Cảm nhận của anh chị về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

Hình tượng người lính cách mạng trong bài Chiều tối

Hình tượng người lính trong bài Chiều tối – Nêu cảm nhận của em về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh. Sau đây là tổng hợp một số bài văn mẫu hay về vẻ đẹp người chiến sĩ cách mạng trong bài Chiều tối đã được ABC Land sưu tầm xin chia sẻ đến bạn đọc cùng tham khảo.

  • Top 11 mẫu cảm nhận bài thơ Chiều tối siêu hay

Chiều tối (Mộ) là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Hồ Chí Minh được sáng tác trên hành trình chuyển lao từ Tĩnh Tây đi Thiên Bảo, vào khoảng bốn tháng sau khi Người bị bắt. Dưới đây là bài văn cảm nhận về hình tượng người lính cách mạng trong bài Chiều tối.

1. Cảm nhận hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh) và Từ ấy (Tố Hữu)

Hồ Chí Minh và Tố Hữu là hai nhà thơ cách mạng lớn của nền văn học Việt Nam thế kỷ 20. Gặp gỡ trong cảm hứng thi ca cách mạng, bài thơ Chiều tối của Hồ Chí minh và Từ ấy của Tố Hữu đã khắc họa đậm nét hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong bước tù đày nhưng vẫn hiên ngang, tràn trề sức sống, lạc quan, yêu đời, hướng đến tương lai.

Hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh.

Bài thơ Chiều tối ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt khi Hồ Chí Minh sang Trung Quốc tranh thủ sự viện trợ của phe Đồng minh cho Cách mạng việt Nam. Khi đến Quảng Tây thì Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. Vì không có chứng cớ khép tội nên chúng không thể đưa ra xét xử. Chúng đã hành hạ Người bằng cách giải đi khắp các nhà lao của tỉnh Quảng Tây trong hơn một năm trời nhằm tiêu diệt ý chí của người chiến sĩ cách mạng.

Bài thơ này cũng giống như nhiều các sáng tác khác được viết trên hành trình chuyển lao, chuyển từ nhà lao Tĩnh Tây đi nhà lao Thiên Bảo, vào khoảng bốn tháng sau khi Người bị bắt. Tác phẩm là bức chân dung tự họa của con người tù-chiến sĩ Hồ Chí Minh ở thời điểm gian nan thử thách nhất trên con đường cách mạng.

Đó là người chiến sĩ cách mạng có tâm hồn rộng mở, phóng khoáng, đón nhận vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên núi rừng:

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không

Bức tranh thiên nhiên cảnh chiều mở ra ở cả chiều cao, chiều rộng của không gian và được vẽ bằng những nét phác họa đơn sơ, với những hình ảnh đậm đà sắc màu cổ điển như: “cánh chim” và “chòm mây”, có chút buồn vắng, quạnh hưu những vẫn thanh thoát, ấm áp hơi thở của sự sống.

Qua bức tranh thiên nhiên đó cho thấy nhân vật trữ tình là con người tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết, vượt lên trên cảnh ngộ tù đày. Dù cổ đang bị deo gông, chân tay bị xiềng xích, thân thể rã rời, mệt mỏi sau một ngày chuyển lao nhưng người tù-người chiến sĩ Hồ Chí Minh vẫn quên đi cảnh ngộ của bản thân mình để ngẩng cao đầu dõi theo một cánh chim chiều bay về tổ, một chòm mây lững lờ trên bầu trời.

Đó cũng là người chiến sĩ có tấm lòng nhân đạo, bao la, yêu thương, quan tâm chia sẻ với con người lao động, một tâm hồn luôn hướng về sự sống và ánh sáng :

Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng

Dù vẫn phải tiếp tục chuyển lao trong cảnh trời tối, giá lạnh nơi miền sơn cước nhưng người chiến sĩ ấy đã quên đi nỗi nhọc nhằn của riêng mình, hướng về cuộc sống của người dân lao động với cô gái trẻ nơi xóm núi đang xay ngô và lò than rực hồng đã đỏ để cảm thông, chia sẻ, ấm áp, vui lây niềm vui lao động của con người.

Bút pháp khắc hoạ chân dung người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối là bút pháp gợi tả, những hình ảnh đậm đà màu sắc cổ điển mà vẫn thấm đẫm tinh thần hiện đại, bởi hình tượng thơ vận động từ tối đến sang, từ buồn đến vui, coi con người là trung tâm, là chủ thể của đối tượng phản ánh.

Vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng hiện qua bức tranh cảnh vật thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt lao động của con người. Đó là con người ung dung, hoà hợp với thiên nhiên nhưng vẫn luôn trong tư thế làm chủ hoàn cảnh, hướng về con người, sự sống và ánh sáng, chất thi sĩ và chất chiến sĩ hoà quyện làm một.

Hình tượng người chiến sĩ trong bài Từ ấy của Tố Hữu:

Bài thơ Từ ấy ra đời đánh dấu một một bước ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Tố Hữu. Ngày nhà thơ được kết nạp vào Đảng cộng sản, đứng vào hàng ngũ những người cách mạng chiến đấu vì một lí tưởng chung, ông đã viết bài thơ này. Đặt trong hoàn cảnh sáng tác ấy, bài thơ đã cho thấy tình yêu, niềm say mê với lí tưởng cách mạng và lẽ sống cao đẹp làm nên vẻ đẹp hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ.

Vào cuối những năm ba mươi của thế kỉ XX cũng như nhiều thanh niên khác, Tố Hữu đã từng:

“Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời
Vẩn vơ theo mãi vòng quanh quẩn
Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời”

(Nhớ đồng)

Trong khi đang bế tắc về đường lối, nhà thơ may mắn hơn nhiều người khác khi sớm bắt gặp lí tưởng Cách mạng và trở thành con người của Đảng. Niềm vui sướng, sự say mê mãnh liệt trong thời khắc quan trọng quyết định bước ngoặt của cuộc đời và sự nghiệp được Tố Hữu diễn tả chân thành trong khổ thơ đầu của bài thơ:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Lí tưởng chính là ánh nắng hạ rực lửa, là mặt trời chói sáng, soi rọi giúp cho nhà thơ nhận ra con đường đi đến với chân lí, lẽ phải, công bằng, niềm tin, hi vọng. Lí tưởng còn hồi sinh, chỉ đường, đem đến cảm xúc mới, sức sống mới cho nghệ thuật, thơ ca của người chiến sĩ.

Không chỉ có tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với lí tưởng Cộng sản, người Người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy còn là người người chiến sĩ có lẽ sống nhân đạo cao đẹp. Con người ấy từ khi được giác ngộ lí tưởng, ý thức rằng cuộc sống và nghệ thuật thơ ca của mình không thuộc về cá nhân mình nữa mà thuộc về quần chúng cần lao và cuộc đấu tranh chung của dân tộc:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

Người chiến sĩ đã tự nguyện đem cái “tôi” nhỏ bé của mình gắn kết với cuộc đời để tạo nên sức mạnh đoàn kết, tranh đấu. Người chiến sĩ cũng ý thức rằng mình sẽ là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình cách mạng của những người lao khổ, bị áp bức, chiến đấu vì một lí tưởng cao đẹp.Nhà thơ tự nhận mình là “con”, “em”, “anh” trong đại gia đình ấy.

Hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy được khắc họa qua cách miêu tả trực tiếp bằng những cảm nhận của nhân vật trữ tình khi bắt gặp ánh sáng của lí tưởng, hoặc những lời ước nguyện, lời thề quyết tâm chiến đấu vì lí tưởng chung. Bài thơ làm hiện lên chân dung của một cái “tôi” chiến sĩ không cách biệt, trốn tránh cuộc đời như cái “tôi” thơ mới. Cái” tôi” trong bài thơ Từ ấy trẻ trung, hăm hở, nhiệt huyết, tràn đầy tình yêu, niềm say mê với lí tưởng cộng sản, sống có trách nhiệm với cuộc đời, với nhân dân đau khổ bị áp bức, với cuộc đấu chung của dân tộc.

2. So sánh hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ

* Điểm tương đồng:

Hình tượng người chiến sĩ trong bài Từ ấy và bài Chiều tối đều là những người chiễn sĩ nhưng có tâm hồn thi sĩ. Cả hai đều là người chiến sĩ trong thời đại mới kiên cường chiến đấu vì lí tưởng, có tâm hồn tinh tế nhạy cảm trước những biến thái tinh vi của cuộc sống, có trái tim giàu tình yêu thương, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu nhân dân…

Do được trang bị thế giới quan, nhân sinh quan Cộng sản nên người chiến sĩ trong hai bài thơ còn là những người có cái nhìn biện chứng, lạc quan trước sự vận động của cuộc sống và cách mạng.

Điểm khác biệt:

Người chiến sĩ trong bài thơ Chiều tối là người đang trong cảnh ngộ bị giam cầm. Đó là một bậc lão thành cách mạng, từng trải trên con đường đấu tranh có cảm xúc thâm trầm, sâu sắc.

Còn người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy là người thanh niên 18 tuổi, mới được kết nạp Đảng, đang được tự do hoạt động Cách mạng. Bài thơ Từ ấy là tiếng lòng của người chiến sĩ trẻ tuổi, tinh thần phơi phới lạc quan, đầy nhiệt huyết.

3. Ý nghĩa của hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ:

Đối với đương thời, hình tượng người chiến sĩ trong bài Từ ấy và Chiều tối thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn, tư thế hiên ngang bất khuất và niềm tin không gì lay chuyển nổi vào tương lai tất thắng của Cách mạng. Do vậy hai bài thơ không chỉ là tiếng lòng của hai nhà thơ- chiến sĩ mà còn là sự cổ vũ tinh thần to lớn cho các thế hệ người Việt Nam đang đấu tranh để giành độc lập, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân.

Cho đến hiện nay, mặc dù hai bài thơ ra đời cách đây đã gần 80 năm nhưng khi đọc lại bài thơ, những hình ảnh thơ tươi sáng, giọng thơ đầy nhiệt huyết và nhất là hình ảnh người chiến sĩ cách mạng kiên cường,giàu tình yêu thương sẽ mãi là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn cho các thế hệ thanh niên Việt Nam hiện nay và mai sau.

Tìm hiểu hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ, mỗi chúng ta sẽ rút ra được nhiều bài học có giá trị nhân văn sâu sắc: dù trong hoàn cảnh nào, nhất là những hoàn cảnh khó khăn nhất con người cần phải giữ có ý chí, nghị lực, vượt lên trên hoàn cảnh, hướng về tương lai và những điều tốt đẹp. Đó là sức mạnh tinh thần to lớn để ta có thể chiến thắng bản thân vượt lên trên hoàn cảnh, sống có ích cho bản thân , gia đình và xã hội.

Kết bài:

Bằng những lời thơ chân thành, tinh tế cả hai bài thơ đã dựng lên bức chân dung đẹp đẽ về tinh thần, nhân cách của những người chiến sĩ. Mỗi người mang trong mình những vẻ đẹp riêng, làm phong phú thêm bức tranh tâm hồn của người chiến sĩ. Nhưng đồng thời ở họ còn ánh lên vẻ đẹp chung đó là lòng yêu nước nồng nàn.

