Gốc Hán của giường chiếu, chăn màn là gì?

Sàng tiền trước bình minh

Lưỡng nghi sương thượng đất.

Cử chỉ hy vọng đầu tiên đối với mặt trăng

Để đầu tư vào quê hương.

Đã dịch:

Đầu giường dưới ánh trăng

Tưởng nó đã bị bao phủ bởi sương

N

Nhìn lên mặt trăng tỏa sáng

Cúi đầu nhớ quê.

Trên thực tế, âm thanh gốc của từ [牀] Là phụ vì nó thuộc mệnh dương. [陽]cũng là may mắn số một trong dương [陽]gồm bốn vật phẩm tài lộc thuộc tứ bình, thượng, khứ, nhập là dương. [陽]điều dưỡng [養]chú, thường được đọc là [瀁]và thuốc [藥]. Một số từ thuộc bộ bách hợp, lẽ ra được đọc theo vần UÔNG, thì cũng đã được đọc theo vần ANG: thang. [湯]Trang [妝,莊,裝]mê sảng [爽]sáng [創]vừa qua [彺]tráng [壯]trạng thái [狀]. Thực tế trong tiếng Việt, một số ký tự thuộc hệ âm. [陽] cũng có thể được đọc bằng hai âm: âm lượng [两], 1/10 pound, ở miền Bắc nói số lượng, miền Nam nói số lượng; Truong [張] thành các trang; trường học [長]như ở súng trường, thành tràng, như ở sông đại hải … Ngoài ra, còn có hiện tượng hài ANG bằng ONG, như lương. [良] hài cho lang [郎]. Vì vậy, không lạ nếu âm gốc của từ sàng [牀] Đó là xương sườn, vì vậy chỉ có sự khác biệt giữa xương sườn và giường ở phụ âm đầu S ≠ GI. Nhưng tương quan lịch sử giữa hai phụ âm này cũng có thể thấy trong các trường hợp sau: – Sa, thường đọc trong trại [砦], hàng rào ↔ gõ vào hàng rào; – khách sạn [棧], đường gỗ cầu treo ↔ giàn trong giàn bầu, giàn khoan; – ống sáo [槊 hoặc 矟] trong Đập sáo Chương Dương độ ↔ giáo trong gươm giáo; – gần [殺] trong giết mổ ↔ giết trong giết; – tối [醦], dấm ↔ dấm trong dấm chua; – trùm [㡜], giẻ rách ↔ giẻ rách trong giẻ rách; – con số [雛], gà con ở gà thịt; – con số [䅳]thân cây lúa, thường viết thăm dò, vào mùa xuân hoa lan, mùa xuân hoa thủy tiên.

Xem thêm:  Yêu bạn thân tiếng Nhật là gì

Phép chiếu bắt nguồn từ một từ được viết trong thư [𤕷], mà âm Hán Việt là triệu, có nghĩa là “dúi giường, kê giường”. Trong tiếng Trung, có hai từ quen thuộc dùng để chỉ khái niệm “chiếu” trong “giường chiếu” là tịch. [席] và Điền [筵]. Nhưng về mặt từ nguyên, phép chiếu đến từ triệu [𤕷]. Tương quan ngữ âm giữa TR và CH có nhiều ví dụ: tea ↔ tea; chém ↔ chém; chèo thuyền; trai tren the gioi ↔ chay trong chay; trả tiền [爪] ↔ ngạnh; Dự định trong tương lai …

Blanket (như trong câu The quilter is cold) có nguồn gốc từ một từ được viết với từ [氊, cũng viết 毡], mà âm Hán Việt là cừu, có nghĩa là “vải nhồi từ lông, da; chăn, mền”, thường được dịch sang tiếng Anh là “phớt”. Về mối quan hệ của EN ĂN giữa cừu và người chăn cừu, chúng ta cũng có: – hiển thị [顯], rõ ràng ↔ chắc chắn rõ ràng; – tự do [撚], sờ nắn, vuốt ve ↔ bóp trong bóp, bóp trong bóp; – Yến mạch [嚥, cũng viết 咽]nuốt thức ăn ↔ ăn và uống.

Cuối cùng, rèm là âm thanh cổ xưa của từ [幔]nhưng âm Hán Việt hiện nay là man, có nghĩa là “người”.

Bài viết trên đây, English6 đã cập nhật cho bạn thông tin về “Gốc Hán của giường chiếu, chăn màn là gì?❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Gốc Hán của giường chiếu, chăn màn là gì?” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Gốc Hán của giường chiếu, chăn màn là gì? [ ❤️️❤️️ ]”.

Xem thêm:  Mẫu nội quy nhà trọ, phòng trọ

Bài viết “Gốc Hán của giường chiếu, chăn màn là gì?” được đăng bởi vào ngày 2022-06-29 02:44:27. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại english6.net

Back to top button