng cam cộng khổ với cuộc sống nhân dân và để tìm lại nguồn cảm hứng thi ca đã bị thui chột, bào mòn trong những năm tháng chiến tranh.
– Nội dung chính bài thơ: “Tiếng hát con tàu” là niềm khao khát của một hồn thơ muốn được lên đường để hòa nhập với cuộc sống nhân dân, muốn vứt bỏ lối sống ích kỉ với cái Tôi cá nhân, để lòng đóng khép với cuộc đời trước đó.
10. Hoàn cảnh sáng tác Vợ chồng A Phủ
– Hoàn cảnh sáng tác: “Vợ chồng A Phủ” là một trong ba truyện ngắn thuộc tập “Truyện Tây Bắc”, được sáng tác năm 1952, khi Tô Hoài đi bộ đội vào giải phóng Tây Bắc. Trong chuyến đi dài tám tháng ấy, Tô Hoài đã sống, tiếp xúc và hiểu biết sâu hơn về cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi.
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” lên án tội ác của giai cấp thống trị đồng thời khẳng định và ngợi ca sức sống tiềm tàng, khát vọng tự do ở người dân lao động vùng cao Tây Bắc.
11. Hoàn cảnh sáng tác Vợ nhặt
– Hoàn cảnh sáng tác: Tiền thân của truyện ngắn “Vợ nhặt” là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” (1946) được tác giả Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau đó, vào năm 1954, tác giả viết thành truyện “Vợ nhặt” dựa vào phần cốt truyện cũ, in trong tập “Con chó xấu xí” (1962).
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Truyện ngắn “Vợ nhặt” – Kim Lân đã phản ánh nạn đói khủng khiếp năm 1945 của đồng bào ta do thực dân Pháp, phát xít Nhật gây nên đồng thời ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất, niềm khao khát hạnh phúc gia đình và niềm tin vào tương lai tươi sáng của người dân lao động.
12. Hoàn cảnh sáng tác Rừng xà nu
Vào năm 1965, Mĩ kéo quân ồ ạt vào miền Nam với chiến dịch càn quét và diệt tận gốc Việt cộng. Tháng 3/1965, chúng đổ quân vào bãi biển Chu Lai bắt đầu cuộc chiến tranh Cục bộ. Trong tình thế căng thẳng, “ngàn cân treo sợi tóc” ấy, nhà văn Nguyên Ngọc đã sáng tác truyện ngắn Rừng xà nu như một hình thức cổ vũ, động viên tinh thần nhân dân đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do cho dân tộc đầy hữu hiệu. Đây cũng là tác phẩm khẳng định tinh thần dũng cảm, bất khuất, kiên cường của đồng bào Tây Nguyên anh hùng nói riêng và toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.
13. Hoàn cảnh sáng tác Những đứa con trong gia đình
– Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” được Nguyễn Thi sáng tác vào tháng 2 năm 1966, ngay trong thời điểm cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt, khi ông công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Truyện thể hiện mối quan hệ sâu sắc giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc. Chính sự gắn bó sâu nặng ấy đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn cho con người, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
14. Hoàn cảnh sáng tác Chiếc thuyền ngoài xa
– Hoàn cảnh sáng tác:
+ Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” được sáng tác vào tháng 8/1983, khi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ kết thúc thắng lợi, cả dân tộc đang bước vào giai đoạn đổi mới.
+ Truyện ngắn này thuộc giai đoạn sáng tác thứ hai trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu – từ ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mãn sang cảm hứng thế sự với những vấn đề về đạo đức và triết lí nhân sinh.
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Thông qua câu chuyện về bức ảnh nghệ thuật, “Chiếc thuyền ngoài xa” đã mang đến bài học sâu sắc về cách nhìn nhận con người và cuộc sống: cần phải có một cái nhìn đa diện, nhiều chiều khi đánh giá con người, sự vật. Đồng thời gửi gắm những quan niệm đúng đắn về nghệ thuật, về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.
15. Hoàn cảnh sáng tác Hồn trương Ba, da hàng thịt
– Hoàn cảnh sáng tác: Đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được trích từ cảnh VII và đoạn kết của vở kịch, được sáng tác từ năm 1981 và ra mắt công chúng lần đầu năm 1984.
– Khái quát nội dung chính của tác phẩm: Đoạn trích khắc họa tình cảnh trớ trêu, đau khổ của Trương Ba khi rơi vào mẫu thuẫn giữa bên trong và bên ngoài, giữa tâm hồn thanh cao và thân xác anh hàng thịt, từ đó làm nổi bật ý nghĩa phê phán cùng những triết lí nhân văn.
16. Hoàn cảnh sáng tác Dọn về làng
– Cuộc chiến tranh biên giới kết thúc thắng lợi, hòa cùng không khí chiến thắng của nhân dân cả nước nói chung và nhân dân miền núi nói riêng, Nông Quốc Chấn đã viết lên những vần thơ này. Bài thơ chất chứa những tình cảm chân thành mà thắm thiết và niềm vui, tự hào của tác giả đối với nhân dân trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp đau thương nhưng cũng không kém phần hào hùng. Đây cũng là chiến thắng mang đầy ý nghĩa đối với người dân miền núi khi đã thoát khỏi sự bóc lột, đàn áp của thực dân Pháp.
—————–HẾT——————-
https://thuthuat.taimienphi.vn/hoan-canh-sang-tac-cac-tac-pham-van-hoc-12-69461n.aspx
Bên cạnh hoàn cảnh sáng tác, tìm hiểu nhan đề cũng là một bước quan trọng giúp em hiểu rõ hơn về chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. ABC Land xin giới thiệu tới các em bài viết Ý nghĩa nhan đề các tác phẩm Ngữ văn lớp 12. Chúc các em học tốt!

Back to top button