2. Vẻ đẹp của hình tượng người chiến sĩ Cách mạng trong bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh)

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kiệt xuất, tài ba bậc nhất của dân tộc. Song hành với sự nghiệp chính trị, quân sự thì về mảng thơ ca sáng tác Người cũng để lại cả một gia tài các tác phẩm đồ sộ về nhiều thể loại, trong đó Nhật ký trong tù là một trong những sáng tác thơ tiêu biểu thể hiện được nhiều khía cạnh trong tâm hồn người chiến sĩ lúc cảnh ngặt nghèo. Đặc biệt được thể hiện qua bài thơ Chiều tối (Mộ).

Với Chiều tối, đây là một sáng tác được ra đời trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt, khi Bác bị bắt tại biên giới Trung Quốc rồi bị chuyển qua hơn 30 nhà tù Tưởng Giới Thạch. Sự đày đọa của gông xiềng, mệt nhọc đường dài, nỗi cô đơn nơi đất khách quê người, thế nhưng không tài nào giết chết được tâm hồn lạc quan, yêu đời, yêu thiên nhiên, trung thành với cách mạng và hướng về sự sống, hơi ấm tình người của nhân vật.

Giữa cảnh núi non hiểm trở, vào một buổi chiều tối quạnh hiu Người vẫn nhìn ra được nhưng vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, con người bằng một đôi mắt nhiều xúc cảm.

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không”

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

Với những chất liệu quen thuộc trong thi ca cổ điển như cánh chim chiều hay chòm mây bay lơ lửng trên nền trời, Người đã nhẹ nhàng gợi ra một khung cảnh chiều tối hiu quạnh và vắng vẻ, dễ khiến người ta buồn lòng, đặc biệt là đưng lúc rơi vào cảnh khốn khổ. Thế nhưng Hồ Chí Minh không phải là một nhà thơ cổ điển, Người chỉ mượn cái chất cổ điển ấy và hiện đại nó lên để làm cho thơ ca của mình có nhiều điểm nhấn. Bởi lẽ tâm hồn người tù chính trị lúc này đây không chỉ đơn thuần là thấy cánh chim mà còn cảm nhận được sự vận động, trạng thái của nó. Đó là một cánh chim đang tìm về rừng trú ngụ, tìm về mái nhà, tổ ấm thân thương của nó sau một ngày dài lao động vất vả, mệt nhọc và nhà thơ cũng tìm thấy một sự tương quan sâu sắc giữa mình và cánh chim ấy. Bác cũng đương trong cảnh mệt mỏi, rệu rã sau một ngày đường trường vất vả. Chính vì vậy với tâm hồn nhân hậu và thấu hiểu, Người đã không nhìn cánh chim bằng đôi mắt của cổ nhân rằng cánh chim ấy lẻ loi cô độc, mất phương hướng, mà trái lại Người đã khéo léo cho nó được tìm về với tổ ấm, về với gia đình. Cũng từ từ đây ta lại nhìn nhận rõ được nỗi lòng của tác giả, sự buồn tủi của một người con xa xứ, luôn mong nhớ có một ngày được trở về mảnh đất quê hương, nhưng hiện tại điều ấy còn nhiều gian nan, thế nên Người đành tạm gửi niềm hy vọng vào cánh chim, để tin rằng từ quá khứ đến hiện tại cánh chim cuối cùng cũng có được một chốn đi về, thì bản thân người chiến sĩ cách mạng cũng sẽ có được ngày ấy.

Với hình ảnh chòm mây, xét về tính cổ điển thì cũng tương tự như cánh chim trời, cổ nhân thường dùng mây để diễn tả ước mơ được phiêu diêu tự tại, sống cuộc đời thoát ly trần thế, cùng với những xúc cảm bâng khuâng của con người trước thiên nhiên, vũ trụ vô tận. Tuy nhiên vào thơ Hồ Chí Minh, chòm mây trở nên hiện đại và duy vật hơn, Người đưa nó về thực tế để diễn tả tinh thần lạc quan, yêu đời yêu thiên nhiên của mình. Trong cảnh tù đày gông xiềng quấn thân, nhưng nhà thơ vẫn cảm nhận được sự ung dung, tự tại của chòm mây trên nền trời lúc sẩm tối, mở ra một khung cảnh trong trẻo khoáng đạt giữa núi rừng bao la.

Có thể nói rằng hiếm có được con người nào mà trước cảnh ngộ khốn khổ, rệu rã như Bác nhưng vẫn có tâm trạng thi vị, tự tìm cho mình thú vui quan sát mây trời thiên nhiên, từ một cánh chim vụt qua đến cả một chòm mây lững lờ trên nền trời, rồi gán cho nó những xúc cảm tích cực như vậy. Tuy nhiên trong cách nhìn và tả mây trời, Người vẫn bộc lộ những nỗi buồn tủi, sự cô đơn lạc lõng trên đất khách quê người, nỗi niềm mong mỏi được đoàn tụ với quê hương Tổ quốc lại càng thêm sâu sắc. Tuy nhiên đó không phải là những cảm xúc bất lực, khổ đau mà trái lại nó là những tình cảm mà bất kỳ con người nào cũng có, với Bác nó trở thành động lực để cho Người phấn đấu thoát khỏi cảnh gông xiềng khốn khổ, quay về phục vụ cho Tổ quốc, nhân dân.

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

Dịch thơ:

“Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng”

Trong hai câu thơ tiếp, từ bức tranh thiên nhiên rộng lớn, tầm mắt Người đã tìm thấy một bức tranh lao động đầy sức sống của con người giữa rừng già, điều ấy làm cho tổng thể bài thơ trở nên sáng và ấm áp tình người hơn cả. Đồng thời qua đó vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng lại càng được bộc lộ rõ hơn ở nhiều khía cạnh khác. Với hình ảnh xay ngô tối, một công việc rất đỗi đời thường, nhưng vào trong thơ của Hồ Chí Minh ta nhận thấy được những vẻ đẹp mang tính nghệ thuật, từ công việc lao động vất vả, nặng nhọc, người ta nhận ra sự sung sức, đức tính chăm chỉ cần cù, miệt mài của tuổi trẻ trong lao động.

Đặc biệt là hình ảnh “cô em xóm núi” xay ngô là một hình ảnh hiện đại và hay, người phụ nữ dần dà đã trở nên mạnh mẽ, tham gia vào những công việc mà trước đây vốn dĩ dành cho nam giới, bộc lộ sự bình đẳng của con người trong xã hội, sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, khả năng độc lập trong công cuộc mưu sinh.

Bên cạnh đó hình ảnh cô gái xay ngô còn thể hiện được quan niệm thẩm mỹ mới mẻ, hiện đại trong thơ ca Hồ Chí Minh, khi hình ảnh con người trong lao động đã hoàn toàn vụt sáng và nổi bật hẳn lên giữa núi rừng bao la, biến một khung cảnh vốn lạnh lẽo quạnh hiu, trở nên có sức sống và tràn ngập hơi ấm tình người.

Con người lao động trở thành trung tâm, là điểm nhấn đặc sắc, khác hẳn với hình ảnh con người trong thơ ca cổ điển luôn mờ nhạt, ảm đạm bị thiên nhiên áp đảo, che lấp. Sự biến đổi và sáng tạo mới trong thơ của Hồ Chủ tịch đã bộc lộ tấm lòng yêu thương, gắn bó với cuộc sống lao động của nhân dân, bộc lộ sự tinh tế trong cảm nhận những vẻ đẹp của con người bình thường của Bác. Khung cảnh lao động bình thường, gian khó đã làm Người tạm quên đi những vất vả mệt nhọc để chung vui với sự tự do tự tại, dồn mối quan tâm vào những vẻ đẹp tiềm ẩn của con người trong công cuộc lao động mưu sinh đầy vất vả của nhân dân.

Ở câu thơ cuối “Ma túc bao hoàn lô dĩ hồng”, từ “hồng” được xem là nhãn tự của bài thơ, vừa đánh dấu sự chuyển mình của thiên nhiên từ chiều tối sang tối hẳn, vừa trở thành điểm sáng xua tan đi cái khung cảnh lạnh lẽo, ảm đạm của núi rừng trong cả bài thơ, mang đến sự ấm áp cho toàn bộ cảnh vật đồng thời cũng sưởi ấm tấm lòng của nhà thơ. Có thể nói rằng trong khi tác giả đương cảm thấy trống trải, cô đơn nơi đất khách quê người thì chính hình ảnh lò than rực hồng cùng với con người say mê lao động đã kịp thời sưởi ấm tâm hồn của tác giả bằng hơi ấm của tình người, cho tác giả cảm giác của sự sum họp, đoàn viên quý giá. Điều đó đã bộc lộ những vận động rất tích cực trong tâm hồn người tù cách mạng, niềm tin vào cuộc sống, vào tương lai chưa từng bị những cái gông xiềng, cảnh tù đày làm mai một, mà tùy thời nó lại càng trở nên sáng rõ. Bác luôn hướng lòng mình về với sự sống con người trong lao động, hướng về hơi ấm tình người, tìm kiếm nó giữa núi rừng bao la bằng một tinh thần lạc quan và yêu đời, dung hòa với thiên nhiên, không bao giờ coi cảnh rừng rú thành chỗ ghê người sợ hãi mà trái lại nhân cảnh ấy Người lại tìm và khai thác được những nét đẹp tinh tế, mới mẻ.

Chiều tối là môt trong số những bài thơ hay xây dựng hình tượng người chiến sĩ cách mạng từ những tình cảm chan hòa tha thiết với thiên nhiên và tấm lòng sâu nặng, gắn bó với nhân dân. Thể hiện lý tưởng cách mạng cao đẹp của người chiến sĩ, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, tù đày hay tự do thì vẫn luôn vững lòng tin vào tương lai, một lòng muốn cống hiến sức mình cho Tổ quốc, cho nhân dân không hề nao núng, mệt mỏi dẫu đó là một chặng đường nhiều gian nan, vất vả.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Văn học – Tài liệu của ABC Land.

Nội dung trên đây,admin Abcland.Vn đã tổng hợp và gửi tới bạn đọc chi tiết về chủ đề “Cảm nhận của anh chị về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh❤️️”. Admin hy vọng bài viết chúng tôi chia sẻ về “Cảm nhận của anh chị về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh” sẽ giúp có nhiều thông tin hơn về “Cảm nhận của anh chị về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh [ ❤️️❤️️ ]”. Hãy đóng góp ý kiến để abcland.vn biên soạn bài viết chất lượng hơn về “Cảm nhận của anh chị về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh” bạn nhé.

