Đội quân thiết đột Nhà Lê

Trong chiến tranh Việt Nam khi nói đến “nói chuyện bụi đời“là chúng ta nghĩ ngay đến bộ đội đặc công Việt Nam. Nhưng ít ai biết rằng từ thời vua Lê Lợi, Army of the Iron Thrust có thể coi là ông tổ của bộ đội đặc công Việt Nam hiện nay.

Đây là lực lượng cơ động chủ yếu của nghĩa quân Lam Sơn và Hậu Lê dưới thời Lê Sơ (1428-1527). Từ đầu cuộc khởi nghĩa (1418). Đến năm 1426, quân đội lên đến 200.000 người, chia thành 14 vệ. Thời kỳ 1428 – 1448, tổ chức thành 5 đạo quân, đóng ở kinh đô và cơ động chiến đấu.

Đặt cú đấm rất giỏi trong việc phục kích. Trong những trận chiến quyết định, mặc dù kẻ thù luôn đông hơn, nhưng Iron Surges thường là người chiến thắng.

Chiến thuật chính của đội quân Bão Sắt là tấn công thẳng vào trung tâm quân địch để giết tên chỉ huy, sử dụng cả voi chiến và ngựa bọc thép để làm rối loạn đội hình quân địch, chia cắt cho đại quân tiêu diệt – xứng đáng với trận đánh. Tên của Búa sắt.

Chiến công tiêu biểu: nhiều, trong đó có việc phục kích quân Minh ở Tốt Động, Chúc Động, Mỹ Động, chặt đầu Liễu Thăng ở Chi Lăng, vây đánh Vương Thông ở Động Quan, đuổi Mộc Thạnh ở đèo Lệ Hoa …

Nguồn gốc đội quân thiết giáp thời Lê

Mở đầu cuộc khởi nghĩa, vua Lê Lợi có đội kỵ binh thiết giáp 200 người (Lam Sơn Thực Lục) do Lê Thạch làm Phó tướng (Đại Việt Thông Sử Ký). Đây có lẽ là người tiền nhiệm ban đầu của Đội quân phá sắt. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 2 năm 1428, vua Lê Lợi đã tổ chức ban thưởng cho các tướng lĩnh và quân lính Thiết Tục có công ở Lũng Nhai gồm 121 người. Nhiều khả năng đây là những người sống sót trong đội kỵ binh bọc thép 200 người ban đầu.

Lê Thạch mất năm 1421, đâu đó gần thời gian này Nguyễn Xí được trao quyền chỉ huy đội Thiết Húc đầu tiên (Đại Việt thông sử). Chúng ta có thể hiểu rằng cùng với sự lớn mạnh của quân Lam Sơn, lực lượng kỵ binh thiết giáp được mở rộng đến thành Tiết Tục, có thêm nhiều đơn vị, thậm chí có đơn vị không được trang bị ngựa, vì ngựa chiến đấu với nghĩa quân. Lam Sơn còn khan hiếm lắm.

Bạn đang xem: Thiết giáp thời Lê – Cha đẻ của Đặc công Việt Nam?

Đền thờ ông Nguyễn Xí (1396-1465) tại huyện Nghi Lộc, Nghệ An.

Cơ quan

Trong dụ ngôn của vua Lê Lợi vào tháng 4 năm 1427, chúng ta biết rằng lúc bấy giờ có 14 Thiết Đốc vệ. Điều này bao gồm các vệ binh kỵ binh và vệ binh không kỵ binh. Cụ thể, theo Đại Việt thông sử, các tướng Lê Lãm, Đinh Liệt, Trịnh Khả được ghi là “Người bảo vệ ngai vàngcòn các tướng Lê Nhân Chú, Lê Lý, Lê Văn An, Lê Thận được ghi là làm “kỵ binh hộ vệ trong đội quân Rùa sắt“.

Điều đáng suy ngẫm là những vị tướng từng chỉ huy đội kỵ binh bảo vệ Rùa Sắt sau này được phong tặng những danh hiệu cao hơn nhiều so với các vị tướng khác, vì vậy những đơn vị kỵ binh này có thể có một tầm quan trọng đặc biệt nào đó.

Quân số

Theo sách Cuộc chiến vũ trang, “Trong cuộc Khởi nghĩa Lê Thái Tổ có 14 vệ: Thiết Tặc, Kim Ngô, Ngọc Kiếm, Phụng Thần, Xà Kỵ, Cầu kiềm, Thiên Ngưu, Phụng Thánh, Anh hùng, Thần võ, Du Cơ, Thần Tỷ, Võ lâm, Thiên Uy, Ngu Uy. ” (có 15 cái tên ở đây, có lẽ người dịch đã ngắt câu sai chỗ nào đó). Lam Sơn Thực Lục cho biết thời Lê Thái Tổ có hơn 5 vạn quân.

Làm một phép tính nhanh, chúng ta có thể đoán được số lượng lính vệ tinh xấp xỉ 3571 người. Ngụy Tiết Tật lại chia thành 14 vệ nhỏ như đã nói ở trên, mỗi vệ nhỏ xấp xỉ 255 người.