Xem thêm:  Phân phối chương trình Tự nhiên xã hội lớp 2 Sách Kết nối tri thức với cuộc sống

Bài viết “Cảm nhận của anh chị về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh” được đăng bởi vào ngày 2022-05-05 03:51:56. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Xem thêm về Cảm nhận của anh chị về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh
#Cảm #nhận #của #anh #chị #về #hình #ảnh #người #chiến #sĩ #cách #mạng #trong #bài #thơ #Chiều #tối #của #Hồ #Chí #Minh

Hình tượng người lính cách mạng trong bài Chiều tối
Hình tượng người lính trong bài Chiều tối – Nêu cảm nhận của em về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh. Sau đây là tổng hợp một số bài văn mẫu hay về vẻ đẹp người chiến sĩ cách mạng trong bài Chiều tối đã được ABC Land sưu tầm xin chia sẻ đến bạn đọc cùng tham khảo.
Top 11 mẫu cảm nhận bài thơ Chiều tối siêu hay
Chiều tối (Mộ) là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Hồ Chí Minh được sáng tác trên hành trình chuyển lao từ Tĩnh Tây đi Thiên Bảo, vào khoảng bốn tháng sau khi Người bị bắt. Dưới đây là bài văn cảm nhận về hình tượng người lính cách mạng trong bài Chiều tối.
1. Cảm nhận hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh) và Từ ấy (Tố Hữu)
Hồ Chí Minh và Tố Hữu là hai nhà thơ cách mạng lớn của nền văn học Việt Nam thế kỷ 20. Gặp gỡ trong cảm hứng thi ca cách mạng, bài thơ Chiều tối của Hồ Chí minh và Từ ấy của Tố Hữu đã khắc họa đậm nét hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong bước tù đày nhưng vẫn hiên ngang, tràn trề sức sống, lạc quan, yêu đời, hướng đến tương lai.
Hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh.
Bài thơ Chiều tối ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt khi Hồ Chí Minh sang Trung Quốc tranh thủ sự viện trợ của phe Đồng minh cho Cách mạng việt Nam. Khi đến Quảng Tây thì Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. Vì không có chứng cớ khép tội nên chúng không thể đưa ra xét xử. Chúng đã hành hạ Người bằng cách giải đi khắp các nhà lao của tỉnh Quảng Tây trong hơn một năm trời nhằm tiêu diệt ý chí của người chiến sĩ cách mạng.
Bài thơ này cũng giống như nhiều các sáng tác khác được viết trên hành trình chuyển lao, chuyển từ nhà lao Tĩnh Tây đi nhà lao Thiên Bảo, vào khoảng bốn tháng sau khi Người bị bắt. Tác phẩm là bức chân dung tự họa của con người tù-chiến sĩ Hồ Chí Minh ở thời điểm gian nan thử thách nhất trên con đường cách mạng.
Đó là người chiến sĩ cách mạng có tâm hồn rộng mở, phóng khoáng, đón nhận vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên núi rừng:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Bức tranh thiên nhiên cảnh chiều mở ra ở cả chiều cao, chiều rộng của không gian và được vẽ bằng những nét phác họa đơn sơ, với những hình ảnh đậm đà sắc màu cổ điển như: “cánh chim” và “chòm mây”, có chút buồn vắng, quạnh hưu những vẫn thanh thoát, ấm áp hơi thở của sự sống.
Qua bức tranh thiên nhiên đó cho thấy nhân vật trữ tình là con người tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết, vượt lên trên cảnh ngộ tù đày. Dù cổ đang bị deo gông, chân tay bị xiềng xích, thân thể rã rời, mệt mỏi sau một ngày chuyển lao nhưng người tù-người chiến sĩ Hồ Chí Minh vẫn quên đi cảnh ngộ của bản thân mình để ngẩng cao đầu dõi theo một cánh chim chiều bay về tổ, một chòm mây lững lờ trên bầu trời.
Đó cũng là người chiến sĩ có tấm lòng nhân đạo, bao la, yêu thương, quan tâm chia sẻ với con người lao động, một tâm hồn luôn hướng về sự sống và ánh sáng :
Cô em xóm núi xay ngô tốiXay hết lò than đã rực hồng
Dù vẫn phải tiếp tục chuyển lao trong cảnh trời tối, giá lạnh nơi miền sơn cước nhưng người chiến sĩ ấy đã quên đi nỗi nhọc nhằn của riêng mình, hướng về cuộc sống của người dân lao động với cô gái trẻ nơi xóm núi đang xay ngô và lò than rực hồng đã đỏ để cảm thông, chia sẻ, ấm áp, vui lây niềm vui lao động của con người.
Bút pháp khắc hoạ chân dung người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối là bút pháp gợi tả, những hình ảnh đậm đà màu sắc cổ điển mà vẫn thấm đẫm tinh thần hiện đại, bởi hình tượng thơ vận động từ tối đến sang, từ buồn đến vui, coi con người là trung tâm, là chủ thể của đối tượng phản ánh.
Vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng hiện qua bức tranh cảnh vật thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt lao động của con người. Đó là con người ung dung, hoà hợp với thiên nhiên nhưng vẫn luôn trong tư thế làm chủ hoàn cảnh, hướng về con người, sự sống và ánh sáng, chất thi sĩ và chất chiến sĩ hoà quyện làm một.
Hình tượng người chiến sĩ trong bài Từ ấy của Tố Hữu:
Bài thơ Từ ấy ra đời đánh dấu một một bước ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Tố Hữu. Ngày nhà thơ được kết nạp vào Đảng cộng sản, đứng vào hàng ngũ những người cách mạng chiến đấu vì một lí tưởng chung, ông đã viết bài thơ này. Đặt trong hoàn cảnh sáng tác ấy, bài thơ đã cho thấy tình yêu, niềm say mê với lí tưởng cách mạng và lẽ sống cao đẹp làm nên vẻ đẹp hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ.
Vào cuối những năm ba mươi của thế kỉ XX cũng như nhiều thanh niên khác, Tố Hữu đã từng:
“Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đờiVẩn vơ theo mãi vòng quanh quẩnMuốn thoát, than ôi, bước chẳng rời”
(Nhớ đồng)
Trong khi đang bế tắc về đường lối, nhà thơ may mắn hơn nhiều người khác khi sớm bắt gặp lí tưởng Cách mạng và trở thành con người của Đảng. Niềm vui sướng, sự say mê mãnh liệt trong thời khắc quan trọng quyết định bước ngoặt của cuộc đời và sự nghiệp được Tố Hữu diễn tả chân thành trong khổ thơ đầu của bài thơ:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chói qua timHồn tôi là một vườn hoa láRất đậm hương và rộn tiếng chim
Lí tưởng chính là ánh nắng hạ rực lửa, là mặt trời chói sáng, soi rọi giúp cho nhà thơ nhận ra con đường đi đến với chân lí, lẽ phải, công bằng, niềm tin, hi vọng. Lí tưởng còn hồi sinh, chỉ đường, đem đến cảm xúc mới, sức sống mới cho nghệ thuật, thơ ca của người chiến sĩ.
Không chỉ có tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với lí tưởng Cộng sản, người Người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy còn là người người chiến sĩ có lẽ sống nhân đạo cao đẹp. Con người ấy từ khi được giác ngộ lí tưởng, ý thức rằng cuộc sống và nghệ thuật thơ ca của mình không thuộc về cá nhân mình nữa mà thuộc về quần chúng cần lao và cuộc đấu tranh chung của dân tộc:
Tôi buộc lòng tôi với mọi ngườiĐể tình trang trải với trăm nơiĐể hồn tôi với bao hồn khổGần gũi nhau thêm mạnh khối đời.
Người chiến sĩ đã tự nguyện đem cái “tôi” nhỏ bé của mình gắn kết với cuộc đời để tạo nên sức mạnh đoàn kết, tranh đấu. Người chiến sĩ cũng ý thức rằng mình sẽ là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình cách mạng của những người lao khổ, bị áp bức, chiến đấu vì một lí tưởng cao đẹp.Nhà thơ tự nhận mình là “con”, “em”, “anh” trong đại gia đình ấy.
Hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy được khắc họa qua cách miêu tả trực tiếp bằng những cảm nhận của nhân vật trữ tình khi bắt gặp ánh sáng của lí tưởng, hoặc những lời ước nguyện, lời thề quyết tâm chiến đấu vì lí tưởng chung. Bài thơ làm hiện lên chân dung của một cái “tôi” chiến sĩ không cách biệt, trốn tránh cuộc đời như cái “tôi” thơ mới. Cái” tôi” trong bài thơ Từ ấy trẻ trung, hăm hở, nhiệt huyết, tràn đầy tình yêu, niềm say mê với lí tưởng cộng sản, sống có trách nhiệm với cuộc đời, với nhân dân đau khổ bị áp bức, với cuộc đấu chung của dân tộc.
2. So sánh hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ
* Điểm tương đồng:
Hình tượng người chiến sĩ trong bài Từ ấy và bài Chiều tối đều là những người chiễn sĩ nhưng có tâm hồn thi sĩ. Cả hai đều là người chiến sĩ trong thời đại mới kiên cường chiến đấu vì lí tưởng, có tâm hồn tinh tế nhạy cảm trước những biến thái tinh vi của cuộc sống, có trái tim giàu tình yêu thương, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu nhân dân…
Do được trang bị thế giới quan, nhân sinh quan Cộng sản nên người chiến sĩ trong hai bài thơ còn là những người có cái nhìn biện chứng, lạc quan trước sự vận động của cuộc sống và cách mạng.
Điểm khác biệt:
Người chiến sĩ trong bài thơ Chiều tối là người đang trong cảnh ngộ bị giam cầm. Đó là một bậc lão thành cách mạng, từng trải trên con đường đấu tranh có cảm xúc thâm trầm, sâu sắc.
Còn người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy là người thanh niên 18 tuổi, mới được kết nạp Đảng, đang được tự do hoạt động Cách mạng. Bài thơ Từ ấy là tiếng lòng của người chiến sĩ trẻ tuổi, tinh thần phơi phới lạc quan, đầy nhiệt huyết.
3. Ý nghĩa của hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ:
Đối với đương thời, hình tượng người chiến sĩ trong bài Từ ấy và Chiều tối thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn, tư thế hiên ngang bất khuất và niềm tin không gì lay chuyển nổi vào tương lai tất thắng của Cách mạng. Do vậy hai bài thơ không chỉ là tiếng lòng của hai nhà thơ- chiến sĩ mà còn là sự cổ vũ tinh thần to lớn cho các thế hệ người Việt Nam đang đấu tranh để giành độc lập, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân.
Cho đến hiện nay, mặc dù hai bài thơ ra đời cách đây đã gần 80 năm nhưng khi đọc lại bài thơ, những hình ảnh thơ tươi sáng, giọng thơ đầy nhiệt huyết và nhất là hình ảnh người chiến sĩ cách mạng kiên cường,giàu tình yêu thương sẽ mãi là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn cho các thế hệ thanh niên Việt Nam hiện nay và mai sau.
Tìm hiểu hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ, mỗi chúng ta sẽ rút ra được nhiều bài học có giá trị nhân văn sâu sắc: dù trong hoàn cảnh nào, nhất là những hoàn cảnh khó khăn nhất con người cần phải giữ có ý chí, nghị lực, vượt lên trên hoàn cảnh, hướng về tương lai và những điều tốt đẹp. Đó là sức mạnh tinh thần to lớn để ta có thể chiến thắng bản thân vượt lên trên hoàn cảnh, sống có ích cho bản thân , gia đình và xã hội.
Kết bài:
Bằng những lời thơ chân thành, tinh tế cả hai bài thơ đã dựng lên bức chân dung đẹp đẽ về tinh thần, nhân cách của những người chiến sĩ. Mỗi người mang trong mình những vẻ đẹp riêng, làm phong phú thêm bức tranh tâm hồn của người chiến sĩ. Nhưng đồng thời ở họ còn ánh lên vẻ đẹp chung đó là lòng yêu nước nồng nàn.
2. Vẻ đẹp của hình tượng người chiến sĩ Cách mạng trong bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh)
Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kiệt xuất, tài ba bậc nhất của dân tộc. Song hành với sự nghiệp chính trị, quân sự thì về mảng thơ ca sáng tác Người cũng để lại cả một gia tài các tác phẩm đồ sộ về nhiều thể loại, trong đó Nhật ký trong tù là một trong những sáng tác thơ tiêu biểu thể hiện được nhiều khía cạnh trong tâm hồn người chiến sĩ lúc cảnh ngặt nghèo. Đặc biệt được thể hiện qua bài thơ Chiều tối (Mộ).
Với Chiều tối, đây là một sáng tác được ra đời trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt, khi Bác bị bắt tại biên giới Trung Quốc rồi bị chuyển qua hơn 30 nhà tù Tưởng Giới Thạch. Sự đày đọa của gông xiềng, mệt nhọc đường dài, nỗi cô đơn nơi đất khách quê người, thế nhưng không tài nào giết chết được tâm hồn lạc quan, yêu đời, yêu thiên nhiên, trung thành với cách mạng và hướng về sự sống, hơi ấm tình người của nhân vật.
Giữa cảnh núi non hiểm trở, vào một buổi chiều tối quạnh hiu Người vẫn nhìn ra được nhưng vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, con người bằng một đôi mắt nhiều xúc cảm.
“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụCô vân mạn mạn độ thiên không”
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”
Với những chất liệu quen thuộc trong thi ca cổ điển như cánh chim chiều hay chòm mây bay lơ lửng trên nền trời, Người đã nhẹ nhàng gợi ra một khung cảnh chiều tối hiu quạnh và vắng vẻ, dễ khiến người ta buồn lòng, đặc biệt là đưng lúc rơi vào cảnh khốn khổ. Thế nhưng Hồ Chí Minh không phải là một nhà thơ cổ điển, Người chỉ mượn cái chất cổ điển ấy và hiện đại nó lên để làm cho thơ ca của mình có nhiều điểm nhấn. Bởi lẽ tâm hồn người tù chính trị lúc này đây không chỉ đơn thuần là thấy cánh chim mà còn cảm nhận được sự vận động, trạng thái của nó. Đó là một cánh chim đang tìm về rừng trú ngụ, tìm về mái nhà, tổ ấm thân thương của nó sau một ngày dài lao động vất vả, mệt nhọc và nhà thơ cũng tìm thấy một sự tương quan sâu sắc giữa mình và cánh chim ấy. Bác cũng đương trong cảnh mệt mỏi, rệu rã sau một ngày đường trường vất vả. Chính vì vậy với tâm hồn nhân hậu và thấu hiểu, Người đã không nhìn cánh chim bằng đôi mắt của cổ nhân rằng cánh chim ấy lẻ loi cô độc, mất phương hướng, mà trái lại Người đã khéo léo cho nó được tìm về với tổ ấm, về với gia đình. Cũng từ từ đây ta lại nhìn nhận rõ được nỗi lòng của tác giả, sự buồn tủi của một người con xa xứ, luôn mong nhớ có một ngày được trở về mảnh đất quê hương, nhưng hiện tại điều ấy còn nhiều gian nan, thế nên Người đành tạm gửi niềm hy vọng vào cánh chim, để tin rằng từ quá khứ đến hiện tại cánh chim cuối cùng cũng có được một chốn đi về, thì bản thân người chiến sĩ cách mạng cũng sẽ có được ngày ấy.
Với hình ảnh chòm mây, xét về tính cổ điển thì cũng tương tự như cánh chim trời, cổ nhân thường dùng mây để diễn tả ước mơ được phiêu diêu tự tại, sống cuộc đời thoát ly trần thế, cùng với những xúc cảm bâng khuâng của con người trước thiên nhiên, vũ trụ vô tận. Tuy nhiên vào thơ Hồ Chí Minh, chòm mây trở nên hiện đại và duy vật hơn, Người đưa nó về thực tế để diễn tả tinh thần lạc quan, yêu đời yêu thiên nhiên của mình. Trong cảnh tù đày gông xiềng quấn thân, nhưng nhà thơ vẫn cảm nhận được sự ung dung, tự tại của chòm mây trên nền trời lúc sẩm tối, mở ra một khung cảnh trong trẻo khoáng đạt giữa núi rừng bao la.
Có thể nói rằng hiếm có được con người nào mà trước cảnh ngộ khốn khổ, rệu rã như Bác nhưng vẫn có tâm trạng thi vị, tự tìm cho mình thú vui quan sát mây trời thiên nhiên, từ một cánh chim vụt qua đến cả một chòm mây lững lờ trên nền trời, rồi gán cho nó những xúc cảm tích cực như vậy. Tuy nhiên trong cách nhìn và tả mây trời, Người vẫn bộc lộ những nỗi buồn tủi, sự cô đơn lạc lõng trên đất khách quê người, nỗi niềm mong mỏi được đoàn tụ với quê hương Tổ quốc lại càng thêm sâu sắc. Tuy nhiên đó không phải là những cảm xúc bất lực, khổ đau mà trái lại nó là những tình cảm mà bất kỳ con người nào cũng có, với Bác nó trở thành động lực để cho Người phấn đấu thoát khỏi cảnh gông xiềng khốn khổ, quay về phục vụ cho Tổ quốc, nhân dân.
“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túcBao túc ma hoàn lô dĩ hồng”
Dịch thơ:
“Cô em xóm núi xay ngô tốiXay hết lò than đã rực hồng”
Trong hai câu thơ tiếp, từ bức tranh thiên nhiên rộng lớn, tầm mắt Người đã tìm thấy một bức tranh lao động đầy sức sống của con người giữa rừng già, điều ấy làm cho tổng thể bài thơ trở nên sáng và ấm áp tình người hơn cả. Đồng thời qua đó vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng lại càng được bộc lộ rõ hơn ở nhiều khía cạnh khác. Với hình ảnh xay ngô tối, một công việc rất đỗi đời thường, nhưng vào trong thơ của Hồ Chí Minh ta nhận thấy được những vẻ đẹp mang tính nghệ thuật, từ công việc lao động vất vả, nặng nhọc, người ta nhận ra sự sung sức, đức tính chăm chỉ cần cù, miệt mài của tuổi trẻ trong lao động.
Đặc biệt là hình ảnh “cô em xóm núi” xay ngô là một hình ảnh hiện đại và hay, người phụ nữ dần dà đã trở nên mạnh mẽ, tham gia vào những công việc mà trước đây vốn dĩ dành cho nam giới, bộc lộ sự bình đẳng của con người trong xã hội, sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, khả năng độc lập trong công cuộc mưu sinh.
Bên cạnh đó hình ảnh cô gái xay ngô còn thể hiện được quan niệm thẩm mỹ mới mẻ, hiện đại trong thơ ca Hồ Chí Minh, khi hình ảnh con người trong lao động đã hoàn toàn vụt sáng và nổi bật hẳn lên giữa núi rừng bao la, biến một khung cảnh vốn lạnh lẽo quạnh hiu, trở nên có sức sống và tràn ngập hơi ấm tình người.
Con người lao động trở thành trung tâm, là điểm nhấn đặc sắc, khác hẳn với hình ảnh con người trong thơ ca cổ điển luôn mờ nhạt, ảm đạm bị thiên nhiên áp đảo, che lấp. Sự biến đổi và sáng tạo mới trong thơ của Hồ Chủ tịch đã bộc lộ tấm lòng yêu thương, gắn bó với cuộc sống lao động của nhân dân, bộc lộ sự tinh tế trong cảm nhận những vẻ đẹp của con người bình thường của Bác. Khung cảnh lao động bình thường, gian khó đã làm Người tạm quên đi những vất vả mệt nhọc để chung vui với sự tự do tự tại, dồn mối quan tâm vào những vẻ đẹp tiềm ẩn của con người trong công cuộc lao động mưu sinh đầy vất vả của nhân dân.
Ở câu thơ cuối “Ma túc bao hoàn lô dĩ hồng”, từ “hồng” được xem là nhãn tự của bài thơ, vừa đánh dấu sự chuyển mình của thiên nhiên từ chiều tối sang tối hẳn, vừa trở thành điểm sáng xua tan đi cái khung cảnh lạnh lẽo, ảm đạm của núi rừng trong cả bài thơ, mang đến sự ấm áp cho toàn bộ cảnh vật đồng thời cũng sưởi ấm tấm lòng của nhà thơ. Có thể nói rằng trong khi tác giả đương cảm thấy trống trải, cô đơn nơi đất khách quê người thì chính hình ảnh lò than rực hồng cùng với con người say mê lao động đã kịp thời sưởi ấm tâm hồn của tác giả bằng hơi ấm của tình người, cho tác giả cảm giác của sự sum họp, đoàn viên quý giá. Điều đó đã bộc lộ những vận động rất tích cực trong tâm hồn người tù cách mạng, niềm tin vào cuộc sống, vào tương lai chưa từng bị những cái gông xiềng, cảnh tù đày làm mai một, mà tùy thời nó lại càng trở nên sáng rõ. Bác luôn hướng lòng mình về với sự sống con người trong lao động, hướng về hơi ấm tình người, tìm kiếm nó giữa núi rừng bao la bằng một tinh thần lạc quan và yêu đời, dung hòa với thiên nhiên, không bao giờ coi cảnh rừng rú thành chỗ ghê người sợ hãi mà trái lại nhân cảnh ấy Người lại tìm và khai thác được những nét đẹp tinh tế, mới mẻ.
Chiều tối là môt trong số những bài thơ hay xây dựng hình tượng người chiến sĩ cách mạng từ những tình cảm chan hòa tha thiết với thiên nhiên và tấm lòng sâu nặng, gắn bó với nhân dân. Thể hiện lý tưởng cách mạng cao đẹp của người chiến sĩ, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, tù đày hay tự do thì vẫn luôn vững lòng tin vào tương lai, một lòng muốn cống hiến sức mình cho Tổ quốc, cho nhân dân không hề nao núng, mệt mỏi dẫu đó là một chặng đường nhiều gian nan, vất vả.
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Văn học – Tài liệu của ABC Land.