Con số này sẽ khá hợp lý nếu xét đến hai sự kiện: tháng 3 năm 1427, Đinh Lễ và Nguyễn Xí đem 500 quân Thiết kỵ đến giải vây cho Tây Phù Liệt, tức là số lượng xấp xỉ hai vệ binh nhỏ. Cánh quân này sa lầy và bị thiệt hại gần hết tại Mỹ Động. Tháng 9 năm đó, tướng quân Phạm Vấn đem 3000 quân Thiết Túc, tức là toàn bộ quân của 12 vệ còn lại đến trợ chiến. Trường giang chấm dứt sự tiếp viện của quân Minh.

Tuy nhiên, cũng có một cách hiểu khác về dòng chữ in nghiêng trên: “Trong cuộc khởi nghĩa Lê Thái Tổ, 14 vệ binh lập Thiết Đốc: Kim Ngô, Ngọc Kiếm… “Trong trường hợp này, chúng tôi biết chi tiết tên của 14 chiếc Tháp pháo nhưng không biết có bao nhiêu chiếc. Chỉ biết rằng đợt huy động lớn nhất được ghi nhận là 3000 người.

Thiết bị

Không có hồ sơ lịch sử nào mô tả thiết bị của. Đội quân phá sắt. Tuy nhiên, chúng ta cho rằng tiền thân của lực lượng này là kỵ binh thiết giáp, cũng như nhiệm vụ xung kích trong cận chiến, nên có thể đoán rằng bộ đội thiết giáp được trang bị thiết giáp hạng nặng. Tình trạng thiếu hụt sớm có thể khiến binh lính sử dụng lại áo giáp chiến lợi phẩm của quân Minh và quân ngụy. Có nghĩa là Đinh giáp – giáp đinh tán hay Sơn Văn Giáp – giáp tấm ghép từ các mảnh kim loại hình chữ “”sơn“.

Tất nhiên, đã có những sửa đổi để phù hợp với tình hình quân sự và để tránh quân ta làm sai. Được biết, vào những năm cuối thời Lê, binh lính thích vẽ Hổ trên khiên của mình. Vũ khí được sử dụng vào đầu thời Lê là mỗi người được trang bị rộng rãi với một con dao, một tấm gỗ và một vài ngọn giáo ngắn. Ngoài ra, mỗi người sẽ sử dụng một trong các vật phẩm sau: trường thương, lưỡi hái, phi tuyến, nỏ. Ngoài ra, còn có lửa đồng, tàu chiến … Không có gì lạ khi Quân đội sắt cũng sử dụng những vũ khí tương tự.

Quyền lực

Ngay từ buổi đầu ở Lũng Nhai, quân Thiết Túc đã là lực lượng nòng cốt quan trọng. Các chỉ huy Thiết đột như Lê Lý, Lê Văn An, … được ghi nhận là đã dũng cảm xông pha trận mạc, giành thắng lợi trong những trận đánh khó, không cân sức như trận Sách Khôi năm 1422, trận Kha. Năm 1424, tướng Đinh Lễ chỉ dùng 500 Thiết bất ngờ đánh đuổi quân Minh, giải vây cho Tây Phù Liệt. Và trong trận chiến trường Xương Giang, 3.000 quân Tiết Tục của Phạm Mẫn là nhân tố quan trọng làm nên trận địa chiến quy mô lớn nhất. Lịch sử trung đại việt nam.

Tuyển dụng và cung cấp

Troop Tie Sud được tuyển chọn từ những người khỏe mạnh, không phân biệt Thanh – Nghệ hay Bắc Hà. Theo Sử ký Toàn thư, những người tham gia hoặc hỗ trợ quân Tiết sau chiến tranh sẽ được trả lại vùng đất đã bị quân Minh cướp mất. Ngoài ra, quân Tiết Túc còn được cấp đất riêng và con cháu của họ được miễn một số nghĩa vụ quân sự và lao động.

Tăng trưởng và suy giảm

Sau cuộc kháng chiến chống quân Minh, lực lượng Thiết Tư được tổ chức lại thành 5 “quân đội“là Tiền, Hậu, Tả, Hữu, Trung. Thời các vua Thái Tông, Nhân Tông, đội quân này đã tham gia một số trận đánh dẹp quân phản loạn ở Lạng Sơn năm 1434, chiến lược Ai Lao năm 1435, thậm chí. nạo vét sông, đến năm 1448, thời vua Nhân Tông, vua ra lệnh giảm số chỉ huy các đạo quân, năm 1466 vua Lê Thánh Tông cải tổ quân đội, chia cả nước thành 5 phủ, năm 1470 biên chế. nhiều lính canh, nhưng từ đó không còn tên Thiết Túc vệ nữa.

————————————-

Tài liệu tham khảo: Website Bộ Quốc phòng, Trường Đại học Chính trị, Tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam, Ẩn mình, trainghiemsong.vn

Chấn Bình

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Đội quân thiết đột Nhà Lê❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Đội quân thiết đột Nhà Lê” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Đội quân thiết đột Nhà Lê [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Đội quân thiết đột Nhà Lê” được đăng bởi vào ngày 2022-06-01 16:04:53. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button