Xem thêm:  Lời bài hát Yêu Xa Hóa Gần - Hoàng Dũng x Miu Lê

#Cảm #nhận #của #anh #chị #về #hình #ảnh #người #chiến #sĩ #cách #mạng #trong #bài #thơ #Chiều #tối #của #Hồ #Chí #Minh

Hình tượng người lính cách mạng trong bài Chiều tối
Hình tượng người lính trong bài Chiều tối – Nêu cảm nhận của em về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh. Sau đây là tổng hợp một số bài văn mẫu hay về vẻ đẹp người chiến sĩ cách mạng trong bài Chiều tối đã được ABC Land sưu tầm xin chia sẻ đến bạn đọc cùng tham khảo.
Top 11 mẫu cảm nhận bài thơ Chiều tối siêu hay
Chiều tối (Mộ) là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Hồ Chí Minh được sáng tác trên hành trình chuyển lao từ Tĩnh Tây đi Thiên Bảo, vào khoảng bốn tháng sau khi Người bị bắt. Dưới đây là bài văn cảm nhận về hình tượng người lính cách mạng trong bài Chiều tối.
1. Cảm nhận hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh) và Từ ấy (Tố Hữu)
Hồ Chí Minh và Tố Hữu là hai nhà thơ cách mạng lớn của nền văn học Việt Nam thế kỷ 20. Gặp gỡ trong cảm hứng thi ca cách mạng, bài thơ Chiều tối của Hồ Chí minh và Từ ấy của Tố Hữu đã khắc họa đậm nét hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong bước tù đày nhưng vẫn hiên ngang, tràn trề sức sống, lạc quan, yêu đời, hướng đến tương lai.
Hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh.
Bài thơ Chiều tối ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt khi Hồ Chí Minh sang Trung Quốc tranh thủ sự viện trợ của phe Đồng minh cho Cách mạng việt Nam. Khi đến Quảng Tây thì Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. Vì không có chứng cớ khép tội nên chúng không thể đưa ra xét xử. Chúng đã hành hạ Người bằng cách giải đi khắp các nhà lao của tỉnh Quảng Tây trong hơn một năm trời nhằm tiêu diệt ý chí của người chiến sĩ cách mạng.
Bài thơ này cũng giống như nhiều các sáng tác khác được viết trên hành trình chuyển lao, chuyển từ nhà lao Tĩnh Tây đi nhà lao Thiên Bảo, vào khoảng bốn tháng sau khi Người bị bắt. Tác phẩm là bức chân dung tự họa của con người tù-chiến sĩ Hồ Chí Minh ở thời điểm gian nan thử thách nhất trên con đường cách mạng.
Đó là người chiến sĩ cách mạng có tâm hồn rộng mở, phóng khoáng, đón nhận vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên núi rừng:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Bức tranh thiên nhiên cảnh chiều mở ra ở cả chiều cao, chiều rộng của không gian và được vẽ bằng những nét phác họa đơn sơ, với những hình ảnh đậm đà sắc màu cổ điển như: “cánh chim” và “chòm mây”, có chút buồn vắng, quạnh hưu những vẫn thanh thoát, ấm áp hơi thở của sự sống.
Qua bức tranh thiên nhiên đó cho thấy nhân vật trữ tình là con người tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết, vượt lên trên cảnh ngộ tù đày. Dù cổ đang bị deo gông, chân tay bị xiềng xích, thân thể rã rời, mệt mỏi sau một ngày chuyển lao nhưng người tù-người chiến sĩ Hồ Chí Minh vẫn quên đi cảnh ngộ của bản thân mình để ngẩng cao đầu dõi theo một cánh chim chiều bay về tổ, một chòm mây lững lờ trên bầu trời.
Đó cũng là người chiến sĩ có tấm lòng nhân đạo, bao la, yêu thương, quan tâm chia sẻ với con người lao động, một tâm hồn luôn hướng về sự sống và ánh sáng :
Cô em xóm núi xay ngô tốiXay hết lò than đã rực hồng
Dù vẫn phải tiếp tục chuyển lao trong cảnh trời tối, giá lạnh nơi miền sơn cước nhưng người chiến sĩ ấy đã quên đi nỗi nhọc nhằn của riêng mình, hướng về cuộc sống của người dân lao động với cô gái trẻ nơi xóm núi đang xay ngô và lò than rực hồng đã đỏ để cảm thông, chia sẻ, ấm áp, vui lây niềm vui lao động của con người.
Bút pháp khắc hoạ chân dung người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối là bút pháp gợi tả, những hình ảnh đậm đà màu sắc cổ điển mà vẫn thấm đẫm tinh thần hiện đại, bởi hình tượng thơ vận động từ tối đến sang, từ buồn đến vui, coi con người là trung tâm, là chủ thể của đối tượng phản ánh.
Vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng hiện qua bức tranh cảnh vật thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt lao động của con người. Đó là con người ung dung, hoà hợp với thiên nhiên nhưng vẫn luôn trong tư thế làm chủ hoàn cảnh, hướng về con người, sự sống và ánh sáng, chất thi sĩ và chất chiến sĩ hoà quyện làm một.
Hình tượng người chiến sĩ trong bài Từ ấy của Tố Hữu:
Bài thơ Từ ấy ra đời đánh dấu một một bước ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Tố Hữu. Ngày nhà thơ được kết nạp vào Đảng cộng sản, đứng vào hàng ngũ những người cách mạng chiến đấu vì một lí tưởng chung, ông đã viết bài thơ này. Đặt trong hoàn cảnh sáng tác ấy, bài thơ đã cho thấy tình yêu, niềm say mê với lí tưởng cách mạng và lẽ sống cao đẹp làm nên vẻ đẹp hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ.
Vào cuối những năm ba mươi của thế kỉ XX cũng như nhiều thanh niên khác, Tố Hữu đã từng:
“Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đờiVẩn vơ theo mãi vòng quanh quẩnMuốn thoát, than ôi, bước chẳng rời”
(Nhớ đồng)
Trong khi đang bế tắc về đường lối, nhà thơ may mắn hơn nhiều người khác khi sớm bắt gặp lí tưởng Cách mạng và trở thành con người của Đảng. Niềm vui sướng, sự say mê mãnh liệt trong thời khắc quan trọng quyết định bước ngoặt của cuộc đời và sự nghiệp được Tố Hữu diễn tả chân thành trong khổ thơ đầu của bài thơ:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chói qua timHồn tôi là một vườn hoa láRất đậm hương và rộn tiếng chim
Lí tưởng chính là ánh nắng hạ rực lửa, là mặt trời chói sáng, soi rọi giúp cho nhà thơ nhận ra con đường đi đến với chân lí, lẽ phải, công bằng, niềm tin, hi vọng. Lí tưởng còn hồi sinh, chỉ đường, đem đến cảm xúc mới, sức sống mới cho nghệ thuật, thơ ca của người chiến sĩ.
Không chỉ có tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với lí tưởng Cộng sản, người Người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy còn là người người chiến sĩ có lẽ sống nhân đạo cao đẹp. Con người ấy từ khi được giác ngộ lí tưởng, ý thức rằng cuộc sống và nghệ thuật thơ ca của mình không thuộc về cá nhân mình nữa mà thuộc về quần chúng cần lao và cuộc đấu tranh chung của dân tộc:
Tôi buộc lòng tôi với mọi ngườiĐể tình trang trải với trăm nơiĐể hồn tôi với bao hồn khổGần gũi nhau thêm mạnh khối đời.
Người chiến sĩ đã tự nguyện đem cái “tôi” nhỏ bé của mình gắn kết với cuộc đời để tạo nên sức mạnh đoàn kết, tranh đấu. Người chiến sĩ cũng ý thức rằng mình sẽ là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình cách mạng của những người lao khổ, bị áp bức, chiến đấu vì một lí tưởng cao đẹp.Nhà thơ tự nhận mình là “con”, “em”, “anh” trong đại gia đình ấy.
Hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy được khắc họa qua cách miêu tả trực tiếp bằng những cảm nhận của nhân vật trữ tình khi bắt gặp ánh sáng của lí tưởng, hoặc những lời ước nguyện, lời thề quyết tâm chiến đấu vì lí tưởng chung. Bài thơ làm hiện lên chân dung của một cái “tôi” chiến sĩ không cách biệt, trốn tránh cuộc đời như cái “tôi” thơ mới. Cái” tôi” trong bài thơ Từ ấy trẻ trung, hăm hở, nhiệt huyết, tràn đầy tình yêu, niềm say mê với lí tưởng cộng sản, sống có trách nhiệm với cuộc đời, với nhân dân đau khổ bị áp bức, với cuộc đấu chung của dân tộc.
2. So sánh hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ
* Điểm tương đồng:
Hình tượng người chiến sĩ trong bài Từ ấy và bài Chiều tối đều là những người chiễn sĩ nhưng có tâm hồn thi sĩ. Cả hai đều là người chiến sĩ trong thời đại mới kiên cường chiến đấu vì lí tưởng, có tâm hồn tinh tế nhạy cảm trước những biến thái tinh vi của cuộc sống, có trái tim giàu tình yêu thương, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu nhân dân…
Do được trang bị thế giới quan, nhân sinh quan Cộng sản nên người chiến sĩ trong hai bài thơ còn là những người có cái nhìn biện chứng, lạc quan trước sự vận động của cuộc sống và cách mạng.
Điểm khác biệt:
Người chiến sĩ trong bài thơ Chiều tối là người đang trong cảnh ngộ bị giam cầm. Đó là một bậc lão thành cách mạng, từng trải trên con đường đấu tranh có cảm xúc thâm trầm, sâu sắc.
Còn người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy là người thanh niên 18 tuổi, mới được kết nạp Đảng, đang được tự do hoạt động Cách mạng. Bài thơ Từ ấy là tiếng lòng của người chiến sĩ trẻ tuổi, tinh thần phơi phới lạc quan, đầy nhiệt huyết.
3. Ý nghĩa của hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ:
Đối với đương thời, hình tượng người chiến sĩ trong bài Từ ấy và Chiều tối thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn, tư thế hiên ngang bất khuất và niềm tin không gì lay chuyển nổi vào tương lai tất thắng của Cách mạng. Do vậy hai bài thơ không chỉ là tiếng lòng của hai nhà thơ- chiến sĩ mà còn là sự cổ vũ tinh thần to lớn cho các thế hệ người Việt Nam đang đấu tranh để giành độc lập, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân.
Cho đến hiện nay, mặc dù hai bài thơ ra đời cách đây đã gần 80 năm nhưng khi đọc lại bài thơ, những hình ảnh thơ tươi sáng, giọng thơ đầy nhiệt huyết và nhất là hình ảnh người chiến sĩ cách mạng kiên cường,giàu tình yêu thương sẽ mãi là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn cho các thế hệ thanh niên Việt Nam hiện nay và mai sau.
Tìm hiểu hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ, mỗi chúng ta sẽ rút ra được nhiều bài học có giá trị nhân văn sâu sắc: dù trong hoàn cảnh nào, nhất là những hoàn cảnh khó khăn nhất con người cần phải giữ có ý chí, nghị lực, vượt lên trên hoàn cảnh, hướng về tương lai và những điều tốt đẹp. Đó là sức mạnh tinh thần to lớn để ta có thể chiến thắng bản thân vượt lên trên hoàn cảnh, sống có ích cho bản thân , gia đình và xã hội.
Kết bài:
Bằng những lời thơ chân thành, tinh tế cả hai bài thơ đã dựng lên bức chân dung đẹp đẽ về tinh thần, nhân cách của những người chiến sĩ. Mỗi người mang trong mình những vẻ đẹp riêng, làm phong phú thêm bức tranh tâm hồn của người chiến sĩ. Nhưng đồng thời ở họ còn ánh lên vẻ đẹp chung đó là lòng yêu nước nồng nàn.
2. Vẻ đẹp của hình tượng người chiến sĩ Cách mạng trong bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh)
Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kiệt xuất, tài ba bậc nhất của dân tộc. Song hành với sự nghiệp chính trị, quân sự thì về mảng thơ ca sáng tác Người cũng để lại cả một gia tài các tác phẩm đồ sộ về nhiều thể loại, trong đó Nhật ký trong tù là một trong những sáng tác thơ tiêu biểu thể hiện được nhiều khía cạnh trong tâm hồn người chiến sĩ lúc cảnh ngặt nghèo. Đặc biệt được thể hiện qua bài thơ Chiều tối (Mộ).
Với Chiều tối, đây là một sáng tác được ra đời trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt, khi Bác bị bắt tại biên giới Trung Quốc rồi bị chuyển qua hơn 30 nhà tù Tưởng Giới Thạch. Sự đày đọa của gông xiềng, mệt nhọc đường dài, nỗi cô đơn nơi đất khách quê người, thế nhưng không tài nào giết chết được tâm hồn lạc quan, yêu đời, yêu thiên nhiên, trung thành với cách mạng và hướng về sự sống, hơi ấm tình người của nhân vật.
Giữa cảnh núi non hiểm trở, vào một buổi chiều tối quạnh hiu Người vẫn nhìn ra được nhưng vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, con người bằng một đôi mắt nhiều xúc cảm.
“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụCô vân mạn mạn độ thiên không”
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”
Với những chất liệu quen thuộc trong thi ca cổ điển như cánh chim chiều hay chòm mây bay lơ lửng trên nền trời, Người đã nhẹ nhàng gợi ra một khung cảnh chiều tối hiu quạnh và vắng vẻ, dễ khiến người ta buồn lòng, đặc biệt là đưng lúc rơi vào cảnh khốn khổ. Thế nhưng Hồ Chí Minh không phải là một nhà thơ cổ điển, Người chỉ mượn cái chất cổ điển ấy và hiện đại nó lên để làm cho thơ ca của mình có nhiều điểm nhấn. Bởi lẽ tâm hồn người tù chính trị lúc này đây không chỉ đơn thuần là thấy cánh chim mà còn cảm nhận được sự vận động, trạng thái của nó. Đó là một cánh chim đang tìm về rừng trú ngụ, tìm về mái nhà, tổ ấm thân thương của nó sau một ngày dài lao động vất vả, mệt nhọc và nhà thơ cũng tìm thấy một sự tương quan sâu sắc giữa mình và cánh chim ấy. Bác cũng đương trong cảnh mệt mỏi, rệu rã sau một ngày đường trường vất vả. Chính vì vậy với tâm hồn nhân hậu và thấu hiểu, Người đã không nhìn cánh chim bằng đôi mắt của cổ nhân rằng cánh chim ấy lẻ loi cô độc, mất phương hướng, mà trái lại Người đã khéo léo cho nó được tìm về với tổ ấm, về với gia đình. Cũng từ từ đây ta lại nhìn nhận rõ được nỗi lòng của tác giả, sự buồn tủi của một người con xa xứ, luôn mong nhớ có một ngày được trở về mảnh đất quê hương, nhưng hiện tại điều ấy còn nhiều gian nan, thế nên Người đành tạm gửi niềm hy vọng vào cánh chim, để tin rằng từ quá khứ đến hiện tại cánh chim cuối cùng cũng có được một chốn đi về, thì bản thân người chiến sĩ cách mạng cũng sẽ có được ngày ấy.
Với hình ảnh chòm mây, xét về tính cổ điển thì cũng tương tự như cánh chim trời, cổ nhân thường dùng mây để diễn tả ước mơ được phiêu diêu tự tại, sống cuộc đời thoát ly trần thế, cùng với những xúc cảm bâng khuâng của con người trước thiên nhiên, vũ trụ vô tận. Tuy nhiên vào thơ Hồ Chí Minh, chòm mây trở nên hiện đại và duy vật hơn, Người đưa nó về thực tế để diễn tả tinh thần lạc quan, yêu đời yêu thiên nhiên của mình. Trong cảnh tù đày gông xiềng quấn thân, nhưng nhà thơ vẫn cảm nhận được sự ung dung, tự tại của chòm mây trên nền trời lúc sẩm tối, mở ra một khung cảnh trong trẻo khoáng đạt giữa núi rừng bao la.
Có thể nói rằng hiếm có được con người nào mà trước cảnh ngộ khốn khổ, rệu rã như Bác nhưng vẫn có tâm trạng thi vị, tự tìm cho mình thú vui quan sát mây trời thiên nhiên, từ một cánh chim vụt qua đến cả một chòm mây lững lờ trên nền trời, rồi gán cho nó những xúc cảm tích cực như vậy. Tuy nhiên trong cách nhìn và tả mây trời, Người vẫn bộc lộ những nỗi buồn tủi, sự cô đơn lạc lõng trên đất khách quê người, nỗi niềm mong mỏi được đoàn tụ với quê hương Tổ quốc lại càng thêm sâu sắc. Tuy nhiên đó không phải là những cảm xúc bất lực, khổ đau mà trái lại nó là những tình cảm mà bất kỳ con người nào cũng có, với Bác nó trở thành động lực để cho Người phấn đấu thoát khỏi cảnh gông xiềng khốn khổ, quay về phục vụ cho Tổ quốc, nhân dân.
“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túcBao túc ma hoàn lô dĩ hồng”
Dịch thơ:
“Cô em xóm núi xay ngô tốiXay hết lò than đã rực hồng”
Trong hai câu thơ tiếp, từ bức tranh thiên nhiên rộng lớn, tầm mắt Người đã tìm thấy một bức tranh lao động đầy sức sống của con người giữa rừng già, điều ấy làm cho tổng thể bài thơ trở nên sáng và ấm áp tình người hơn cả. Đồng thời qua đó vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng lại càng được bộc lộ rõ hơn ở nhiều khía cạnh khác. Với hình ảnh xay ngô tối, một công việc rất đỗi đời thường, nhưng vào trong thơ của Hồ Chí Minh ta nhận thấy được những vẻ đẹp mang tính nghệ thuật, từ công việc lao động vất vả, nặng nhọc, người ta nhận ra sự sung sức, đức tính chăm chỉ cần cù, miệt mài của tuổi trẻ trong lao động.
Đặc biệt là hình ảnh “cô em xóm núi” xay ngô là một hình ảnh hiện đại và hay, người phụ nữ dần dà đã trở nên mạnh mẽ, tham gia vào những công việc mà trước đây vốn dĩ dành cho nam giới, bộc lộ sự bình đẳng của con người trong xã hội, sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, khả năng độc lập trong công cuộc mưu sinh.
Bên cạnh đó hình ảnh cô gái xay ngô còn thể hiện được quan niệm thẩm mỹ mới mẻ, hiện đại trong thơ ca Hồ Chí Minh, khi hình ảnh con người trong lao động đã hoàn toàn vụt sáng và nổi bật hẳn lên giữa núi rừng bao la, biến một khung cảnh vốn lạnh lẽo quạnh hiu, trở nên có sức sống và tràn ngập hơi ấm tình người.
Con người lao động trở thành trung tâm, là điểm nhấn đặc sắc, khác hẳn với hình ảnh con người trong thơ ca cổ điển luôn mờ nhạt, ảm đạm bị thiên nhiên áp đảo, che lấp. Sự biến đổi và sáng tạo mới trong thơ của Hồ Chủ tịch đã bộc lộ tấm lòng yêu thương, gắn bó với cuộc sống lao động của nhân dân, bộc lộ sự tinh tế trong cảm nhận những vẻ đẹp của con người bình thường của Bác. Khung cảnh lao động bình thường, gian khó đã làm Người tạm quên đi những vất vả mệt nhọc để chung vui với sự tự do tự tại, dồn mối quan tâm vào những vẻ đẹp tiềm ẩn của con người trong công cuộc lao động mưu sinh đầy vất vả của nhân dân.
Ở câu thơ cuối “Ma túc bao hoàn lô dĩ hồng”, từ “hồng” được xem là nhãn tự của bài thơ, vừa đánh dấu sự chuyển mình của thiên nhiên từ chiều tối sang tối hẳn, vừa trở thành điểm sáng xua tan đi cái khung cảnh lạnh lẽo, ảm đạm của núi rừng trong cả bài thơ, mang đến sự ấm áp cho toàn bộ cảnh vật đồng thời cũng sưởi ấm tấm lòng của nhà thơ. Có thể nói rằng trong khi tác giả đương cảm thấy trống trải, cô đơn nơi đất khách quê người thì chính hình ảnh lò than rực hồng cùng với con người say mê lao động đã kịp thời sưởi ấm tâm hồn của tác giả bằng hơi ấm của tình người, cho tác giả cảm giác của sự sum họp, đoàn viên quý giá. Điều đó đã bộc lộ những vận động rất tích cực trong tâm hồn người tù cách mạng, niềm tin vào cuộc sống, vào tương lai chưa từng bị những cái gông xiềng, cảnh tù đày làm mai một, mà tùy thời nó lại càng trở nên sáng rõ. Bác luôn hướng lòng mình về với sự sống con người trong lao động, hướng về hơi ấm tình người, tìm kiếm nó giữa núi rừng bao la bằng một tinh thần lạc quan và yêu đời, dung hòa với thiên nhiên, không bao giờ coi cảnh rừng rú thành chỗ ghê người sợ hãi mà trái lại nhân cảnh ấy Người lại tìm và khai thác được những nét đẹp tinh tế, mới mẻ.
Chiều tối là môt trong số những bài thơ hay xây dựng hình tượng người chiến sĩ cách mạng từ những tình cảm chan hòa tha thiết với thiên nhiên và tấm lòng sâu nặng, gắn bó với nhân dân. Thể hiện lý tưởng cách mạng cao đẹp của người chiến sĩ, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, tù đày hay tự do thì vẫn luôn vững lòng tin vào tương lai, một lòng muốn cống hiến sức mình cho Tổ quốc, cho nhân dân không hề nao núng, mệt mỏi dẫu đó là một chặng đường nhiều gian nan, vất vả.
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Văn học – Tài liệu của ABC Land.

Xem thêm:  Nhận định bóng đá Việt Nam UAE

#Cảm #nhận #của #anh #chị #về #hình #ảnh #người #chiến #sĩ #cách #mạng #trong #bài #thơ #Chiều #tối #của #Hồ #Chí #Minh

Hình tượng người lính cách mạng trong bài Chiều tối
Hình tượng người lính trong bài Chiều tối – Nêu cảm nhận của em về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh. Sau đây là tổng hợp một số bài văn mẫu hay về vẻ đẹp người chiến sĩ cách mạng trong bài Chiều tối đã được ABC Land sưu tầm xin chia sẻ đến bạn đọc cùng tham khảo.
Top 11 mẫu cảm nhận bài thơ Chiều tối siêu hay
Chiều tối (Mộ) là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Hồ Chí Minh được sáng tác trên hành trình chuyển lao từ Tĩnh Tây đi Thiên Bảo, vào khoảng bốn tháng sau khi Người bị bắt. Dưới đây là bài văn cảm nhận về hình tượng người lính cách mạng trong bài Chiều tối.
1. Cảm nhận hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh) và Từ ấy (Tố Hữu)
Hồ Chí Minh và Tố Hữu là hai nhà thơ cách mạng lớn của nền văn học Việt Nam thế kỷ 20. Gặp gỡ trong cảm hứng thi ca cách mạng, bài thơ Chiều tối của Hồ Chí minh và Từ ấy của Tố Hữu đã khắc họa đậm nét hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong bước tù đày nhưng vẫn hiên ngang, tràn trề sức sống, lạc quan, yêu đời, hướng đến tương lai.
Hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh.
Bài thơ Chiều tối ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt khi Hồ Chí Minh sang Trung Quốc tranh thủ sự viện trợ của phe Đồng minh cho Cách mạng việt Nam. Khi đến Quảng Tây thì Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. Vì không có chứng cớ khép tội nên chúng không thể đưa ra xét xử. Chúng đã hành hạ Người bằng cách giải đi khắp các nhà lao của tỉnh Quảng Tây trong hơn một năm trời nhằm tiêu diệt ý chí của người chiến sĩ cách mạng.
Bài thơ này cũng giống như nhiều các sáng tác khác được viết trên hành trình chuyển lao, chuyển từ nhà lao Tĩnh Tây đi nhà lao Thiên Bảo, vào khoảng bốn tháng sau khi Người bị bắt. Tác phẩm là bức chân dung tự họa của con người tù-chiến sĩ Hồ Chí Minh ở thời điểm gian nan thử thách nhất trên con đường cách mạng.
Đó là người chiến sĩ cách mạng có tâm hồn rộng mở, phóng khoáng, đón nhận vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên núi rừng:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Bức tranh thiên nhiên cảnh chiều mở ra ở cả chiều cao, chiều rộng của không gian và được vẽ bằng những nét phác họa đơn sơ, với những hình ảnh đậm đà sắc màu cổ điển như: “cánh chim” và “chòm mây”, có chút buồn vắng, quạnh hưu những vẫn thanh thoát, ấm áp hơi thở của sự sống.
Qua bức tranh thiên nhiên đó cho thấy nhân vật trữ tình là con người tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết, vượt lên trên cảnh ngộ tù đày. Dù cổ đang bị deo gông, chân tay bị xiềng xích, thân thể rã rời, mệt mỏi sau một ngày chuyển lao nhưng người tù-người chiến sĩ Hồ Chí Minh vẫn quên đi cảnh ngộ của bản thân mình để ngẩng cao đầu dõi theo một cánh chim chiều bay về tổ, một chòm mây lững lờ trên bầu trời.
Đó cũng là người chiến sĩ có tấm lòng nhân đạo, bao la, yêu thương, quan tâm chia sẻ với con người lao động, một tâm hồn luôn hướng về sự sống và ánh sáng :
Cô em xóm núi xay ngô tốiXay hết lò than đã rực hồng
Dù vẫn phải tiếp tục chuyển lao trong cảnh trời tối, giá lạnh nơi miền sơn cước nhưng người chiến sĩ ấy đã quên đi nỗi nhọc nhằn của riêng mình, hướng về cuộc sống của người dân lao động với cô gái trẻ nơi xóm núi đang xay ngô và lò than rực hồng đã đỏ để cảm thông, chia sẻ, ấm áp, vui lây niềm vui lao động của con người.
Bút pháp khắc hoạ chân dung người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối là bút pháp gợi tả, những hình ảnh đậm đà màu sắc cổ điển mà vẫn thấm đẫm tinh thần hiện đại, bởi hình tượng thơ vận động từ tối đến sang, từ buồn đến vui, coi con người là trung tâm, là chủ thể của đối tượng phản ánh.
Vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng hiện qua bức tranh cảnh vật thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt lao động của con người. Đó là con người ung dung, hoà hợp với thiên nhiên nhưng vẫn luôn trong tư thế làm chủ hoàn cảnh, hướng về con người, sự sống và ánh sáng, chất thi sĩ và chất chiến sĩ hoà quyện làm một.
Hình tượng người chiến sĩ trong bài Từ ấy của Tố Hữu:
Bài thơ Từ ấy ra đời đánh dấu một một bước ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Tố Hữu. Ngày nhà thơ được kết nạp vào Đảng cộng sản, đứng vào hàng ngũ những người cách mạng chiến đấu vì một lí tưởng chung, ông đã viết bài thơ này. Đặt trong hoàn cảnh sáng tác ấy, bài thơ đã cho thấy tình yêu, niềm say mê với lí tưởng cách mạng và lẽ sống cao đẹp làm nên vẻ đẹp hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ.
Vào cuối những năm ba mươi của thế kỉ XX cũng như nhiều thanh niên khác, Tố Hữu đã từng:
“Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đờiVẩn vơ theo mãi vòng quanh quẩnMuốn thoát, than ôi, bước chẳng rời”
(Nhớ đồng)
Trong khi đang bế tắc về đường lối, nhà thơ may mắn hơn nhiều người khác khi sớm bắt gặp lí tưởng Cách mạng và trở thành con người của Đảng. Niềm vui sướng, sự say mê mãnh liệt trong thời khắc quan trọng quyết định bước ngoặt của cuộc đời và sự nghiệp được Tố Hữu diễn tả chân thành trong khổ thơ đầu của bài thơ:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chói qua timHồn tôi là một vườn hoa láRất đậm hương và rộn tiếng chim
Lí tưởng chính là ánh nắng hạ rực lửa, là mặt trời chói sáng, soi rọi giúp cho nhà thơ nhận ra con đường đi đến với chân lí, lẽ phải, công bằng, niềm tin, hi vọng. Lí tưởng còn hồi sinh, chỉ đường, đem đến cảm xúc mới, sức sống mới cho nghệ thuật, thơ ca của người chiến sĩ.
Không chỉ có tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với lí tưởng Cộng sản, người Người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy còn là người người chiến sĩ có lẽ sống nhân đạo cao đẹp. Con người ấy từ khi được giác ngộ lí tưởng, ý thức rằng cuộc sống và nghệ thuật thơ ca của mình không thuộc về cá nhân mình nữa mà thuộc về quần chúng cần lao và cuộc đấu tranh chung của dân tộc:
Tôi buộc lòng tôi với mọi ngườiĐể tình trang trải với trăm nơiĐể hồn tôi với bao hồn khổGần gũi nhau thêm mạnh khối đời.
Người chiến sĩ đã tự nguyện đem cái “tôi” nhỏ bé của mình gắn kết với cuộc đời để tạo nên sức mạnh đoàn kết, tranh đấu. Người chiến sĩ cũng ý thức rằng mình sẽ là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình cách mạng của những người lao khổ, bị áp bức, chiến đấu vì một lí tưởng cao đẹp.Nhà thơ tự nhận mình là “con”, “em”, “anh” trong đại gia đình ấy.
Hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy được khắc họa qua cách miêu tả trực tiếp bằng những cảm nhận của nhân vật trữ tình khi bắt gặp ánh sáng của lí tưởng, hoặc những lời ước nguyện, lời thề quyết tâm chiến đấu vì lí tưởng chung. Bài thơ làm hiện lên chân dung của một cái “tôi” chiến sĩ không cách biệt, trốn tránh cuộc đời như cái “tôi” thơ mới. Cái” tôi” trong bài thơ Từ ấy trẻ trung, hăm hở, nhiệt huyết, tràn đầy tình yêu, niềm say mê với lí tưởng cộng sản, sống có trách nhiệm với cuộc đời, với nhân dân đau khổ bị áp bức, với cuộc đấu chung của dân tộc.
2. So sánh hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ
* Điểm tương đồng:
Hình tượng người chiến sĩ trong bài Từ ấy và bài Chiều tối đều là những người chiễn sĩ nhưng có tâm hồn thi sĩ. Cả hai đều là người chiến sĩ trong thời đại mới kiên cường chiến đấu vì lí tưởng, có tâm hồn tinh tế nhạy cảm trước những biến thái tinh vi của cuộc sống, có trái tim giàu tình yêu thương, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu nhân dân…
Do được trang bị thế giới quan, nhân sinh quan Cộng sản nên người chiến sĩ trong hai bài thơ còn là những người có cái nhìn biện chứng, lạc quan trước sự vận động của cuộc sống và cách mạng.
Điểm khác biệt:
Người chiến sĩ trong bài thơ Chiều tối là người đang trong cảnh ngộ bị giam cầm. Đó là một bậc lão thành cách mạng, từng trải trên con đường đấu tranh có cảm xúc thâm trầm, sâu sắc.
Còn người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy là người thanh niên 18 tuổi, mới được kết nạp Đảng, đang được tự do hoạt động Cách mạng. Bài thơ Từ ấy là tiếng lòng của người chiến sĩ trẻ tuổi, tinh thần phơi phới lạc quan, đầy nhiệt huyết.
3. Ý nghĩa của hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ:
Đối với đương thời, hình tượng người chiến sĩ trong bài Từ ấy và Chiều tối thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn, tư thế hiên ngang bất khuất và niềm tin không gì lay chuyển nổi vào tương lai tất thắng của Cách mạng. Do vậy hai bài thơ không chỉ là tiếng lòng của hai nhà thơ- chiến sĩ mà còn là sự cổ vũ tinh thần to lớn cho các thế hệ người Việt Nam đang đấu tranh để giành độc lập, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân.
Cho đến hiện nay, mặc dù hai bài thơ ra đời cách đây đã gần 80 năm nhưng khi đọc lại bài thơ, những hình ảnh thơ tươi sáng, giọng thơ đầy nhiệt huyết và nhất là hình ảnh người chiến sĩ cách mạng kiên cường,giàu tình yêu thương sẽ mãi là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn cho các thế hệ thanh niên Việt Nam hiện nay và mai sau.
Tìm hiểu hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ, mỗi chúng ta sẽ rút ra được nhiều bài học có giá trị nhân văn sâu sắc: dù trong hoàn cảnh nào, nhất là những hoàn cảnh khó khăn nhất con người cần phải giữ có ý chí, nghị lực, vượt lên trên hoàn cảnh, hướng về tương lai và những điều tốt đẹp. Đó là sức mạnh tinh thần to lớn để ta có thể chiến thắng bản thân vượt lên trên hoàn cảnh, sống có ích cho bản thân , gia đình và xã hội.
Kết bài:
Bằng những lời thơ chân thành, tinh tế cả hai bài thơ đã dựng lên bức chân dung đẹp đẽ về tinh thần, nhân cách của những người chiến sĩ. Mỗi người mang trong mình những vẻ đẹp riêng, làm phong phú thêm bức tranh tâm hồn của người chiến sĩ. Nhưng đồng thời ở họ còn ánh lên vẻ đẹp chung đó là lòng yêu nước nồng nàn.
2. Vẻ đẹp của hình tượng người chiến sĩ Cách mạng trong bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh)
Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kiệt xuất, tài ba bậc nhất của dân tộc. Song hành với sự nghiệp chính trị, quân sự thì về mảng thơ ca sáng tác Người cũng để lại cả một gia tài các tác phẩm đồ sộ về nhiều thể loại, trong đó Nhật ký trong tù là một trong những sáng tác thơ tiêu biểu thể hiện được nhiều khía cạnh trong tâm hồn người chiến sĩ lúc cảnh ngặt nghèo. Đặc biệt được thể hiện qua bài thơ Chiều tối (Mộ).
Với Chiều tối, đây là một sáng tác được ra đời trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt, khi Bác bị bắt tại biên giới Trung Quốc rồi bị chuyển qua hơn 30 nhà tù Tưởng Giới Thạch. Sự đày đọa của gông xiềng, mệt nhọc đường dài, nỗi cô đơn nơi đất khách quê người, thế nhưng không tài nào giết chết được tâm hồn lạc quan, yêu đời, yêu thiên nhiên, trung thành với cách mạng và hướng về sự sống, hơi ấm tình người của nhân vật.
Giữa cảnh núi non hiểm trở, vào một buổi chiều tối quạnh hiu Người vẫn nhìn ra được nhưng vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, con người bằng một đôi mắt nhiều xúc cảm.
“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụCô vân mạn mạn độ thiên không”
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”
Với những chất liệu quen thuộc trong thi ca cổ điển như cánh chim chiều hay chòm mây bay lơ lửng trên nền trời, Người đã nhẹ nhàng gợi ra một khung cảnh chiều tối hiu quạnh và vắng vẻ, dễ khiến người ta buồn lòng, đặc biệt là đưng lúc rơi vào cảnh khốn khổ. Thế nhưng Hồ Chí Minh không phải là một nhà thơ cổ điển, Người chỉ mượn cái chất cổ điển ấy và hiện đại nó lên để làm cho thơ ca của mình có nhiều điểm nhấn. Bởi lẽ tâm hồn người tù chính trị lúc này đây không chỉ đơn thuần là thấy cánh chim mà còn cảm nhận được sự vận động, trạng thái của nó. Đó là một cánh chim đang tìm về rừng trú ngụ, tìm về mái nhà, tổ ấm thân thương của nó sau một ngày dài lao động vất vả, mệt nhọc và nhà thơ cũng tìm thấy một sự tương quan sâu sắc giữa mình và cánh chim ấy. Bác cũng đương trong cảnh mệt mỏi, rệu rã sau một ngày đường trường vất vả. Chính vì vậy với tâm hồn nhân hậu và thấu hiểu, Người đã không nhìn cánh chim bằng đôi mắt của cổ nhân rằng cánh chim ấy lẻ loi cô độc, mất phương hướng, mà trái lại Người đã khéo léo cho nó được tìm về với tổ ấm, về với gia đình. Cũng từ từ đây ta lại nhìn nhận rõ được nỗi lòng của tác giả, sự buồn tủi của một người con xa xứ, luôn mong nhớ có một ngày được trở về mảnh đất quê hương, nhưng hiện tại điều ấy còn nhiều gian nan, thế nên Người đành tạm gửi niềm hy vọng vào cánh chim, để tin rằng từ quá khứ đến hiện tại cánh chim cuối cùng cũng có được một chốn đi về, thì bản thân người chiến sĩ cách mạng cũng sẽ có được ngày ấy.
Với hình ảnh chòm mây, xét về tính cổ điển thì cũng tương tự như cánh chim trời, cổ nhân thường dùng mây để diễn tả ước mơ được phiêu diêu tự tại, sống cuộc đời thoát ly trần thế, cùng với những xúc cảm bâng khuâng của con người trước thiên nhiên, vũ trụ vô tận. Tuy nhiên vào thơ Hồ Chí Minh, chòm mây trở nên hiện đại và duy vật hơn, Người đưa nó về thực tế để diễn tả tinh thần lạc quan, yêu đời yêu thiên nhiên của mình. Trong cảnh tù đày gông xiềng quấn thân, nhưng nhà thơ vẫn cảm nhận được sự ung dung, tự tại của chòm mây trên nền trời lúc sẩm tối, mở ra một khung cảnh trong trẻo khoáng đạt giữa núi rừng bao la.
Có thể nói rằng hiếm có được con người nào mà trước cảnh ngộ khốn khổ, rệu rã như Bác nhưng vẫn có tâm trạng thi vị, tự tìm cho mình thú vui quan sát mây trời thiên nhiên, từ một cánh chim vụt qua đến cả một chòm mây lững lờ trên nền trời, rồi gán cho nó những xúc cảm tích cực như vậy. Tuy nhiên trong cách nhìn và tả mây trời, Người vẫn bộc lộ những nỗi buồn tủi, sự cô đơn lạc lõng trên đất khách quê người, nỗi niềm mong mỏi được đoàn tụ với quê hương Tổ quốc lại càng thêm sâu sắc. Tuy nhiên đó không phải là những cảm xúc bất lực, khổ đau mà trái lại nó là những tình cảm mà bất kỳ con người nào cũng có, với Bác nó trở thành động lực để cho Người phấn đấu thoát khỏi cảnh gông xiềng khốn khổ, quay về phục vụ cho Tổ quốc, nhân dân.
“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túcBao túc ma hoàn lô dĩ hồng”
Dịch thơ:
“Cô em xóm núi xay ngô tốiXay hết lò than đã rực hồng”
Trong hai câu thơ tiếp, từ bức tranh thiên nhiên rộng lớn, tầm mắt Người đã tìm thấy một bức tranh lao động đầy sức sống của con người giữa rừng già, điều ấy làm cho tổng thể bài thơ trở nên sáng và ấm áp tình người hơn cả. Đồng thời qua đó vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng lại càng được bộc lộ rõ hơn ở nhiều khía cạnh khác. Với hình ảnh xay ngô tối, một công việc rất đỗi đời thường, nhưng vào trong thơ của Hồ Chí Minh ta nhận thấy được những vẻ đẹp mang tính nghệ thuật, từ công việc lao động vất vả, nặng nhọc, người ta nhận ra sự sung sức, đức tính chăm chỉ cần cù, miệt mài của tuổi trẻ trong lao động.
Đặc biệt là hình ảnh “cô em xóm núi” xay ngô là một hình ảnh hiện đại và hay, người phụ nữ dần dà đã trở nên mạnh mẽ, tham gia vào những công việc mà trước đây vốn dĩ dành cho nam giới, bộc lộ sự bình đẳng của con người trong xã hội, sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, khả năng độc lập trong công cuộc mưu sinh.
Bên cạnh đó hình ảnh cô gái xay ngô còn thể hiện được quan niệm thẩm mỹ mới mẻ, hiện đại trong thơ ca Hồ Chí Minh, khi hình ảnh con người trong lao động đã hoàn toàn vụt sáng và nổi bật hẳn lên giữa núi rừng bao la, biến một khung cảnh vốn lạnh lẽo quạnh hiu, trở nên có sức sống và tràn ngập hơi ấm tình người.
Con người lao động trở thành trung tâm, là điểm nhấn đặc sắc, khác hẳn với hình ảnh con người trong thơ ca cổ điển luôn mờ nhạt, ảm đạm bị thiên nhiên áp đảo, che lấp. Sự biến đổi và sáng tạo mới trong thơ của Hồ Chủ tịch đã bộc lộ tấm lòng yêu thương, gắn bó với cuộc sống lao động của nhân dân, bộc lộ sự tinh tế trong cảm nhận những vẻ đẹp của con người bình thường của Bác. Khung cảnh lao động bình thường, gian khó đã làm Người tạm quên đi những vất vả mệt nhọc để chung vui với sự tự do tự tại, dồn mối quan tâm vào những vẻ đẹp tiềm ẩn của con người trong công cuộc lao động mưu sinh đầy vất vả của nhân dân.
Ở câu thơ cuối “Ma túc bao hoàn lô dĩ hồng”, từ “hồng” được xem là nhãn tự của bài thơ, vừa đánh dấu sự chuyển mình của thiên nhiên từ chiều tối sang tối hẳn, vừa trở thành điểm sáng xua tan đi cái khung cảnh lạnh lẽo, ảm đạm của núi rừng trong cả bài thơ, mang đến sự ấm áp cho toàn bộ cảnh vật đồng thời cũng sưởi ấm tấm lòng của nhà thơ. Có thể nói rằng trong khi tác giả đương cảm thấy trống trải, cô đơn nơi đất khách quê người thì chính hình ảnh lò than rực hồng cùng với con người say mê lao động đã kịp thời sưởi ấm tâm hồn của tác giả bằng hơi ấm của tình người, cho tác giả cảm giác của sự sum họp, đoàn viên quý giá. Điều đó đã bộc lộ những vận động rất tích cực trong tâm hồn người tù cách mạng, niềm tin vào cuộc sống, vào tương lai chưa từng bị những cái gông xiềng, cảnh tù đày làm mai một, mà tùy thời nó lại càng trở nên sáng rõ. Bác luôn hướng lòng mình về với sự sống con người trong lao động, hướng về hơi ấm tình người, tìm kiếm nó giữa núi rừng bao la bằng một tinh thần lạc quan và yêu đời, dung hòa với thiên nhiên, không bao giờ coi cảnh rừng rú thành chỗ ghê người sợ hãi mà trái lại nhân cảnh ấy Người lại tìm và khai thác được những nét đẹp tinh tế, mới mẻ.
Chiều tối là môt trong số những bài thơ hay xây dựng hình tượng người chiến sĩ cách mạng từ những tình cảm chan hòa tha thiết với thiên nhiên và tấm lòng sâu nặng, gắn bó với nhân dân. Thể hiện lý tưởng cách mạng cao đẹp của người chiến sĩ, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, tù đày hay tự do thì vẫn luôn vững lòng tin vào tương lai, một lòng muốn cống hiến sức mình cho Tổ quốc, cho nhân dân không hề nao núng, mệt mỏi dẫu đó là một chặng đường nhiều gian nan, vất vả.
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Văn học – Tài liệu của ABC Land.

Back to top button